Chợ Rồng Ninh Bình nằm gần nơi sông Vân gặp sông Đáy. Vị trí ấy nói được khá nhiều về những ngôi chợ cũ: chợ thường tìm đến bến sông, ngã ba đường, nơi hàng hóa có thể từ các làng quê theo thuyền, theo gánh mà tụ về.
Ngày nay, chợ Rồng là một đầu mối thương mại lớn của khu vực, diện tích khoảng 16.000m². Trong chợ có đủ thực phẩm, hàng gia dụng, vải vóc; cũng có những sản vật quen thuộc của vùng Ninh Bình như cơm cháy, rượu Kim Sơn, dứa Đồng Giao, mắm tép, cá, lươn và những sản phẩm thủ công từ các làng nghề. Cơ sở dữ liệu của ngành Du lịch quốc gia xem đây là một nơi có thể quan sát khá rõ sinh hoạt cộng đồng của vùng đất cố đô.
Chợ, nhìn từ đó, giống một cửa ngõ của làng. Những gì người nông dân làm ra, người thợ chế tác được, cuối cùng đều phải tìm đường đến nơi có người mua. Một mớ rau, con cá, tấm cói hay món quà quê vì vậy luôn mang theo phía sau nó một vùng sản xuất.
![]() |
| Chợ Viềng |
Đi lên vùng Hà Nam cũ, Phủ Lý có chợ Bầu. Đây là một khu chợ lớn và lâu đời của đô thị Phủ Lý, đến nay vẫn là nơi buôn bán quen thuộc của người dân. Chợ Bầu không phải một thắng cảnh. Cái đáng kể ở đây chính là nhịp sống của một thành phố bên sông: sáng sớm người bán hàng mở sạp, thực phẩm từ các vùng chung quanh đổ về, người đi làm ghé chợ rồi tỏa đi các phố.
Nhưng nếu có một phiên chợ mà việc mua bán đã trở thành một nét văn hóa riêng thì phải nhắc đến chợ Viềng.
Chợ Viềng Xuân nổi tiếng ở vùng Vụ Bản, trên đất Nam Định cũ, vốn họp vào dịp đầu năm. Tư liệu lịch sử cho thấy chợ đã được nhắc đến trong Nam Định dư địa chí mục lục của Nguyễn Ôn Ngọc năm 1893. Phiên chợ gắn với đời sống tín ngưỡng và một nền văn hóa nông nghiệp lâu đời của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Chợ Viềng có đủ thứ, nhưng những mặt hàng làm nên dáng vẻ riêng của nó từ lâu lại rất gần với đời sống nhà nông: đồ đồng, đồ sắt, cuốc, xẻng, dao, liềm, cây giống và sản phẩm của các làng nghề. Đồ đúc Tống Xá, đồ rèn Bảo Ngũ, Vân Chàng, mây tre đan, sơn mài, đồ gỗ La Xuyên… từng theo người bán về đây.
Điều quan trọng không hẳn là món đồ đáng bao nhiêu tiền.
Người ta đến chợ Viềng đầu năm để “mua may, bán rủi”. Một cái cây đem về trồng, một món nông cụ, một vật nhỏ mua được trong phiên chợ đều mang thêm ý nghĩa của ngày đầu năm. Chợ vì thế đã vượt ra ngoài cuộc trao đổi hàng hóa thông thường. Đi chợ cũng là đi chơi xuân, đi lễ, gặp người quen, chen giữa đám đông trong một đêm mà cả vùng quê dường như thức muộn hơn thường lệ.
Trong ký ức dân gian còn có câu:
“Chợ Viềng năm có một phiên
Để cho trai gái tốn tiền trầu cau”.
Hai câu ấy nói thêm một chức năng rất cũ của chợ quê. Chợ còn là chỗ gặp nhau. Trai gái những làng cách nhau vài cánh đồng có thể quen nhau trong một phiên chợ, người đi xa gặp lại người cũ. Một phiên chợ vì vậy vừa có hàng hóa, vừa có hội hè, tín ngưỡng và giao duyên.
Rời chợ Viềng về Thành Nam lại gặp một ngôi chợ khác cũng mang tên Rồng.
Chợ Rồng Nam Định là một phần của lịch sử thương nghiệp đô thị. Tài liệu về thành phố Nam Định ghi nhận chợ đã nổi tiếng sầm uất từ thời thuộc Pháp. Điều đó không khó hiểu. Thành Nam từng là một trung tâm công nghiệp, thương mại lớn của vùng đồng bằng, với những phố nghề, khu dân cư và mạng lưới giao thương lâu đời.
Nếu chợ Viềng chỉ thực sự sống hết vẻ riêng của nó trong những ngày đầu xuân thì chợ Rồng thuộc về nhịp sống thường nhật. Người ta đến đó để mua bán, ăn uống, tìm một món hàng, rồi trở về với công việc. Chính sự lặp lại ấy mới tạo thành ký ức đô thị. Người Thành Nam có thể thay đổi chỗ ở, những phố cũ có thể đổi khác, nhưng tên một ngôi chợ vẫn nằm lại trong cách người ta chỉ đường và nhớ về thành phố.
Từ Thành Nam tiếp tục đi về phía biển, chợ lại đổi sắc.
Giao Thủy, Hải Hậu là miền của cửa sông, bãi triều và những làng sống với biển. Ở đây có những chợ cá, trong đó chợ cá Giao Hải thường được nhắc đến như một khu chợ đặc trưng của vùng biển. Hải sản từ biển trở về bước ngay vào một cuộc mua bán khác với chợ trong đất liền: cá, tôm, cua, mực còn mang theo mùi nước mặn; người mua lựa hàng giữa tiếng gọi nhau và những mẻ cá vừa được đưa lên.
Chợ miền biển làm hiện rõ một điều vốn có ở mọi ngôi chợ: chợ sống theo vùng đất nuôi nó.
![]() |
| Chợ Bầu |
Sau một khu chợ miền núi là nương vườn. Sau chợ đồng bằng là ruộng lúa và làng nghề. Sau chợ cá là những con thuyền. Bởi vậy, hàng hóa trên những chiếc mẹt, chiếc thúng nhiều khi chính là một tấm bản đồ địa phương dễ đọc nhất.
Ninh Bình hôm nay có một không gian đủ rộng để thấy những sắc thái ấy thay đổi trên cùng một hành trình. Từ chợ Rồng của vùng cố đô đến chợ Bầu Phủ Lý, từ phiên chợ Viềng chỉ thực sự náo nhiệt vào đầu xuân đến chợ Rồng Thành Nam và những chợ cá phía biển, mỗi nơi có một nhịp riêng.
Những khu chợ rồi cũng thay đổi. Quang gánh ít đi, hàng hóa đóng gói nhiều hơn. Người ta mua đặc sản trên mạng, đặt rau thịt qua điện thoại, những khu chợ cũ được sửa sang hoặc xây mới.
Nhưng có những thứ rất khó chuyển lên một màn hình.
Đó là một buổi sáng nhìn người bán xếp cá lên mẹt, mùi rau vừa từ ruộng về, tiếng dao thớt ở hàng thịt; hay một đêm đầu năm, giữa chợ Viềng, người ta mua một cái cây nhỏ dù trong vườn có lẽ vẫn còn đủ cây.
Người mua biết mình đang mua một món hàng. Nhưng đôi khi thứ họ mang về còn là một chút may mắn, một thói quen, một ký ức.
Và đó là lúc một cái chợ trở thành một phần văn hóa của vùng đất.