![]() |
| Chùa Bái Đính cổ |
Ở Ninh Bình, có thể bắt đầu một chuyến đi từ những mái chùa.
Từ Hoa Lư đi về phía bắc rồi xuôi xuống vùng đồng bằng Nam Định cũ, cảnh vật thay đổi khá nhanh. Núi đá lùi dần, sông Đáy hiện ra, sau đó là những cánh đồng bằng phẳng, làng xóm nối nhau. Trên hành trình ấy, chùa cũng thay đổi theo cảnh quan: khi nép trong hang núi, lúc đứng trên một ngọn đồi, khi lại nằm giữa làng, sau lũy cây và những mái nhà.
Bái Đính cổ là một nơi như thế. Khác với quần thể Bái Đính mới rộng lớn, ngôi chùa cổ nằm trên núi, gắn với hang động và truyền tích về Quốc sư Nguyễn Minh Không. Tư liệu của Sở Du lịch Ninh Bình ghi việc khai mở miền đất Phật tại đây vào năm 1136. Đường lên chùa luồn dưới cây, qua những bậc đá; hang núi cũng trở thành không gian thờ tự. Ở đây, chùa gần như mọc ra từ chính địa hình Hoa Lư.
Rời vùng núi đá đi về miền Hà Nam cũ, Long Đọi Sơn lại cho một dáng vẻ khác. Chùa nằm trên đỉnh núi Đọi, giữa vùng đồng bằng. Theo tư liệu của Sở Du lịch Ninh Bình, chùa được xây dựng từ năm 1054 dưới triều Lý Thánh Tông, sau tiếp tục được hoàn thiện dưới thời Lý Nhân Tông, từng là một trung tâm Phật giáo lớn của trấn Sơn Nam. Muốn lên chùa phải qua 373 bậc đá.
Long Đọi Sơn còn giữ bia Sùng Thiện Diên Linh, một bảo vật quốc gia quan trọng của nghệ thuật và lịch sử thời Lý. Nhưng có lẽ điều khiến người đi nhớ lâu không chỉ là cổ vật. Đứng trên núi Đọi nhìn xuống, cả vùng đồng bằng mở ra dưới chân; một ngôi chùa nghìn năm tuổi vẫn ở đó, giữa ruộng đồng và những làng xóm đã đổi thay qua bao thế hệ.
Gần hơn với sông nước là chùa Bà Đanh, nằm bên tả ngạn sông Đáy, cạnh núi Ngọc. Trong chùa, bên cạnh hệ thống tượng Phật còn có dấu vết tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ và tục thờ Pháp Phong. Một ngôi chùa vì thế không chỉ kể câu chuyện của Phật giáo mà còn giữ lại tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp sống bên sông, trông vào mưa nắng, mùa màng.
![]() |
| Chùa Keo Hành Thiện |
Đi tiếp về miền Nam Định cũ, lịch sử chuyển sang một lớp khác.
Cách đền Trần không xa là chùa Phổ Minh, một trong những dấu tích quan trọng của đất Thiên Trường. Chùa đã có từ thời Lý và được mở rộng lớn dưới triều Trần. Năm 1262, khi Tức Mặc được nâng thành phủ Thiên Trường, triều đình cho dựng cung Trùng Quang, Trùng Hoa và chùa Phổ Minh.
Không gian ở đây gắn chặt với vương triều Trần và Phật giáo Trúc Lâm. Trong thượng điện hiện có tượng nhập niết bàn của Phật hoàng Trần Nhân Tông cùng tượng Pháp Loa, Huyền Quang. Bộ tượng Trúc Lâm Tam tổ đã được công nhận là Bảo vật quốc gia.
Đến Phổ Minh vì thế có thể đi bộ sang đền Trần, từ một ngôi chùa bước sang câu chuyện của cả một vương triều. Đó cũng là lợi thế đặc biệt của vùng Thiên Trường: di tích không đứng riêng lẻ mà nằm trong một không gian lịch sử khá tập trung.
Xuống sâu hơn vào đồng bằng, những ngôi chùa lại gần với đời sống làng quê.
Chùa Cổ Lễ là một trường hợp đặc biệt. Chùa có nguồn gốc từ thời Lý nhưng diện mạo ngày nay chủ yếu được tạo dựng vào đầu thế kỷ XX. Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa cao 32 mét đứng trước chùa; chính điện có những mái vòm gợi kiến trúc phương Tây. Những yếu tố Phật giáo truyền thống và kiến trúc Gothic cùng xuất hiện trong một quần thể, tạo nên dáng vẻ rất riêng.
Cổ Lễ còn lưu giữ ký ức về những nhà sư từng rời cửa Phật lên đường ra trận trong những năm chiến tranh. Bởi vậy, lịch sử của chùa không dừng lại ở thời Lý hay ở kiến trúc cổ, mà đi tiếp vào lịch sử hiện đại của đất nước.
![]() |
| Chùa Phổ Minh |
Từ Cổ Lễ sang Keo Hành Thiện, dấu vết Nguyễn Minh Không lại xuất hiện. Chùa Keo Hành Thiện có lịch sử lâu đời, trải qua nhiều triều đại, nổi bật với gác chuông chồng diêm hai tầng tám mái cùng hệ thống tượng pháp, bia ký, sắc phong, chuông và kiệu cổ. Chùa được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2016.
Hằng năm, vào trung tuần tháng Chín âm lịch, Cổ Lễ và Keo Hành Thiện cùng có lễ hội tưởng niệm Đức Thánh tổ Nguyễn Minh Không. Người dân trong vùng vẫn truyền câu: “Mười lăm tháng Chín nhớ về hội Ông”. Những nghi lễ, cuộc bơi trải và sinh hoạt cộng đồng khiến chùa không chỉ là một công trình cổ để khách đến xem, mà vẫn thuộc về đời sống của làng.
![]() |
| Chùa Bà Đanh |
Nhìn từ những mái chùa, không gian Ninh Bình sau hợp nhất hiện ra khá rõ. Đó không đơn thuần là việc cộng thêm số lượng di tích của ba địa phương cũ. Quan trọng hơn, nhiều điểm đến vốn bị chia bởi địa giới hành chính nay có thể được kết nối thành những hành trình văn hóa liền mạch.
Từ Bái Đính cổ đến Đọi Sơn, Bà Đanh rồi xuống Phổ Minh, Cổ Lễ, Keo Hành Thiện là một tuyến đường đi qua nhiều thế kỷ. Có dấu tích thời Lý, dấu ấn nhà Trần, Phật giáo Trúc Lâm, tín ngưỡng dân gian và những lễ hội làng vẫn đang tiếp tục.
Nếu được tổ chức thành sản phẩm du lịch, đây có thể là một hướng đi đáng chú ý của Ninh Bình mới: không tách từng ngôi chùa thành những điểm tham quan đơn lẻ, mà kết nối chúng bằng câu chuyện lịch sử, kiến trúc và đời sống cộng đồng. Người đi có thể từ núi đá Hoa Lư xuống đồng bằng, theo sông Đáy về Thiên Trường, mỗi chặng lại gặp một cảnh quan và một lớp.