Vấn đề của giai đoạn phát triển mới vì thế không còn dừng ở việc khai thác những gì đang có, mà là kết nối các giá trị ấy thành một hệ sinh thái, trong đó di sản trở thành nguồn lực sáng tạo, văn hóa tạo ra giá trị kinh tế và du lịch là con đường đưa bản sắc Ninh Bình đến với thế giới.
Có một sự thay đổi đáng chú ý trên bản đồ du lịch Ninh Bình sau hợp nhất: những điểm đến từng thuộc ba không gian tương đối riêng biệt nay cùng nằm trong một chỉnh thể.
Ở phía tây là Cúc Phương, Hoa Lư, Tràng An, Tam Cốc, Vân Long; đi về phía bắc có Tam Chúc, Sở Kiện, Trần Thương; xuống vùng đồng bằng phía đông là Phủ Dầy, Thiên Trường, đền Trần, Phổ Minh, Bùi Chu, Phú Nhai; rồi theo những dòng sông ra Phát Diệm, Xuân Thủy, Hải Hậu và biển.
Nhưng giá trị của một không gian phát triển mới không nằm ở phép cộng số lượng điểm đến.
Điều quan trọng hơn là khả năng tạo ra những mối liên hệ mà trước đây địa giới hành chính từng chia tách: giữa Hoa Lư với Thiên Trường trong lịch sử quốc gia; giữa Tam Chúc, Bái Đính và hệ thống chùa cổ trong lịch sử Phật giáo; giữa Phát Diệm, Sở Kiện, Bùi Chu, Phú Nhai trong không gian văn hóa Công giáo; giữa làng nghề, lễ hội, nghệ thuật truyền thống với hệ thống di tích; giữa Cúc Phương, Tràng An, Vân Long với Xuân Thủy và vùng biển trong một cấu trúc du lịch sinh thái rộng lớn.
| Ninh Bình hiện có trên 5.000 di tích được kiểm kê, trong đó có Quần thể danh thắng Tràng An – Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới, 8 di tích quốc gia đặc biệt, 264 di tích quốc gia, 834 di tích cấp tỉnh, 18 Bảo vật quốc gia; cùng một di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh và 39 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. |
Đó là một vốn di sản rất lớn. Nhưng trong kinh tế du lịch hiện đại, sở hữu nhiều di sản chưa đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều giá trị. Một ngôi đền mà khách tới thắp hương rồi rời đi, một làng nghề nơi khách chỉ mua món quà lưu niệm, hay một di tích chỉ được giới thiệu bằng tấm bảng thuyết minh vẫn mới khai thác lớp bề mặt của tài nguyên. Giá trị tăng lên khi du khách hiểu được câu chuyện phía sau ngôi đền, gặp người đang giữ nghề, nghe được âm nhạc của vùng đất, ăn món ăn tại nơi nó sinh ra và có lý do để ở lại qua đêm.
Đó chính là khoảng không mà công nghiệp văn hóa có thể bước vào.
![]() |
| Sau hợp nhất, Ninh Bình không chỉ mở rộng địa giới mà còn sở hữu một không gian văn hóa – du lịch có quy mô và cấu trúc hiếm có. Ảnh: Jonathan Ouimet. |
Ngày 30/1/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết 07-NQ/TU về Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Đến ngày 1/6/2026, UBND tỉnh phê duyệt Đề án triển khai chiến lược bằng Quyết định 2974/QĐ-UBND. Điểm đáng chú ý trong tư duy này là văn hóa và du lịch không còn được nhìn như hai lĩnh vực đứng cạnh nhau, mà được đặt trong một hệ sinh thái gồm di sản, du lịch, nghệ thuật, điện ảnh, sự kiện, thiết kế, thủ công mỹ nghệ, truyền thông, công nghệ số và kinh tế sáng tạo.
Đó là bước chuyển từ khai thác tài nguyên sang khai thác giá trị.
Tràng An là một ví dụ. Giá trị của di sản không chỉ nằm ở số lượt khách xuống thuyền mỗi năm. Cảnh quan ấy còn có thể trở thành không gian của điện ảnh, nghệ thuật, nghiên cứu, giáo dục di sản, thiết kế và những sản phẩm nội dung số. Một làng nghề cũng vậy: giá trị không chỉ nằm trong giá bán của một sản phẩm thủ công, mà còn ở câu chuyện về người thợ, kỹ thuật truyền đời, thiết kế mới, không gian trải nghiệm và thương hiệu của làng.
Với cách nhìn ấy, một di sản có thể tạo ra nhiều lớp giá trị mà không nhất thiết phải tăng áp lực khai thác trực tiếp lên chính di sản.
Đây cũng là vấn đề đặc biệt quan trọng với Ninh Bình. Một điểm đến dựa quá nhiều vào số lượng khách rất dễ phải trả giá bằng quá tải, thương mại hóa và suy giảm chất lượng môi trường. Trong khi đó, phát triển du lịch chất lượng cao đòi hỏi một phép tính khác: không chỉ hỏi mỗi năm có thêm bao nhiêu người đến, mà phải hỏi họ ở lại bao lâu, chi tiêu cho những gì và sau chuyến đi họ hiểu thêm điều gì về vùng đất.
Nói cách khác, tương lai của du lịch di sản không thể chỉ đo bằng vé vào cửa.
Một chương trình biểu diễn dựa trên chất liệu văn hóa bản địa, một tuyến đi bộ trong làng cổ, một workshop với nghệ nhân, một bộ phim quay tại Ninh Bình, một sản phẩm thiết kế từ nghề truyền thống hay một bảo tàng số đều có thể tạo ra giá trị kinh tế mà vẫn lấy văn hóa làm cốt lõi. Trong bài viết của Sở Du lịch về phát triển công nghiệp văn hóa, chính sự chuyển từ tham quan đơn thuần sang biểu diễn, tương tác với nghệ nhân, trải nghiệm làng nghề, nghệ thuật và ẩm thực cũng được xác định là con đường gia tăng giá trị điểm đến.
Nhưng muốn làm được điều đó, trước hết phải tổ chức lại không gian du lịch.
Ninh Bình đang định hướng mô hình “1 trung tâm – 3 không gian chiến lược – 5 tuyến – 7 cụm công nghiệp văn hóa, du lịch”. Ba trục không gian được xác định khá rõ: Tràng An – Vân Long – Tam Chúc – Kim Bảng – Trần Thương – Sở Kiện; Bái Đính – Hoa Lư – Phủ Dầy – Đền Trần – Cổ Lễ – Keo Hành Thiện; và Phát Diệm – Bùi Chu – Phú Nhai – Thịnh Long – Xuân Thủy.
Đằng sau những đường nối ấy là một thay đổi quan trọng về tư duy điểm đến.
Khách đến Tràng An không nhất thiết chỉ ở Tràng An. Từ di sản thiên nhiên và văn hóa có thể bước sang lịch sử Hoa Lư, từ Hoa Lư sang không gian tín ngưỡng Phủ Dầy và Thiên Trường; từ Bái Đính có thể nối với Tam Chúc; từ Phát Diệm có thể đi qua Bùi Chu, Phú Nhai rồi xuống Hải Hậu, Xuân Thủy và biển. Một hành trình khi ấy không còn được tổ chức theo địa giới cũ, mà theo chủ đề văn hóa, cảnh quan và trải nghiệm.
Đó cũng là cách kéo dài thời gian lưu trú mà không cần tạo thêm những công trình nhân tạo cạnh tranh với di sản.
Ninh Bình đã đặt ra những mục tiêu rất cao. Đến năm 2030, tỉnh hướng tới trở thành trung tâm du lịch di sản, sinh thái, văn hóa và tôn giáo của Việt Nam, đồng thời là trung tâm tổ chức sự kiện tầm quốc gia và quốc tế; đón trên 30 triệu lượt khách, trong đó 4–4,5 triệu lượt khách quốc tế, tổng thu du lịch trên 45.000 tỷ đồng. Công nghiệp văn hóa và du lịch được đặt mục tiêu đóng góp khoảng 10% GRDP.
Xa hơn, tầm nhìn 2045 là xây dựng Ninh Bình thành “thành phố du lịch – di sản thiên niên kỷ”, sở hữu hệ sinh thái văn hóa, du lịch và sáng tạo hàng đầu, hướng tới một đô thị sáng tạo toàn cầu được UNESCO công nhận.
Nhưng những con số sẽ chỉ có ý nghĩa khi sự tăng trưởng không làm nghèo đi nguồn lực đã tạo nên nó.
Một làng nghề đông khách nhưng không còn người trẻ muốn học nghề thì chưa thể gọi là thành công. Một lễ hội thu hút hàng vạn người nhưng mất dần nghi lễ và chủ thể cộng đồng thì giá trị văn hóa đã suy giảm. Một di sản thiên nhiên tăng khách nhưng phải đánh đổi cảnh quan và đa dạng sinh học thì nguồn lực phát triển của tương lai cũng bị thu hẹp.
Vì thế, bài toán lớn của Ninh Bình không chỉ là đưa văn hóa vào kinh tế, mà còn phải đưa lợi ích của kinh tế trở lại nuôi dưỡng văn hóa.
Người dân sống trong vùng di sản phải được hưởng lợi; nghệ nhân phải có khả năng sống bằng nghề; người trẻ phải nhìn thấy tương lai trong những nghề truyền thống; doanh nghiệp phải có động lực đầu tư vào sản phẩm sáng tạo thay vì khai thác ngắn hạn; còn những giới hạn về sức chứa của di sản và môi trường phải được coi là một phần của quy hoạch phát triển.
Nghị quyết 07 cũng đặt phát triển xanh và chuyển đổi số trong chiến lược dài hạn; đến năm 2030, mục tiêu là trên 80% doanh nghiệp du lịch, dịch vụ văn hóa ứng dụng chuyển đổi số và ít nhất 300 doanh nghiệp du lịch đạt các chứng nhận, chứng chỉ xanh.
![]() |
| Ninh Bình đang hướng tới biến di sản thành nguồn lực cho sáng tạo và phát triển tương lai. Ảnh: Minh Nhat Doan. |
Sau hợp nhất, Ninh Bình đang đứng trước một cơ hội không dễ lặp lại. Một không gian đủ rộng đã hình thành, trong đó có kinh đô cổ và vùng phát tích vương triều, di sản thế giới và những làng nghề, Phật giáo và Công giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu và nghệ thuật dân gian, rừng già và đất ngập nước, đồng bằng và biển.
Nhưng tài nguyên chỉ là điểm khởi đầu.
Điều quyết định vị thế của Ninh Bình trong vài thập niên tới sẽ là khả năng biến những tài nguyên ấy thành một hệ sinh thái mà ở đó di sản được bảo vệ tốt hơn bởi chính giá trị mà nó tạo ra, người dân trở thành chủ thể của phát triển, sáng tạo làm mới những giá trị cũ mà không làm mất bản sắc, còn du lịch đưa câu chuyện của vùng đất đi xa hơn.
Khi ấy, Ninh Bình không chỉ là nơi có nhiều di sản để đến xem.
Nó có thể trở thành một vùng đất biết sống bằng di sản, sáng tạo từ di sản và dùng chính sức mạnh văn hóa để kiến tạo tương lai.