Mỗi nhà thơ đem đến một phong cách, một giọng điệu khác biệt nhằm nỗ lực tạo ra một dấu ấn bản sắc riêng của mình.
1. Trước tiên, xin hãy đến với hai tập thơ mà tác giả của nó đã về miền mây trắng. Có thể xem đó là những tác phẩm cuối cùng mà họ để lại và gửi tới người đọc. Đó là các tập Thơ trong sổ tay (NXB Hội Nhà văn) của Nguyễn Thụy Kha (1949-2025) và Mùa xuân ở lại (NXB Hội Nhà văn) của Khánh Văn Trần Nhật Minh (1981-2024). Thơ trong sổ tay có thể xem như một cuốn di cảo gồm những bài thơ chưa in trong tập nào của Nguyễn Thụy Kha nhưng lại nằm trong sổ tay của họa sĩ Lê Thiết Cương, được Lê Thiết Cương tập hợp và công bố nhân dịp 49 ngày mất của nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha. Tập Thơ trong sổ tay lần này gồm 60 bài thơ viết rải rác trong khoảng 5 năm trở lại đây cùng 132 bài thơ ngắn mà Nguyễn Thụy Kha gọi là các đoản thi. Ta gặp lại thủ pháp đồng hiện trong thơ ông, chẳng hạn qua bài Hổ nhập thân: Hổ nhập thân Canh Dần/ Cào xước anh mùa hè đỏ lửa/ Hổ nhập thân Nhâm Dần/ Ngấu nghiến anh chiều thu tơi tả/ Hổ nhập thân Giáp Dần/ Sưởi ấm anh cuối đông buốt giá/ Hổ nhập thân Bính Dần/ Cô đơn anh sớm xuân chợt nhớ. Các bài thơ của ông hay có những câu thơ hạt nhân, chứa đựng cái tứ độc đáo, cái tinh thần chung của toàn bài: Cởi mùa xuân lại gặp mùa xuân (Cởi mùa xuân), Có một cách đi là không đi nữa/ Là chìm vào em là đắm vào tranh (Gặp gỡ Đà Lạt), Giờ tôi cùng anh vào cõi xa xăm/ Mang theo cả cuộc chiến tranh trong anh/ Đốt thiêu thành tro bụi (Tự bạch của mảnh bom). Những bài đoản thi của Nguyễn Thụy Kha thể hiện tinh thần tối giản trong thơ mà có lẽ ông rất tâm đắc vào những năm cuối đời: Cứ tưởng em là đàn bà/ Hóa ra em là thước/ Vừa đo anh vừa đánh đòn anh (Thước), Trời tắm Kiều/ Kiều tắm/ Thúc Sinh (Thơ 3 dòng Truyện Kiều)
Trần Nhật Minh là cây bút thuộc thế hệ đầu 8X. Cách đây 7 năm anh từng công bố tập thơ đầu tay Khúc hát cánh đồng (NXB Hội Nhà văn 2018) với lời giới thiệu của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và lời cuối sách của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên. Nếu như Khúc hát cánh đồng in dấu bước đi đầu còn không ít những bỡ ngỡ, tìm tòi của Trần Nhật Minh thì Mùa xuân ở lại khẳng định một độ chín. Đề tài trong thơ Trần Nhật Minh khá đa dạng, từ quê hương, gia đình, tình yêu đôi lứa cho đến tình bạn, thế sự, tình yêu cuộc sống. Những bài thơ cuối cùng được Trần Nhật Minh viết trên giường bệnh, thể hiện lòng khát sống cháy bỏng, cái tình thiết tha với cuộc đời cùng những dự cảm, những níu kéo: Ở ngoài ô cửa gỗ, dưới lớp ngói rêu/ Tháng Ba đã về/ Con lắng nghe tiếng chim chào mào gọi bình minh… rất khẽ/ Mỗi cựa mình của sự sống/ Làm ấm lại một chồi non! (…) Ở ngoài ô cửa rêu/ Thời gian vẫn trôi/ Có thể vắng thêm một loài hoa/ Có thể…/ Nhưng xin mẹ đừng buồn/ Trước vòng quay con tạo/ Khép lại một mặt trời/ Cho vạn vật hồi sinh! (Thư viết cho mẹ, tháng Ba).
2. Các giọng thơ nam giới đáng chú ý khác còn có Tặng vật từ tĩnh lặng (NXB Văn học) của Nguyễn Đăng Khoa, Luẩn quẩn khi yêu (NXB Hội Nhà văn) của Mai Quỳnh Nam, Sống là gì lâu quá đã quên (NXB Đà Nẵng) của Trần Tuấn và Không gì thực bằng giấc mơ (NXB Hội Nhà văn) của Hoàng Đăng Khoa.
Tặng vật từ tĩnh lặng là tập thơ thứ tư của Nguyễn Đăng Khoa, sau các tập Con đường tự trôi (NXB Văn học 2015), Một lục bát tôi (NXB Văn học 2016), Vẽ rồi bôi đi (NXB Văn học 2016). Nguyễn Đăng Khoa thuộc thế hệ gần cuối 8X, bước vào làng văn không phải là sớm nhưng đã in dấu được cá tính riêng của mình, đặc biệt với thể thơ lục bát. Tôi gọi lục bát Nguyễn Đăng Khoa là lục bát đô thị để phân biệt với nhiều gương mặt lục bát khác đã và đang nở rộ trong đời sống thơ Việt đương đại. Tập thơ lần này vẫn có khá nhiều bài lục bát với chất giọng vừa nghiêm trang vừa hài hước, vừa tung tẩy vừa sâu lắng: Một nỗi buồn bé tí ti/ Không còn hộ khẩu đang đi giữa trời (Tạm trú), Giờ không tên, phút không tên/ Mình chơi cắt dán bóng đêm với mình (Trò chơi), Muốn book một chuyến xe mưa/ Để hứng nước mắt thuở chưa ra đời (Một chuyến xe mưa). Nhưng Khoa không chỉ có lục bát. 5 chữ và 7 chữ của Khoa cũng rất đặc sắc với tư duy thơ rộng mở và trường liên tưởng bất ngờ: Bầu trời mở những cơn đau lớn/ Anh về mây gió cắn vào da/ Anh về trắng tóc như tường vắng/ Thành phố buồn như em ngồi xa/… Bầu trời mở những cơn đau lớn/ Có đàn chim bay bay bình yên/ Anh tưởng là thế thôi, như thế/ Là cách lạc loài được đặt tên (Những ngày đang giọt xuống bàn tay).
|
Mai Quỳnh Nam sinh năm 1952, thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành thời hậu chiến. Ông cũng đồng thời là một nhà khoa học, PGS.TS Xã hội học, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Xã hội học và Tạp chí Nghiên cứu con người. Các tập thơ ông xuất bản những năm gần đây, chỉ xét riêng về tên gọi đã đậm chất chuyên ngành khoa học mà bao lâu ông theo đuổi: Bước trượt (1995), Các sự việc rời rạc (2002), Phép thử thuật tư biện (2007), Biến thể khác (2012). Mai Quỳnh Nam nhiều năm qua kiên trì đi theo lối tối giản cao độ, nhiều bài thơ của ông trong tập Luẩn quẩn khi yêu chỉ có một câu duy nhất: Em là bóng trong nắng chiều trắng xóa, Trong suốt cũng nhiều khi bối rối. Có những bài hai câu: Em đi biền biệt chiều không tưởng/ nắng xoãi tình hoang loang đất đai. Có những bài ba câu: Những viên thuốc tránh thai lăn lóc trên giường/ kỷ niệm buồn thương/ của người vợ góa. Có những bài tứ tuyệt: Anh viết dở dang bài tứ tuyệt/ vắng em vườn nhạt sắc hoa hồng/ ánh chiều vàng rực màu nắng quái/ đổ xuống đôi dòng thơ bỏ không (Nắng quái). Có thể thấy, Mai Quỳnh Nam chủ trương một hình thức thơ cô đọng, nén và kiệm, nói ít mà gợi nhiều, gửi gắm các triết lý hoặc luôn chủ ý tạo một chiều sâu cho tác phẩm.
Trần Tuấn là một giọng thơ độc đáo khác, đã từng được công chúng biết đến qua hai tập thơ trước đó: Ma thuật ngón (NXB Hội Nhà văn 2008) giành giải Nhất thơ Bách Việt 2009 và Chậm hơn sự dừng lại (NXB Hội Nhà văn 2017). Có thể thấy Trần Tuấn không ham viết nhiều, cũng không ham công bố. Từ tập đầu đến tập thứ hai cách nhau 9 năm. Từ tập thứ hai đến tập thứ ba cách nhau 7 năm. Ở tập Sống là gì lâu quá đã quên, nhiều lần Trần Tuấn trình hiện bút pháp siêu thực - phi lý qua hình thức cổ điển. Thơ anh vẫn rất chú trọng tới gieo vần, nhạc tính và nhịp điệu tổng thể: Trằn mình qua lá tối/ bước đặt vào chiêm bao/ người đang chờ nơi nao/ mà tôi không rõ mặt/ trên đầu là mặt đất/ dưới chân là bầu trời/ tôi không làm sao nhớ/ tôi đang ngồi hay rơi/ mưa xuyên thủng qua tôi/ tôi của nghìn cõi trước/ mưa của buổi đêm nay/ tôi bên đường vũng nước. Trần Tuấn còn có những bài thơ thể hiện các hình thức chơi chữ thú vị như đảo chữ, điệp chữ, điệp cấu trúc, điệp ngữ âm, nói lái. Có thể kể đến các bài tiêu biểu trong tập được viết với hình thức chơi chữ như: Chẳng muốn gì chỉ muốn rằng, Có được không, Đâu, Đang, Ngồi. Bài Đâu có thể xem như một bài lục bát nhưng đã được tác giả ngắt sẵn theo nhịp 2/2 và để mỗi dòng chỉ có hai từ. Và ta có thể viết lại như sau: Đâu đây đâu đấy đâu nào/ Đâu này đâu nọ đâu vào đâu ra/ Đâu qua đâu lại đâu xa/ Đâu còn đâu mất đâu ta đâu mình/ Đâu chùa đâu kệ đâu kinh/ Đâu say đâu tỉnh đâu tình đâu đau.
Hoàng Đăng Khoa vốn được nhiều người biết đến với tư cách nhà phê bình văn học. Nhưng nhiều năm qua Hoàng Đăng Khoa còn lặng lẽ bền bỉ làm thơ. Thơ như một góc khác của anh, ở đó Hoàng Đăng Khoa cởi bỏ chiếc áo nhà phê bình mà khoác cho mình chiếc áo lãng du của chàng thi sĩ. Tập thơ Không gì thực bằng giấc mơ gồm 38 bài thì có đến gần một nửa là những bài thơ gắn với không gian rộng mở, khi bàn chân tác giả chạm tới nhiều vùng miền: Giấc Đồng Tháp, Không đề Phú Yên, Khoảng trống trong rừng, Nhật Lệ, Không khóc ở Chí Linh, Tràng Thi, Viết ở bản Sưng, Thư Đà Lạt, Tháng ba Hà Nội… Chúng ta đi theo bước chân anh và được thưởng thức không ít những câu thơ hay: chẳng có gì bền lâu/ kể cả phù vân hư ảo/ thì tự mình huyên náo/ theo cách mây Tà Xùa (Mây ở Tà Xùa), trời thì yên và đất thì phú/ anh kiết xác một đời bất ổn bất yên (Không đề Phú Yên). Hoàng Đăng Khoa chủ yếu viết thơ tự do nhưng đôi khi anh có một bài năm chữ thật thú vị như kiểu nhịp đồng dao, tung tẩy và tự nhiên, hài hước mà vẫn sâu sắc: cô đơn như miếng bánh/ xắn lên cái đĩa đêm/ tận khi nắng mai lên/ vẫn không buồn chảy nước/ tình như là sợi cước/ già néo thì đứt tay/ băng rịt suốt tháng ngày/ vẫn không buồn liền sẹo…/ chữ thiêng viết bằng máu/ cũng phai nét bay màu/ đời chẳng giữ gì lâu/ ngoài vô thường vô nghĩa (Ngẫu vận). Không gì thực bằng giấc mơ, bài được chọn làm tên chung cho cả tập có thể xem là một bài thơ tình với hai câu kết vừa bất ngờ vừa sâu lắng: người tình như bài thơ/ đọc một đời không hết.
3. Thơ nữ năm qua cũng có nhiều tập rất đáng chú ý. Ra mắt công chúng ngay từ đầu năm phải kể đến Nguyễn Thiên Ngân và tập thơ Người là một bóng chim khuê tú. Trước tập thơ này, Thiên Ngân đã có 4 tập: Mình phải sống như mùa hè năm ấy, Lạ lùng sao đớn đau này, Ôm mỏ neo nằm mộng những chân trời, Có người sực tỉnh cơn mơ. Thơ Nguyễn Thiên Ngân được các bạn trẻ đặc biệt yêu thích. Nhiều câu thơ, đoạn thơ của Thiên Ngân được chọn làm các caption, status (dòng trạng thái) với độ lan tỏa mạnh mẽ. Tôi gọi thơ Thiên Ngân là tân cổ điển bởi những hình thức quen thuộc, dễ nhớ, dễ thuộc, được viết ra bằng tâm cảm của một người trẻ đương đại. Ở tập thơ mới nhất này, đa phần các bài thơ của Ngân đều không đặt tên riêng, bài ngắn chỉ từ 2 đến 4 câu, bài dài có khi vài ba chục câu. Và rất dễ dàng chọn ra những câu thơ ngọt, sắc mà thấm: Những điều ta vẫn đi tìm/ Hóa ra đâu đó lặng im trong mình; Xin thương em thật khẽ/ Như sương mai ôm cành/ Tận khi buông tay níu/ Vẫn một lòng long lanh; Buông tay mà chẳng đành lòng/ Ngẫm ra, cũng bởi mình không tin mình. Một giọng thơ nữ khác lặng lẽ nhưng rất thấm thía day dứt là Nguyễn Thị Kim Nhung với tập Dần sáng. Trước Dần sáng, Kim Nhung đã có một tập thơ (Thức cùng tưởng tượng, 2019) và một trường ca (Từ phía sương buông, 2021). Nhà phê bình văn học Phùng Gia Thế gọi thơ Kim Nhung là thơ của tiếng nói thầm với ba đặc điểm nổi bật: nén, kiệm và gợi. Tôi thấy trong hầu hết các bài thơ của Kim Nhung đều lấp lánh những câu thơ tài hoa. Chị viết về quê hương, gia đình, mẹ cha, bè bạn gây niềm xúc động đặc biệt cho người đọc, chẳng hạn: sào tre khua chân mây/ rơi tiếng cười bầy trẻ/… những thôi đường nắng dội/ mình ngả bóng vào nhau/ cây ngả vào bóng nắng/ bóng làng ngả về đâu (làng đồi), con thay cha mời khách/ tiếng bẻ củi hẫng lòng nước sôi (bóng cha), không ai nói cách xa mà ta diệu vợi/ tiếng sóng vỗ bờ xót cả lòng sông (bóng núi không là núi). Thơ Nhung dù viết về tình bạn, tình yêu đôi lứa, tình vợ chồng, tình cảm thế sự đều rất kín đáo, nói ít mà gợi nhiều, câu thơ thường tạo ra được nhiều tầng nghĩa, nhiều sắc thái. Nhiều trường hợp thơ chị rũ bỏ vần nhưng vẫn mang đầy vẻ đẹp của nhạc tính tự nhiên: người vợ mặc lại áo/ hai vạt khép bóng đêm/ đôi vầng sáng miên man thầm tỏa/ sung một đời buông quả/ không chạm nổi đáy ao (dần sáng).
|
Một gương mặt nữ khác cùng thế hệ với Nguyễn Thiên Ngân, đồng môn với Kim Nhung là nhà thơ Lữ Mai. Chị đã xuất bản hàng chục tập thơ và trường ca. Năm vừa qua, Lữ Mai công bố một tập thơ rất đặc biệt với tên gọi Dắt nhau về cũ gồm 63 bài thơ, mỗi bài thơ gắn với một tỉnh thành. Tập thơ giống như một sự lưu dấu kỷ niệm ân tình trước công cuộc sáp nhập các đơn vị hành chính trong cả nước. Từ địa đầu Tổ quốc đến cực Nam đất Mũi đều hiện diện đầy đủ trong Dắt nhau về cũ với những phong vị riêng. Và quan trọng là nhà thơ thổi hồn vía vào cảnh vật, in dấu ấn sáng tạo cũng như cảm xúc của mình vào mỗi vùng đất chị từng đi qua: Cá linh búng trẻ con vào giấc ngủ (Mảnh trăng, viết về An Giang), Nắm đất đen thơm thơm/ lá rừng rụng về cổ họng (Mưa trong ống bương, viết về Bắc Kạn), Hồ lặng gương quên tuổi/ lạc nhịp chiều rối nước xiêu xiêu/ gió khâu rêu lệch vai tượng đá/ phố cũ vá mùi mưa (Nét thu, viết về Hà Nội). Từng địa danh trong thơ Lữ Mai không chỉ gắn với những vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp con người, phong tục tập quán mà còn mang trong nó một chiều sâu của văn hóa lịch sử, có cả ý thức công dân của một người trẻ luôn tâm niệm về trách nhiệm của thế hệ mình: mỗi ngày dõi Hoàng Sa/ bằng con mắt Lý Sơn/ ướp lặng thinh/ bằng muối (Ướp lặng thinh), Quảng Trị nơi hồi sinh tiếng đất/ trong vết bom nở hoa tím không ngờ/ thiếu nữ gánh rau ra chợ sớm/ nhìn lên/ rơm rớm/ sắc cờ (Chảy bằng tiếng gọi).
Trang Thanh là gương mặt thơ nữ cuối cùng tôi muốn nhắc đến trong năm qua với tập Trên con đường tóc (NXB Hội Nhà văn). Trước đó, chị đã từng in ba tập thơ: Bay lặng im (2008), Mây trắng (2011), Thanh không (2023) trong đó Bay lặng im giành giải thưởng Lá trầu năm 2008. Trang Thanh cũng vừa giành giải Nhất cuộc thi Thơ ca và nguồn cội với ba bài thơ: Lời một con cá nhỏ, Gửi cha, Cuối đông. Cả ba bài thơ này đều có mặt trong tập thơ Trên con đường tóc. Trang Thanh có nhiều bài thơ về quê hương nguồn cội, mang nặng những trăn trở, dằn vặt, day dứt của một đứa con xa quê. Đứa con xa quê ấy chịu không ít những bầm dập, tổn thương, lo lắng, mặc cảm, đôi khi cả tuyệt vọng. Những phức hợp cảm xúc ấy làm thơ Trang Thanh đầy những ngổn ngang, nhiều lần hiện lên với ngôn ngữ vừa trau chuốt vừa hư ảo: Mắt người rớm sương/ Chờ mắt xuân lựng giọt (Cuối đông), kiếp ấy ai người mua mây trắng/ về đốt thành tro rải đáy sông (Lời nhắn một con cá nhỏ). Phần còn lại của Trên con đường tóc là những tự sự nội tâm về nỗi cô đơn, về tình yêu lứa đôi, về đắng cay, về hạnh phúc, về hân hoan, về tuyệt vọng. Bài thơ được lấy làm tên chung cho cả tập - Trên con đường tóc, có thể xem là một đại diện tiêu biểu cho những tự sự nội tâm trong thơ Trang Thanh: người đàn bà đi trong đêm tối đen bằng tóc/ trên con đường vô tận tết bằng muôn sợi tóc rụng/ từ mái đầu nhỏ bé của nàng/ nàng nhẹ như hơi thở/ để con đường mỏng mảnh không bao giờ dứt/ cứ nối dài mãi tựa nỗi đau trong tim đang rỉ máu/ nuôi con đường chạy đến vô cùng.
|
4. Một trường hợp đặc biệt mà tôi muốn dành một phần riêng. Đó là nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, người có 2 tập thơ xuất bản trong năm qua: trường ca Lò Mổ và tập thơ Dưới bóng ô liu. Lò Mổ gồm 18 chương, là trường ca độc đáo với hai nhân vật chính là chàng trai và con bò (những con bò, đàn bò), lấy lò mổ bò làm không gian trung tâm. Hành trình của Lò Mổ là hành trình đi từ cái chết về sự sống, từ cái ác hướng về cái thiện. Chương một mở đầu với cái chết của con bò trong lò mổ dưới bàn tay đồ tể nhưng đôi mắt bò trước sau không có gì thay đổi: Đôi mắt mở dịu dàng/ Buồn bã/ Không bao giờ rơi lệ… Đôi mắt/ Mùa thu xa xôi. Những tự sự của con bò còn trải khắp trong các chương của trường ca: Tấm da nặng nề đã trút khỏi/ Con bay qua ô cửa sổ lò mổ/ Con để lại cái đầu/ Cặp sừng ngà lấp lánh/ Con để lại đôi mắt/ Ngôi sao Hôm thăm thẳm/ Con để lại chum máu/ Phần sống nóng hổi và tự tin/ Con để lại tấm da/ Trĩu buồn manh áo cũ/ Con để lại tiếng rống/ Reo ca trên cánh đồng/ Con để lại cổ họng/ Lưỡi dao buồn ngủ sâu. Tác giả viết về cái chết của con bò như một sự ra đi nhẹ nhàng, bình thản. Viết về sự sống chết của con bò mà khiến mỗi chúng ta không thôi nghĩ về đời sống của mỗi con người. Chương cuối cùng khép lại trường ca cũng là khi chú bê con được sinh ra, một sự sống nhóm lên thay thế cho cái chết: Sau tiếng rống dội vang/ Tiếng kèn hiệu/ Một chú bê được sinh ra/ Con bò gục xuống sàn đá lạnh/… Chàng nghe trái tim non nớt của con bê/ Đập rung lên từng hồi/ Quả chuông lớn nhất thế gian/ Làm tan đi những gào thét. Lò Mổ là một trình hiện thành công khi tạo ra một liên văn bản từ siêu thực đến hậu hiện đại, hòa trộn giữa hiện thực và lãng mạn huyền ảo, tạo nên một thi giới vừa bi thương vừa dữ dội mãnh liệt, dồn nén những sức nặng của tư tưởng.
Dưới bóng ô liu là tập thơ song ngữ Việt - Anh gồm 28 bài, được nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hoàn thành sau chuyến đi Palestine cách đây hai năm. Nguyễn Quang Thiều đã viết những bài thơ trong tập này bằng một khát vọng cháy bỏng về hòa bình, hóa giải những thù hận giữa các dân tộc, ước mơ dập tắt tất cả những bạo lực và khổ đau đang chà đạp lên đời sống con người. Lời kinh cho Sadeel là một trong những bài thơ tôi yêu thích nhất trong tập, như một khúc tưởng niệm cô gái Palestine bị bắn chết trong trận xung đột giữa những tay súng địa phương và quân đội Israel tháng 6/2023 ở thành phố West Bank: Ở đâu cũng thấy Sadeel/ Nằm như đang ngủ/ Và những cuốn vở/ Trong một lớp học/ Mở ra những trang tóc và máu/ - Sadeel, Sadeel, ôi em/ Ô liu sẽ lại nở đầy hoa/ Chà là sẽ lại thu về mật ngọt/ Và ban mai lại dâng lên/ Trong những chùm nho đang chín/ Nhưng Sadeel không thể nào đến lớp/ Và một bài thơ trong sách/ Phải đợi em đến tận kiếp sau.
Do khuôn khổ có hạn của bài viết nên vẫn còn có những tập thơ khác mà chúng tôi chưa có thời gian để bàn luận và xin được trở lại vào một dịp khác. Đó là Khát cháy (NXB Văn học) của Nguyễn Đức Hạnh, Mắt phố (NXB Hội Nhà văn) của Lê Nhi, Vân không (NXB Hội Nhà văn) của Ngô Thanh Vân, Ru (NXB Văn học) của Linh Chi, Trong thanh lặng (NXB Hội Nhà văn) của Nam Thanh… Với những tập thơ vừa được điểm lại trong năm 2025, thơ Việt đang có một bức tranh đa sắc màu, sống động, in dấu những nỗ lực sáng tạo của nhiều thế hệ cầm bút. Những tác phẩm không chỉ có ý nghĩa với cộng đồng người đọc trong nước mà còn có cả ý nghĩa quốc tế sâu sắc với nhiều thông điệp nhân văn được gửi gắm.