Bảo rằng tất cả vẫn còn nguyên mới thì e không phải là kẻ thức thời. Nhưng bảo tất cả đã cũ rồi, thì thật vô lý và độc ác. Đương nhiên không có gì tránh được sự xàng lọc của thời gian, tuy vậy những gì được xem là chân giá trị thì nó sẽ còn mãi. Trong gia tài của mình, Bằng Việt còn nhiều thứ chiếm được sự ủng hộ của thời gian.
Trong lớp các nhà thơ chống Mỹ, Bằng Việt chín khá sớm và anh được đón nhận nồng nhiệt như một tài năng mới mẻ, hào hoa và sâu lắng. Thơ anh giầu chất suy tưởng và với chất suy tưởng đó, anh trở thành người lĩnh xướng tài hoa và độc đáo. Có trải qua những năm đầu chống Mỹ, có chứng kiến sự xuất hiện của lớp nhà thơ trẻ lúc bấy giờ mới thấy hết sức hấp dẫn của Bằng Việt. Thơ anh đã trở thành một hiện tượng. Đã có biết bao nhiêu người bị quấn vào thứ thơ nhiều dư vang, nhiều dự cảm của anh. Anh bám những vấn đề thời sự rất giỏi. Thời sự trong thơ anh là những cái đã được nội tâm hoá mang đậm chất tâm tình. “Về hoả tuyến thăm con” là một bài thơ rất cảm động. Ở đó ngoài tình cha con còn có chuyện sống chết của làng xóm, của quê hương, chuyện của thời cuộc:
Cha về rồi đây con
cha nhìn con bỡ ngỡ
con đan lá nguỵ trang
con che đèn đánh lửa
con đưa em xuống hầm
biết xoay lưng chắn cửa
ai dậy con bao giờ
mà quá chừng ý tứ
ôi con tôi con tôi.
Bài thơ là sự hoá thân trọn vẹn của tác giả. Đứa con được miêu tả trong sự ngạc nhiên và thương cảm của người cha, hiện lên thật sống động.
Cũng viết về tuổi thơ, nhưng bài “Bếp lửa” tác giả viết về chính bản thân mình. Một tuổi thơ, một bếp lửa và một người bà, không gì hợp lý hơn. Ở đó, người ta thấy bên cạnh tình cảm riêng tư bà cháu là sự tao loạn của cả một thời. Thật cảm động khi nghe bà dặn cháu"
“…Bố ở chiến khu bố còn việc bố
mày có viết thư chớ kể này kể nọ
cứ bảo nhà vẫn được bình yên…”
Trong tình cảm đó, bếp lửa đã trở thành một biểu tượng sức sống của quê hương, của những gì cụ thể mà thiêng liêng nhất
“…Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
nhóm nồi sôi gạo mới, sẻ chung vui
nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
ôi kỳ lạ và thiêng liêng – Bếp lửa!…”
![]() |
| Trong lớp các nhà thơ chống Mỹ, Bằng Việt chín khá sớm và anh được đón nhận nồng nhiệt như một tài năng mới mẻ, hào hoa và sâu lắng. |
Bếp lửa đó giúp cho đứa cháu lớn lên, giúp cho quê hương vực dậy sau mỗi trận “cháy tàn cháy rụi”, giúp ấm lòng những người đi kháng chiến. Đó là sinh lực tiềm tàng và sức mạnh vô bờ của hậu phương. Bếp lửa ấy vừa thực vừa hư, vừa cụ thể vừa khái quát, mang “niềm tin dai dẳng” truyền từ đời này sang đời khác. Cũng giống như bài “Về hoả tuyến thăm con”, lời thơ trong “Bếp lửa” rất mộc và tự nhiên, mang vẻ đẹp nguyên chất rất đáng quý. Đó là Bằng Việt của những bài thơ kể chuyện dân dã, rồi ra chúng ta sẽ được gặp một Bằng Việt khác với những bài thơ có đề tài trừu tượng có sức liên tưởng vang xa. “Tình yêu và báo động” là một bài thơ như thế. Đây là một bài thơ hay, thể hiện một bút pháp khác hẳn. Khác ở chỗ, anh vẫn tôn trọng cách cảm, nhưng anh đã biết huy động thêm chất nghĩ. Và đây mới thực là thế mạnh của anh. Mạch suy tưởng của bài thơ được gợi ra từ chỗ
Hạnh phúc lớn, tự hào, đơn giản thế
ngày xưa anh chưa nghĩ ra
Hoá ra “Nghĩ” rất quan trọng. Nó tiếp cận chân lý ở một chiều kích khác, sâu sắc hơn và bao quát hơn. Bởi vì “tình yêu và báo động” thực chất là chiến tranh và hạnh phúc. Từ xưa tới nay, có bao giờ chiến tranh đi cùng với hạnh phúc? Chiến tranh là chết chóc, là chia lìa, là đổ vỡ, có bao giờ đi cùng hạnh phúc đâu. Nhưng Bằng Việt nhìn vấn đề dưới một góc độ khác. Tình yêu vẫn tồn tại sau những cơn báo động, hạnh phúc vẫn có thể tồn tại trong chiến tranh. Đó là hạnh phúc của những người đứng chung chiến hào, là hạnh phúc khi phát hiện ra những vẻ đẹp trong tầm vóc cuộc chiến đấu của nhân dân, là hạnh phúc khi nhận ra sức sống bền bỉ của đất nước, hạnh phúc tột cùng của những người chiến thắng
Sông Hồng nước lên. Em đưa anh qua
tháng tám cầu nhô hai nhịp gẫy
sông Hồng nước rút khi anh trở lại
ta nắm tay nhau trên nhịp đã liền
hai bên bờ Long Biên
nghìn lá sắc trổ cờ trên ngọn mía
hạnh phúc lớn, tự hào, đơn giản thế
ngày xưa anh chưa nghĩ ra
Trong cuộc chiến đấu sinh tử với kẻ thù, con người lớn lên, tình yêu lớn lên, đất nước lớn lên. Đó là sức mạnh nằm ngoài sự tính toán của kẻ thù. Nhìn lại đời mình và nhìn lại đời nhau, thấy gắn bó hơn trong một tình yêu cùng chung một lý tưởng. Tình yêu đã vượt lên cái chết.
Không ai trở về thời đồ đá
ta khinh bỉ nhìn kẻ thù dậm doạ
ba năm rồi từ buổi đó em ơi
thành phố bao phen rung động
hồi còi em biết dập kho dầu khi lửa bén
biết trồng lại đôi hàng cây cháy sém
biết bắn địch hôm nay vì đích của ngày mai
Mơ mộng thì dễ vỡ mà chiến tranh thì tàn bạo và phũ phàng. Bằng Việt miêu tả chiến tranh và tình yêu đan dệt vào nhau trở thành một hiện thực thẩm mỹ, làm nền cho những rung động thơ say đắm và giầu chất suy tưởng. Chất suy tưởng trong thơ Bằng Việt không rơi vào những câu triết luận khô khan mà đượm vẻ tâm tình mở ra nhiều vùng liên tưởng. Thơ anh có nhiều vang vọng nội tâm, cảm xúc được triển khai nhiều hướng, lui tới khoáng đạt, hư thực dư âm. Có những phút choáng ngợp “Ta quen sống những giờ đột biến/ Bỗng sững sờ trước một sớm không đâu”. Có những chiêm nghiệm thốt ra trong cảm nhận chân thành “Dù phải chịu đôi lần căng thẳng nhất/ Chỉ nghĩ đến nhau đã là hạnh phúc”. Có những phút bâng quơ đầy gợi cảm “Vườn vàng phơi lá thu/ Ánh sáng mênh mông, đối mặt quân thù”. Vườn vàng phơi lá thu, đó là một trong những câu thơ hay và đẹp nhất của Bằng Việt. Bảo là kĩ thuật thì nó rất kĩ thuật, bảo nó tự nhiên thì nó rất tự nhiên. Nhưng trên hết, nó rất hàm xúc. Một câu thơ rất gợi, đạt được hiệu quả tối đa. Nó đem đến một chỉ số về tâm hồn của tác giả. Nó nói được cái non tơ bền vững trong lòng người. Bom đạn, sống chết nhưng “không ai trở về thời đồ đá”. Chiến tranh không làm cằn khô hay thui trột được lòng ham sống và những run rẩy trước thiên nhiên. Ngược lại, nó làm cho người ta hiểu rõ giá trị của từng ngày đang sống. Tình yêu và báo động là vẻ đẹp tự tại của người chiến thắng. Về mặt cấu trúc, bài thơ này gần gũi với Trở lại trái tim mình và Nghĩ lại về Pauxtopxky, mặc dù nó rất khác nhau về đề tài và thi liệu. Tâm thế chung ở ba bài thơ này là tâm thế của một người nhìn lại. Nhìn lại tuổi thơ, nhìn lại quá khứ, nhìn lại những năm đầu chiến tranh.
Tôi trở lại những lối mòn quá khứ
Có tâm tình ta mắc nợ cha ông
(Trở lại trái tim mình)
Trở lại để thấy cuộc sống đã lớn lên, đã thay đổi, thấy hết cả những điều lớn lao còn cất giữ, tiềm ẩn trong mỗi con người
Ở đây tôi bắt gặp hôm nay, tôi bắt gặp ngày qua
Tôi bắt gặp cả những ngày chưa tới
Trong mỗi dáng người gặp vội
Đều chín muồi những dự định tương lai
Trong mỗi ba lô quàng vai
Đều cất giữ kho tàng chưa mở hết
Như Hà nội mười năm tôi đã biết
Sớm hôm nay vẫn lạ nét ban đầu
(Trở lại trái tim mình)
Cách nhìn đời như thế vừa nhân hậu vừa sâu sắc, vừa từng trải vừa thương cảm. Phải là người có đời sống nội tâm phong phú với một sức cảm, một sức nghĩ xa rộng như thế nào mới có thể viết được những câu thơ như thế. Điều đáng ngạc nhiên là những bài thơ già dặn ấy đều là những bài thơ đầu tay của Bằng Việt trong tập thơ in chung với Lưu Quang Vũ. Sau hơn nửa thế kỷ đọc lại, ta vẫn thấy xúc động như ngày nào, chứng tỏ nó đã thắng được sự xàng lọc của thời gian. Điều đó cho phép ta khẳng định, Bằng Việt đã vươn lên chuyên nghiệp ngay từ những bài thơ đầu đời của mình. Đó là một vinh quang đồng thời cũng là một thử thách. Một câu hỏi đặt ra là, với những thành công rất ấn tượng như vậy, Bằng Việt sẽ tiếp tục phát triển theo hướng nào? Người trả lời câu hỏi đó không ai khác ngoài Bằng Việt. Anh hiểu rõ đường thơ của mình. Và anh đã tìm được cách làm mới mình: Đi vào đời sống. Đang làm việc rất được tín nhiệm ở Viện Triết học, Bằng Việt tình nguyện xin vào tuyến lửa Trường Sơn làm một phóng viên mặt trận. Sau những năm xả thân trước mọi thử thách ác liệt ở chiến trường, chúng ta có một Bằng Việt khác. Chất mơ mộng có thể bớt đi, bù vào đó là những trải nghiệm, những hoài niệm. Sống chết, dữ dằn nếu không qua cọ xát với thực tiễn chiến trường thì không thể nào có được sự từng trải đó. Chính thực tiễn lớn lao đó đã giúp Bằng Việt có thể viết:
Mỗi gương mặt bình thường, sau nghìn lần sống chết
rọi ánh sáng vào tôi, cùng những khoảng trời cao
(Những gương mặt, những khoảng trời)
Nhưng rồi chiến tranh đã lùi xa. Con người trở lại đối diện với chính bản thân mình. Những vui buồn, những trả giá làm nên một cuộc sống khác. Chất suy tưởng của Bằng Việt thường đặt ra những vấn đề mới của đời sống. Để có thể sống cứ như không, anh phải vượt lên tất cả
Từng đau đớn vì lòng người phản trắc
từng xót xa vì lắm nỗi tỵ hiềm
ta vẫn còn nhau, không mất mát
lòng yêu đời – có phải dễ đâu em
(Cứ như không)
Bằng Việt rất có ý thức về sự thay đổi. Đó là quy luật của đời sống. Anh phải sớm nhận ra và thích nghi với nó.
Thần thánh có còn đâu?
anh đừng cao giọng nữa!
đóng bộ rưng rưng, đau đáu… mà chi?
cái lý thực của Đời – bao dung mà khe khắt
anh không đổi khác ư? Thời đã khác rồi
(Thời đã khác rồi)
Trong bài “Đệ nhất tổ Phật Trúc Lâm giảng thiền” anh mượn lời Phật tổ Trần Nhân Tông giải thích cho môn đệ về Phật, Pháp, Tăng để liên hệ với việc đời, với hạnh phúc và thơ ca. Cả ba lần, anh đều nghe Phật tổ trả lời “Chấp theo lối cũ là không đúng”. Như vậy, thay đổi là tuyệt đối. Nhưng thay đổi không đồng nghĩa với sự xoá bỏ, mà phải kế thừa.
Bằng Việt nhắc ta về những ngộ nhận thời kì đầu đổi mới. Những quan niệm sống sít về đổi mới nhằm phủ nhận sạch trơn đã dẫn đến thảm trạng “Bi kịch cao hơn! Hài kịch cũng cao hơn”. Thực tế đã chứng minh, tất cả những cách làm vội vã, lộn ngược, cực đoan đã dẫn đến những sự trả giá đắt cho mọi sai lầm. Nhưng cuộc đời vốn công bằng. Mặc dù có lúc người ta cố tình xáo trộn thật giả, cũ mới nhưng cuối cùng những cái chân giá trị sẽ vẫn tìm được chỗ đứng của nó trước bạn đọc và trước thời gian.
Từ con người mơ mộng và đa cảm đến con người từng trải và tỉnh táo, Bằng Việt dứt khoát chấp nhận sự đổi mới cả trong quan niệm và trong bút pháp. Xu hướng chung của sự đổi mới này là anh kiên quyết hy sinh tiểu tiết để lấy đại cục. Chất suy tưởng trong thơ anh ngày càng sâu lắng hơn. Theo đó, bút pháp cũng có nhiều thay đổi. Có những bài thơ được “lắp ráp” rất kỹ lưỡng, đem đến một cái kết rất bất ngờ và độc đáo. Chẳng hạn như bài “Ngẫu nhiên và Tất nhiên” dưới đây:
Tôi có một con tầu
em có một vì sao
tôi có một vầng trăng
em có ngày nắng ráo
tôi có một cơn mưa
em có dải rừng xa
tôi đem vầng trăng khớp với trời sao
đem cơn mưa đặt trước ngày nắng ráo
đem con tầu chạy qua rừng hư ảo…
và bất ngờ em nói đến Tình yêu!
Mạch thơ rất kín. Ý tứ rất sâu. Bài thơ dồn nén rất chặt, đến mức chi ly trong từng chi tiết. Khổ đầu thì bày ra, khổ sau thì trộn vào. Cái tất nhiên có mầm từ cái ngẫu nhiên. Chất suy tưởng ở đây không dừng lại ở một câu mà đúc lại trong cái hồn cốt của toàn bài. Cũng tôn trọng một cấu tứ chặt chẽ như vậy, nhưng bài “Sự tạm bợ” lại mang tính phê phán một cách làm, một thói quen đến mức trở thành một căn bệnh nguy hiểm
Cái bàn gỗ tạp, cái ghế chân
ý nghĩ và việc làm – đều vá víu
chỗ ở cứ khất lần – tạm bợ chúng ta tưởng
thời thanh xuân chỉ mới bắt đầu
nhưng thời gian cứ trôi
thời gian thẳng thừng dễ sợ…
cái tạm bợ đã thành một đời
cái tạm bợ đã thành vĩnh cửu!
Những bài thơ trên được tác giả săn sóc kỹ lưỡng từng câu, từng chữ đến toàn bài, tạo được sự dồn nén rất căng. Nhưng đến bài “Lời hai bài Quốc ca” thì anh lại sẵn sàng viết những câu văn xuôi để khép lại bài thơ có ý phát hiện rất sâu
Tôi cũng nhiều lần ngồi nhâm nhi rượu đế, lạc rang
cùng nhạc sĩ Văn Cao lúc ở Hà nội, lúc ở Hải phòng
nếu bây giờ còn được ngồi với ông
bàn về lời hai bài Quốc ca
thì tôi đoán, hẳn ông sẽ tán thành tức khắc!
Như vậy là, Bằng Việt cũng không phải là người câu nệ. Khi cần, anh sẵn sàng bỏ vần, bỏ nhạc, bỏ cả sự hàm xúc để nói cho kỳ được cái ý chính của toàn bài.
Bằng Việt là người luôn luôn quan tâm đến số phận của thơ ca trước biến đổi nhanh chóng và quyết liệt của đời sống. “Đời đột biến mà thơ đi quá chậm” Tập thơ 1986 – 2016 thể hiện một quyết tâm đổi mới thơ của anh. Theo tôi, tập thơ có ba ưu điểm.
Một là về mặt đề tài. Tác giả xông vào mọi lĩnh vực của đời sống, kéo thơ gần với những vấn đề thường ngày. Bên cạnh những bài thơ chiêm nghiệm vốn là sở trường của anh, tác giả đã có hàng loạt bài đi vào những vấn đề cụ thể, thậm chí có những bài tưởng khó viết thành thơ. Đó là các bài “Xin ấn ở đền Trần”, “Sài gòn 92”, “Cầu vượt”, “Du lịch sinh thái”, “Phim Lý Công Uẩn”, “Từ điển danh nhân”, “Cá om niêu ở làng Vũ Đại”, “Rượu của Nguyễn Cao Kỳ”, “Chạy trên bàn trượt”… Chúng có ưu điểm chung là làm cho tập thơ tươi mới hơn, mang được hơi thở của thực tế. Tập thơ bề bộn ngổn ngang như đời sống vậy.
Cũng Liên xô, sau 12 năm sụp đổ, tác giả trở lại với biết bao tâm sự về sự còn mất. Trong bài Matxcova tuyết đầu mùa, tác giả viết:
Một thời trẻ trai tràn ngập mê say
bao chuyện thần tiên sáng ngời trên trang sách
sách vở qua đạn bom, chân lý qua thử thách chắt lọc,
suy tư… mới trăn trở thành người
ngàn dặm đường đi qua, ngàn chuyện cũ bùi ngùi
bao thương cảm nén sâu, bao tin yêu lỡ dở
tuyết Matxcova quanh ta như mười hai năm cũ
mà Matxcova trong ta lại quá khác xưa rồi
Suy nghĩ về những cách tân nghệ thuật, tác giả cho rằng:
Điều tâm niệm xa hơn cho mọi ngành nghệ thuật
là chớ để hèn đi mỗi nhân cách của con Người
(Nghệ thuật thu nhỏ)
Trước sự vận động muôn mầu của đời sống, nhà thơ tuyên bố
Ghét cay đắng mỗi lời chai đá,
vô tình Tiếc đứt ruột nếu từng ngày không đổi mới
(Thời lá đỏ)
Sau hơn nửa thế kỷ cầm bút, Bằng Việt đã có những cống hiến xuất sắc về sáng tác, dịch thuật và khảo cứu. Anh là nhà thơ hàng đầu của thế hệ các nhà thơ chống Mỹ. Thơ anh sớm có cách nhìn riêng, giọng điệu riêng, bút pháp riêng. Chất suy tưởng trong thơ anh phát triển theo sự vận động và thay đổi của đất nước. Anh bắt kịp với những chuyển biến của thời cuộc, để lại những ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc.
Hà Nội, ngày 14.2.2022
--------------
Bài viết được rút từ tập "Ám ảnh chữ" của nhà thơ Hữu Thỉnh