Diễn đàn lý luận

Nguyễn Bính, người gọi hồn quê

Hữu Thỉnh
Lý luận phê bình 07:00 | 28/12/2025
Baovannghe.vn - Đó là Nguyễn Bính. Một hiện tượng độc đáo của Thơ Mới. Một trong những thi sĩ có lượng độc giả lớn nhất của thơ ca quốc ngữ. Mê thơ Ông là những thầy giáo, những cô hàng xén, những viên chức, cho đến cả những ông thợ ngoã thợ nề, những thợ xếp cối xay...
aa

Người có khả năng tạo nên một quỹ đạo thơ riêng với bí mật của tạo hóa. Tiếng tăm của Ông thật lừng lẫy, ảnh hưởng của Ông thật xa rộng. Với giải thưởng của Tự lực văn đoàn tặng cho tập thơ đầu tay TÂM HỒN TÔI, Nguyễn Bính bước lên văn đàn với một tài năng đột sáng năm ông 19 tuổi.

Nguyễn Bính, người gọi hồn quê
Nguyễn Bính. Một hiện tượng độc đáo của Thơ Mới

Con người có biệt tài ấy, cuộc đời lại quá nghiệt ngã đối với Ông. Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo. Mồ côi mẹ mới hơn 3 tháng tuổi, thủa nhỏ học với cha và cậu, từ chữ Hán chuyển sang chữ Quốc ngữ, Nguyễn Bính không được học qua một ngôi trường danh giá nào. Hơn 10 tuổi, từ làng quê Nam Định lên ở với anh tại thị xã Hà Đông. Bắt đầu tiếp xúc với văn hoá Pháp. Tự kiếm sống và làm thơ. Một người mới 9 tuổi đã có thể chữa thơ cho một đám thanh niên đàn anh trong một cuộc đối đáp thi tài, người ấy hẳn đã được trời phú cho một thiên bẩm đặc biệt. May mắn duy nhất đối với Ông là được sống trọn tuổi thơ ở một vùng quê tiêu biểu của văn hoá Bắc Bộ. Những đám hội, những đêm chèo, những cảnh lễ tết đầy phong vị cổ xưa và những cảnh lam lũ của cuộc sống ở thôn quê... tất cả đã lặn vào trong máu, nẩy mầm trong tiềm thức, ra đưa trong kỉ niệm, vừa là hồn cốt vừa là không gian tinh thần của nhà thơ. Ở đó, tất cả đã nhập làm một thành chủ thể sáng tạo. Đến mức, ông chỉ cần cất lên một tiếng xao động của hồn ông là đã thấy hồn vía của quê hương ở trong đó. Từ nhập thân đến hoá thân đó là con đường của một thi sĩ. Nhưng thi sĩ kiểu gì mới là điều quan trọng?
Vào những năm Nguyễn Bính viết những bài thơ đầu tay, xã hội Việt Nam đang trong quá trình Âu hoá, quá trình này phủ chụp lên toàn bộ cuộc sống từ thành thị đến thôn quê. Đồng thời với cảnh bút sắt thay bút lông là cái cảnh “cúc cài khuy bấm em làm khổ tôi”. Mọi giá trị đều thay đổi. Yêu cầu giải phóng cá nhân liên tục tấn công vào các pháo đài của lễ giáo phong kiến. Trong bối cảnh đó, Thơ Mới rút lui vào bản thể, truy tìm bản thể trong sự bế tắc:
Tôi có chờ đâu có đợi đâu

Ai đem xuân đến chỉ thêm sầu

Với tôi tất cả đều vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau

(Chế Lan Viên)

Ngược lại, Nguyễn Bính trở về với dân tộc, trở thành người đi gọi hồn quê. Người tìm thấy ở đó biết bao rung động thiết tha về những gì đã làm nên cái lung linh tao nhã của cả một thời. Vẫn là tình yêu, nhưng đây là thứ tình yêu e ấp, duyên dáng tình tứ với biết bao vẻ đẹp nền nã, xao xuyến lòng người:

Láng giềng đã đỏ đèn đâu

Chờ em ăn dập miếng giầu em sang

Đôi ta cùng ở một làng

Cùng chung một ngõ vội vàng chi anh

Em nghe họ nói mong manh

Hình như họ biết chúng mình với nhau

Nó thật khác xa với thứ tình yêu cuống quýt nặng về chiếm đoạt và sở hữu trong thơ Xuân Diệu:

“Mau với chứ, vội vàng lên với chứ

Em, em ơi, tình non đã già rồi...”

Nguyễn Bính diễn tả mọi ngõ ngách và cung bậc của tình yêu với điệu cảm dân dã và chứa chan thi vị. Cũng trách móc, cũng nghi ngờ nhưng là cái nghi ngờ, trách móc của một người nhà quê tuy xa mà gần, mộc mạc mà sâu lắng:

“Bảo rằng cách trở đò giang

Không sang là chẳng đường sang đã đành

Nhưng đây cách một đầu đình

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...”

Thật là ý vị. Đọc thơ người ta nhận ra ngay đây là ngôn ngữ, điệu cảm của người nhà quê. Nó khiến cho bao nhiêu người bắt gặp mình trong đó. Ấy là chỗ tài tình của tác giả. Rồi đến cách nói tưởng không mà hoá có, tưởng từ chối mà hoá ra chấp nhận:

Nhà em cách bốn quả đồi

Cách ba ngọn suối cách đôi cách rừng

Nhà em xa cách quá chừng

Em van anh đấy, anh đừng yêu em

Thật đúng là có lời ở sau lời, có chữ ở sau chữ, có bao nhiêu tình ý ở sau mỗi câu thơ. Nguyễn Bính rất dồi dào về thi liệu, rất tinh tế về cảm nhận, đặc biệt ông rất giỏi nắm bắt cái ngữ điệu, sắc thái trong cách biểu cảm của người nhà quê. Ông đưa lời ăn tiếng nói của họ vào thơ thật tự nhiên đến mức có lúc ta “quên thơ đi để chỉ còn cảm thấy có tình người” – (Tố Hữu).

Nguyễn Bính rất có duyên với thể thơ lục bát. Cứ tưởng rằng, sau cái trác tuyệt của Truyện Kiều, thì không ai còn có thể vượt ra khỏi quỹ đạo của Nguyễn Du, bởi vì lục bát đã được đưa đến đỉnh cao chói lọi rồi. Nhưng đến Nguyễn Bính, thể thơ lục bát lại mang vẻ nâu sồng dân giã đặc biệt giọng quê:

Hôm nay dưới bến xuôi đò

Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau

Anh đi đấy, anh về đâu?

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm

Cái điệp khúc thật là sáng tạo. Nó nói sự xê dịch của màu sắc và sự dõi theo của hồn người. Đó là lần duy nhất trong thơ lục bát có một điệp từ thành công đến như vậy.

Trong lúc các nhà Thơ Mới mải mê Âu hoá, Nguyễn Bính ngược dòng trở về với dân tộc, tự mình làm một mảng thơ riêng. Đây là sự lựa chọn sống còn đối với một đời thơ. Tập TÂM HỒN TÔI được giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn năm 1937, phải đợi đến 6 năm sau, Đảng mới công bố Đề cương văn hoá 1943 với ba phương châm: Dân tộc, Khoa học, Đại chúng. Từ đó mới thấy Nguyễn Bính tỉnh táo và sáng suốt biết nhường nào.

Nặng lòng với dân tộc thì trước sau sẽ đi với Cách mạng. Trong đời mình, Nguyễn Bính vào Nam ra Bắc nhiều lần. Con đường mưu sinh của Ông chật vật nhưng cũng đem lại cho Ông những thu hoạch quý, đó là vốn sống và tầm nhìn về cuộc sống của nhân dân. Nguyễn Bính tham gia Cách mạng tháng Tám ở Rạch Giá, làm Phó Chủ nhiệm Việt Minh của tỉnh rồi sau này chuyển về làm cán bộ chủ chốt của Văn nghệ khu Tám, đường cách mạng và đường thơ là một.

Bài thơ Tiểu đoàn 307 ra đời đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong đời thơ của Nguyễn Bính. Một người đã từng viết những bài thơ tình tứ đến thế lại có thể sáng tác một bài thơ đầy hào khí đến vậy. Cách mạng đã khơi dậy những tiềm năng lạ lùng của Nguyễn Bính. Với Nguyễn Bính, cách mạng là cái có sẵn ở trong mình, nó đi vào đời sống nội tâm với biết bao nhiệt huyết. Do vậy, Ông không phải mất thời gian “nhận đường” khi đi vào kháng chiến. Trước cuộc sống mới sôi động, dữ dằn, nhà thơ tự nguyện hi sinh cái cá nhân hiu hắt lẻ loi. Những chuyện xê dịch bơ vơ, những nỗi buồn vô cớ đã trở thành câu chuyện nước chẩy qua cầu. Cuộc sống mới được nhận diện bằng sự hy sinh cao cả và sức vươn lên vạm vỡ là chủ đề trong hàng loạt sáng tác của Nguyễn Bính thời gian này, đó là các tập “ÔNG LÃO MÀI GƯƠM”, “ĐỒNG THÁP MƯỜI”, “SÓNG BIỂN CỎ”. Nhà thơ nhận ra chân trời mới của thi ca và chân trời thi ca cũng đón nhận một chân dung xác thực của thi sĩ kiểu mới. Nguyễn Bính vẫn là thi sĩ của hồn quê, nhưng là hồn quê trong tranh đấu.

Tập kết ra Bắc là một câu chuyện xé lòng. Đối với Nguyễn Bính, đất nước chia cắt không phải là chuyện chia đôi trên bản đồ hành chính mà là sự giằng xé kẻ ở người đi ngay trong tổ ấm của mình. Người đọc nhận ra có biết bao nhiêu khổ đau, bao nhiêu tiếng nức nở trong Trả ta về, Tình nghĩa đôi ta, Người vợ miền Nam, Đêm sao sáng. Nguyễn Bính trở thành một trong những nhà thơ hay nhất viết về đề tài đấu tranh thống nhất đất nước:

Sao đặc trời, sao sáng suốt đêm

Sao đêm chung sáng chẳng chia miền

Trời còn có bữa sao quên mọc

Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em.

Nguyễn Bính viết nhiều và viết rất đều. Ông không có sự gián đoạn trong sáng tác. Gần hai mươi tác phẩm, ngoài thơ Ông còn viết truyện và kí văn học. Cái gì cần cho cách mạng, là Nguyễn Bính có mặt. Con người sống với những hoài bão lớn, luôn luôn có ý thức nâng mình lên để bắt kịp với đời sống. Bài thơ Xây nhà máy và Câu chuyện quê hương là những gửi gắm biết bao yêu thương và tin tưởng vào cuộc sống lớn lao của dân tộc. Trong Câu chuyện quê hương, Nguyễn Bính một lần nữa trở về với những giai thoại, cổ tích, những cảnh những người từng làm rung động biết bao tâm hồn khi còn ở tuổi ấu thơ. Hồn quê ở đây rộng lớn và khái quát hơn, nó mang vẻ đẹp và sức mạnh tiềm ẩn của cả một dân tộc. Bài thơ này tôi được nghe lần đầu tiên khi cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã mở rộng ra toàn miền Bắc. Lại một lần nữa, mọi năng lượng tinh thần của dân tộc được huy động và làm sống dậy trong một cuộc đọ sức vô cùng tàn bạo và nguy hiểm. Trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù hung hãn nhất của thời đại, ta thấy Nguyễn Bính đang có mặt ở đâu đó, sát gần bên mỗi chúng ta, thúc giục và tiếp sức cho tất cả mọi người.

Ông mất năm 48 tuổi! Cái tuổi còn quá trẻ đối với một thi nhân.

Nhưng ảnh hưởng của Nguyễn Bính thì còn mãi. Còn với những người yêu thơ, làm thơ. Còn với tất cả những ai tha thiết với nền văn hoá của dân tộc. Rồi đây, nhiều giá trị cũ sẽ bị thay thế. Nhiều giá trị mới sẽ được bổ sung. Diện mạo đất nước sẽ có biết bao thay đổi. Nhưng bất cứ ai muốn trở về quá khứ để tìm lại vẻ đẹp lộng lẫy của hồn quê, cảnh quê nhất định phải lật giở những trang thơ của Nguyễn Bính. Nguyễn Bính - chiếc gạch nối mầu nhiệm và bền vững giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.

Hà Nội, ngày 9/8/2021

------------------

Bài viết được rút từ tập "Ám ảnh chữ" của nhà thơ Hữu Thỉnh

Triền lau sậy - Thơ Nguyễn Lãm Thắng

Triền lau sậy - Thơ Nguyễn Lãm Thắng

Baovannghe.vn- Vòng quanh tiếng rêu/ ta như loài ễnh ương quên ngủ
Heo may chạm ngõ - Thơ Tân Quảng

Heo may chạm ngõ - Thơ Tân Quảng

Baovannghe.vn- Heo may đã chạm ngõ ngoài/ nửa đêm lác đác rụng vài hạt mưa
Lặng - Thơ Lê Khắc Dinh

Lặng - Thơ Lê Khắc Dinh

Baovannghe.vn- Thửa ruộng ngày trở dạ/ Trong làn khói đốt đồng
Công nghiệp văn hóa - Trụ cột mới cho phát triển bền vững

Công nghiệp văn hóa - Trụ cột mới cho phát triển bền vững

Baovannghe.vn - Văn hóa không chỉ là ngọn đuốc soi đường, là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là sức mạnh nội sinh, là động lực và hệ điều tiết của phát triển bền vững.
MTTQ Việt Nam: Đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động các Hội quần chúng

MTTQ Việt Nam: Đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động các Hội quần chúng

Baovannghe.vn - Sáng 8/1, tại Hà Nội, UBTƯ MTTQ Việt Nam tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động của các Hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.