Diễn đàn lý luận

Những trang văn về một thời lửa cháy

Nguyễn An
Lý luận phê bình 16:00 | 01/05/2026
Baovannghe.vn - Tháng tư lại về, mang theo nhịp kí ức của một thời bom đạn nhưng cũng ẩn chứa những giá trị nhân văn không bao giờ phai nhạt.
aa

Trong dòng chảy ấy, bạn đọc có dịp đón nhận những trang viết về lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân luôn gìn giữ và bền bỉ phát huy. Những tác phẩm vừa xuất bản trong một, hai năm qua tiếp tục khẳng định vai trò là cầu nối giữa hiện tại và quá khứ, là những “ngọn lửa kí ức” thắp sáng tinh thần bất khuất của dân tộc, tri ân các thế hệ đã hiến dâng tuổi trẻ cho Tổ quốc.

Dặm dài chiến trận và thân phận con người

Trong dòng chảy văn xuôi viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ, loạt tiểu thuyết mới của các tác giả Châu La Việt, Hà Đình Cẩn, Nguyễn Minh Ngọc, Vũ Quốc Khánh, Hoàng Dự… đã góp phần mở rộng bức tranh nghệ thuật về chiến tranh cách mạng bằng những cách tiếp cận khác nhau, từ sử thi hoành tráng đến đời thường nhân bản. Mỗi cuốn sách là một cửa ngõ bước vào lịch sử, nơi số phận con người hòa lẫn trong tiếng bom đạn và cả những rung động riêng tư, tạo nên diện mạo đa tầng, giàu chiều sâu cho dòng văn học chiến tranh đương đại.

Với Cục Chính trị tiền phương, Châu La Việt đã viết nên tác phẩm có tính tư liệu - lịch sử cao, tái hiện chân thực vai trò đặc biệt của Cục Tuyên huấn trong những chiến dịch then chốt của cuộc kháng chiến. Không dừng lại ở những trận đánh hay tiếng súng nơi chiến hào, cuốn tiểu thuyết mở ra hướng nhìn chiến tranh qua lăng kính của công tác chính trị, tuyên truyền, vận động quần chúng và xây dựng tinh thần chiến đấu cho bộ đội trong muôn vàn gian khó. Những cuộc họp kín giữa rừng sâu, những quyết định chiến lược được đưa ra trong điều kiện thiếu thốn, những đêm cán bộ đi từng đơn vị động viên chiến sĩ trước giờ xuất trận… tất cả được đan cài khéo léo vào câu chuyện tình đầy nhân ái giữa Trần Ngọc - chàng cán bộ chính trị thầm lặng và Huỳnh Thị Điệp - cô gái miền Nam tập kết ra Bắc. Tình yêu ấy không chỉ tạo chiều sâu cảm xúc cho tác phẩm mà còn làm sáng rõ phẩm chất của những người làm công tác chính trị mềm mại trong tình cảm nhưng kiên định trong lí tưởng. Tác phẩm ghi lại hình ảnh những cán bộ chính trị vừa là người chiến sĩ, vừa là người thầy, người anh, người bạn của chiến sĩ ngoài mặt trận. Nhờ đó, người đọc hiểu rằng đằng sau mỗi trận thắng đều có những con người âm thầm giữ lửa niềm tin cho cả đơn vị.

Trong Rừng mặn, Hà Đình Cẩn lại lật mở phần sâu kín nhất của chiến tranh trong đời sống tâm lí và những đổ vỡ thầm lặng của người lính. Với cấu trúc độc đáo khi để linh hồn một người đã ngã xuống kể lại câu chuyện, tiểu thuyết tạo nên một không gian ám ảnh mà trong đó tình yêu của trung úy Hân và y sĩ Lụa hiện lên chân thật, mong manh và day dứt. Rừng đước, rừng mắm, con nước lớn ròng, những cuộc càn quét… tất cả hòa làm một phông nền dữ dội nhưng cũng rất đời thường. Nhờ giọng kể của người đã vượt qua ranh giới sinh tử, những bấp bênh, ghen tuông, tổn thương và hi vọng của tình yêu chiến trận hiện ra với sự thấu cảm sâu sắc. Văn phong của Hà Đình Cẩn mang đậm chất tự sự, trữ tình. Những đoạn mô tả rừng, trăng, mưa dông hay tiếng cò bay qua sông đều chan chứa vẻ đẹp thiên nhiên giàu chất thơ, đối lập với những cơn giằng xé tâm lí và những trận đánh sinh tử của con người. Trong đó, nhiều chi tiết đời thường như việc bẻ đốt ngón tay để trấn tĩnh trước ca mổ, hay lời ru con trong đêm vào ấp thăm con cũng đủ khiến người đọc nghẹn ngào vì sự chân thật và lay động. Tác phẩm để lại dư âm ám ảnh, khi con người trong đó không chỉ chiến đấu để giành độc lập mà còn để giữ lại nhân tính, giữ gìn phẩm hạnh và gìn giữ cho nhau một lí do để sống, để yêu và để bước tiếp.

Trong khi đó, Miền cỏ tranh của Nguyễn Minh Ngọc lại mở ra một không gian rộng lớn hơn toàn bộ chiến trường Khu 6 - Khu 10, trải dài suốt nhiều năm tháng ác liệt. Với vốn trải nghiệm dày dặn của người lính, nhà văn tái hiện chiến tranh bằng cái nhìn chân thật, không né tránh gai góc. Những trận càn triền miên, sự mất mát trong dân, những hi sinh lặng lẽ của cán bộ cơ sở, và cả những rạn vỡ nội tâm mà người lính phải tự vượt qua. Nhân vật trung tâm của tiểu thuyết là chàng trinh sát trẻ Mười Lượng bước qua chiến tranh bằng tất cả sự thẳng băng của người lính. Anh chiến đấu hết mình, yêu thương hết lòng, chịu đựng cả những điều không công bằng.

Cuồn cuộn Sê Pôn của Vũ Quốc Khánh tái hiện chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971 như một trường đoạn sử thi ngồn ngộn hơi thở trận mạc. Tác phẩm khắc họa tư duy chỉ huy của Bộ Tư lệnh và sự vận dụng linh hoạt nghệ thuật tác chiến như phân tán hỏa lực, phục kích điểm yếu đến những đòn quyết chiến chiến lược. Cùng với đó, Vũ Quốc Khánh còn dành dung lượng lớn tác phẩm để khắc họa mối quan hệ Việt - Lào đầy thủy chung, nồng ấm. Giữa khốc liệt, tình người nổi lên như một mạch ngầm, bà mẹ Lào cứu sống người lính bị thương, những cuộc gặp gỡ, thương mến và yêu đương chớm nở giữa chiến trường. Tất cả làm cho Cuồn cuộn Sê Pôn vừa mang dáng dấp anh hùng ca, vừa thấm đẫm vẻ đẹp nhân sinh.

Bên cạnh những tiểu thuyết mang nặng hơi thở chiến trường, tác phẩm Hai chồng của Hoàng Dự lại bổ sung một góc nhìn đặc biệt về hậu phương và vai trò của phụ nữ trong chiến tranh. Tác phẩm tái hiện hành trình đầy bể dâu của Hơ Rí, người phụ nữ Ê Đê hai lần làm vợ. Tưởng rằng Y Núi đã hi sinh, Hơ Rí nương nhờ sự chăm sóc của người em chồng Y Thực và xây dựng lại cuộc đời. Nhưng đúng lúc bản làng yên ắng trở lại, Y Núi bất ngờ trở về trong niềm vui xen lẫn sửng sốt của mọi người. Từ đây, bi kịch âm thầm bắt đầu, di chứng chiến tranh khiến Y Núi không còn khả năng giúp vợ thực hiện thiên chức làm mẹ. Sự thật nghiệt ngã ấy đẩy cả ba người vào một thử thách đạo lí và tình cảm không dễ gọi tên. Hoàng Dự đã xử lí sự tác hợp giữa Y Núi - Hơ Rí - Y Thực bằng một bút pháp mềm mại, tinh tế và đầy nhân văn. Không tiếng súng, không tiếng bom, nhưng Hai chồng chính là bức chân dung rõ nhất về những hi sinh không tên. Qua những bi kịch chồng chất của nhân vật, tác phẩm đặt ra câu hỏi lớn, chiến tranh không chỉ lấy đi những người ngã xuống, mà còn để lại những vết thương âm thầm trên những người còn sống.

Những cuốn tiểu thuyết đã tạo thành một chỉnh thể phong phú, góp phần làm đầy hơn bức tranh văn học về chiến tranh cách mạng. Từ chiến dịch lớn đến góc rừng ngập mặn, từ mặt trận Khu 6 đến gian bếp của người phụ nữ ở hậu phương, từ tình yêu giữa lửa đạn đến công tác chính trị âm thầm mà quyết liệt… tất cả cho thấy chiến tranh không chỉ là tiếng súng mà còn là số phận, là mất mát, là niềm tin, là sức mạnh tinh thần bền bỉ của dân tộc.

Những trang văn về một thời lửa cháy
Những trang văn về một thời lửa cháy

Lát cắt chiến trận và kí ức tinh tế

Bên cạnh tiểu thuyết quy mô lớn, mảng truyện ngắn, truyện kí và ghi chép cũng góp phần quan trọng trong việc khắc họa chiến tranh qua những chi tiết nhỏ, những lát cắt vừa tinh tế vừa ám ảnh. Chính ở nơi tưởng như bé nhỏ ấy, người đọc lại bắt gặp độ sâu của kí ức, của tình người và của những nỗi đau không thể gọi thành tên. Các tập truyện ngắn Chiến tranh và tình yêu của Sương Nguyệt Minh, Thượng nguồn của Văn Xương và Tháng ngày chưa xa của Nguyễn Nhuận Hồng Phương mang đến những lát cắt chiến tranh giàu cảm xúc, nơi tình yêu, nỗi nhớ và những day dứt về thân phận con người hòa vào tiếng súng bom của thời đại. Ở mảng truyện kí và ghi chép, những tác phẩm như Một xe, một người cũng đánh của Nguyễn Khắc Nguyệt, Nỗi niềm trung đoàn của Hoàng Đình Bường, Đi qua chiến trận lại của Nguyễn Giang mở ra các tầng kí ức sắc lạnh hơn về những trận đánh khốc liệt, những giờ phút sinh tử và cả những khoảnh khắc rất đỗi đời thường của người lính giữa ranh giới sự sống - cái chết.

Từ chính những lát cắt giàu cảm xúc ấy, Sương Nguyệt Minh trong tập truyện Chiến tranh và tình yêu mang vào trang viết cả hành trang của một đời khoác áo lính, từ những năm tháng cầm súng ở chiến trường Campuchia đến quãng đời lặng lẽ sáng tác tại tạp chí Văn nghệ Quân đội. Thời gian phủ sương lên mái tóc cũng là lúc trải nghiệm và chiều sâu trong ông lắng lại, khiến từng câu chữ càng thấm, càng day dứt. Chiến tranh và tình yêu vì thế vừa mang chất lính mạnh mẽ, vừa phảng phất nét liêu trai đặc trưng của ngòi bút của tác giả, để rồi những trang viết về người lính và cuộc chiến đã lùi xa vẫn tiếp tục ám ảnh, đọng lại và lay động trái tim người đọc.

Thượng nguồn của Văn Xương phần lớn xoay quanh đề tài chiến tranh với mạch cảm xúc đậm đặc và lối khắc họa hiện thực trận mạc đầy mất mát. Từ Đồi không tên, Thượng nguồn, Bóng lặng, Vết xước đến Ngày trở về, Người sau chiến tranh… nhà văn chạm khắc tỉ mỉ nỗi đau, hi sinh và thân phận mong manh của con người trong và sau chiến tranh. Nếu bom đạn tàn khốc để lại thương tích trên thân thể, thì thời hậu chiến lại gieo vào số phận con người sự tan nát, ê chề và nỗi cô đơn chỉ biết nương tựa vào kí ức lí tưởng thuở nào. Có thể nói, Văn Xương là nhà văn của kí ức, ông sống cùng dĩ vãng, lắng nghe những câu chuyện giày vò của người khác và chuyển hóa chúng thành những lát cắt đồng hiện giữa quá khứ - hiện tại, làm cho truyện ngắn không chỉ là câu chuyện kể mà còn là chiêm nghiệm.

Ở thể loại kí, cuốn sách Một xe, một người cũng đánh của Nguyễn Khắc Nguyệt tái hiện cuộc đời chiến đấu và cống hiến của Thiếu tướng Lê Xuân Tấu, người chỉ huy xe tăng PT-76 số hiệu 555 trong trận Tà Mây - Làng Vây và cũng là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân đầu tiên của Bộ đội Tăng thiết giáp. Từ một người lính trực tiếp chiến đấu, ông trở thành Tư lệnh Binh chủng, gắn bó 43 năm với quân đội, trải qua nhiều chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Mĩ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Tinh thần “một xe cũng đánh, một người cũng tiến công” đã làm nên biểu tượng một người chỉ huy bản lĩnh, quyết đoán, luôn tìm cách vượt qua mọi thiếu thốn trong chiến đấu, phát huy tối đa sức mạnh vũ khí và tinh thần của đồng đội. Những chiến công của ông góp phần xây dựng truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng” của Bộ đội Tăng thiết giáp.

Không chỉ nổi bật trong chiến đấu, Lê Xuân Tấu còn để lại dấu ấn khi đảm nhiệm các vị trí chỉ huy sau này. Trên cương vị Tư lệnh Binh chủng, ông cùng Đảng ủy lãnh đạo lực lượng tăng thiết giáp vượt qua nhiều thử thách, khẳng định vai trò là lực lượng đột kích quan trọng trong các chiến dịch then chốt. Một xe, một người cũng đánh còn mang đến cho người đọc những suy ngẫm sâu sắc về lòng yêu nước, tinh thần hi sinh và ý chí kiên định trước thử thách. Những câu chuyện trong sách nhắc người đọc về giá trị của niềm tin, trách nhiệm và phẩm chất của người lính trong những thời khắc quyết định của dân tộc.

Đặt song song với đó, Nỗi niềm trung đoàn của Hoàng Đình Bường mở ra một lát cắt rất khác về chiến tranh. Nếu Nguyễn Khắc Nguyệt tái hiện khí phách xung trận thì Hoàng Đình Bường lùi lại để lắng nghe những rung động nhân sinh phía sau tiếng súng. Tập bút kí không hướng ống kính ngòi bút vào những trận đánh dữ dội với khói lửa và thương vong quen thuộc trong văn học chiến tranh mà nghiêng nhiều hơn về hoài niệm và mục kích những phận người sau đạn bom. Ở đó, trước hết là tâm sự của một người lính trí thức trên đường ra trận, tình cờ được ghé qua quê nhà. Hồn quê trong chiều muộn trên bến Phù Trịch trở thành dư ba day dứt, phảng phất nét tráng ca “cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi” nhưng vẫn rất Việt Nam, rất đời thường của một cái Tết đặc biệt giữa cuộc chiến.

Tập bút kí cũng lần giở những kí ức đầy ám ảnh của Trung đoàn 6 - Đoàn Phú Xuân, một đơn vị mười năm chiến đấu ở Trị - Thiên mà không hề có những đợt “an dưỡng” vượt sông Hiền Lương như nhiều đơn vị khác. Chính vì thế mới có những trạng văn “không giống ai”, như cảnh lính trận phải tự đào hầm huyệt cho chính mình trước giờ nổ súng, hay đêm nằm lên thi thể đồng đội trong tiếng pháo cấp tập… Thế nhưng giữa bom đạn vẫn le lói những khoảng lặng nhân văn. Kí sự Thơ Hoàng Cầm trên chốt kể lại buổi “bình văn” độc nhất vô nhị trên chiếc bàn “hòa hợp dân tộc” khi hiệp định vừa kí. Giữa họng súng hai phía, chàng sinh viên khoa Văn Hoàng Đình Bường giảng Lá diêu bông để hóa giải sự khiêu khích của sĩ quan tâm lí chiến đối phương. Một “giờ dạy” đầu đời, lạ lùng mà ấm áp, để nhiều năm sau bất ngờ hồi sinh trong cuộc gặp lại giữa hai cựu binh ở một quán cà phê mưa xứ Huế…

Những tập truyện ngắn, truyện kí và ghi chép đã đi sâu vào những nét vẽ chi tiết cho bức tranh về con người Việt Nam trong chiến tranh đa chiều, giàu cảm xúc và đầy sức nặng. Mỗi tác phẩm, mỗi cây bút đều góp một gam màu, một nhịp rung riêng vào bản hợp xướng kí ức chung, để chiến tranh không chỉ được nhớ qua những mốc lớn của lịch sử mà còn qua những số phận, những nỗi đau, những tình yêu nhỏ bé nhưng bền bỉ. Và chính ở đó, văn chương không chỉ lưu giữ dấu tích một thời mà còn tiếp tục đối thoại với hiện tại, nhắc người đọc hôm nay về giá trị của hòa bình, của lòng nhân ái và của sức mạnh tinh thần đã giúp cả một thế hệ đi qua lửa đạn.

Suy tư về văn chương và giá trị nhân văn

Nếu tiểu thuyết và truyện ngắn, kí khắc họa chiến tranh bằng những câu chuyện, số phận và lát cắt kí ức, thì mảng tiểu luận - phê bình lại mở ra một chiều tiếp cận khác. Đó là suy tư về chiến tranh bằng ngôn ngữ của chiêm nghiệm, của tri thức và của những giá trị nhân văn bền vững. Những cuốn sách như Khát vọng hòa bình của Bùi Việt Thắng hay Có một trung đội thơ văn của Mai Nam Thắng không tái hiện tiếng súng hay trận mạc mà đi sâu vào bản chất tinh thần của văn chương thời chiến, nơi con người vượt lên nỗi đau để hướng về ánh sáng.

Khát vọng hòa bình là một công trình phê bình - tiểu luận tiếp nối mạch suy tư của tác giả Bùi Việt Thắng về văn học chiến tranh, sau thành công của Khúc bi tráng thứ tư. Nếu trước đây, văn học chiến tranh thường được nhìn như một tổng phổ tác phẩm rời rạc thì cuốn sách này đặt vấn đề lại từ gốc là một tiến trình sống động, luôn vận động theo độ lùi thời gian, sự đổi thay của xã hội và tầm vóc tư tưởng của mỗi thế hệ sáng tác.

Tác giả Bùi Việt Thắng khẳng định, đã đến lúc cần nhìn văn học chiến tranh bằng lăng kính kép trong chiến tranh và sau chiến tranh. Bởi chính thời hậu chiến, khi kí ức đã lắng xuống, nhu cầu tinh thần của con người đổi khác, những tác phẩm mới có cơ hội soi chiếu sâu hơn vào thân phận cá nhân, vào bi kịch tinh thần và cả vào sức mạnh đạo đức đã nâng đỡ con người trong thử thách. Văn học hôm nay không chỉ kể lại chiến tranh, mà còn giúp thế hệ sau tìm “chìa khóa để mở cánh cửa quá khứ”, hiểu được giá trị của hi sinh, tình đồng đội, sức bền tinh thần và bản lĩnh con người Việt Nam.

Những bài viết như Nhà văn Hữu Mai trưởng thành từ người lính Điện Biên Phủ, Nhà văn Nguyễn Đình Thi một thời mặc áo lính, Những trang văn về chiến tranh còn mãi với thời gian, cùng loạt tiểu luận giàu chiều sâu tư tưởng như Tương lai của văn chương tư liệu về chiến tranh, Chiến tranh như chưa hề chấm dứt, Người ta sinh ra không phải đã là lính… góp phần tạo thành một chỉnh thể tư tưởng xuyên suốt khi nhắc đến văn học viết về chiến tranh là để hướng con người đến hòa bình, nhân bản và phẩm giá. Sự thẳng thắn của tác giả cũng thể hiện ở những phê phán đối với các khuynh hướng cực đoan khi nhìn chiến tranh bằng lăng kính méo mó, hạ thấp phẩm giá con người. Phản tỉnh là cần thiết nhưng phản tỉnh không thể biến văn chương thành nơi phủ nhận; văn học phải khơi dậy khát vọng sống, sự kiêu hãnh và khả năng vượt lên số phận.

Song hành với đó, Có một trung đội thơ văn của Mai Nam Thắng là một hành trình suy tư rộng hơn về văn hóa - nghệ thuật. Ngay từ những trang đầu, tác giả xác quyết cách mạng là văn hóa và văn hóa luôn là nguồn lực tinh thần tạo nên sức mạnh dân tộc. Từ nền tảng ấy, cuốn sách dẫn người đọc đi qua nhiều lớp vấn đề khi thì trở về truyền thống, khi lại mở ra những chuyển động của đời sống đương đại. Ấn tượng là những cảm xúc lắng đọng từ bài thơ ghi ở Bảo tàng Đồng Hới, nơi kí ức chiến tranh vẫn còn ngân rung; là các bài viết về đổi mới - sáng tạo theo tư tưởng Hồ Chí Minh; là câu chuyện nêu gương của một danh nhân bình dị gợi suy ngẫm về giá trị con người trong lao động sáng tạo…

Tác giả dành sự quan tâm đặc biệt cho thế hệ trẻ qua bài viết về nghệ sĩ trẻ và “khát vọng lớn”; đồng thời đặt lại vấn đề phê bình chuyên nghiệp - phê bình nghiệp dư, một câu chuyện chưa bao giờ cũ. Những suy nghĩ về nét mới của đề tài truyền thống, về văn hóa hội nhập hay về khát vọng hòa bình cho thấy một tầm nhìn rộng mở, không đóng khung trong phạm vi văn chương đơn thuần.

Chiến tranh, qua ngòi bút của nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, không chỉ là những trang sử bi hùng mà còn là không gian nhân văn, nơi phẩm giá, tình yêu, niềm tin và ý chí kiên cường được soi chiếu ở cả mặt trận và hậu phương. Những cuốn sách được xuất bản trong dịp này vì thế mở ra đối thoại chân thực của quá khứ với hiện tại, khơi dậy trong người đọc hôm nay lòng tri ân, tự hào và hơn hết là khát vọng giữ gìn hòa bình mà biết bao thế hệ đã đổi bằng xương máu. Văn chương, bằng sức mạnh của kí ức và nhân ái, vẫn tiếp tục lặng lẽ giữ lửa cho những giá trị vững bền của dân tộc như vậy.

“CHUYỆN SÔNG HÀN”: Dòng chảy lịch sử văn hóa của một miền đất

“CHUYỆN SÔNG HÀN”: Dòng chảy lịch sử văn hóa của một miền đất

Baovannghe.vn - Chương trình nghệ thuật “Chuyện Sông Hàn” do Nhà hát Trưng Vương (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thành phố Đà Nẵng dàn dựng và biểu diễn, ra mắt lần đầu tiên vào chiều ngày 29/4/2026, nhân kỷ niện 51 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Níu - Thơ Thai Sắc

Níu - Thơ Thai Sắc

Baovannghe.vn- Không ai có thể níu định mệnh mình/ Như chẳng thể níu cuộc tình tha hóa
"Cận kề cái chết" - Dấu ấn mới của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên

"Cận kề cái chết" - Dấu ấn mới của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên

Baovannghe.vn - Dự án điện ảnh “Cận kề cái chết” thể loại phim chiến tranh, lịch sử đã chính thức được khởi động, đánh dấu sự trở lại của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên.
Nguyễn Trãi vẫn hằng đêm không ngủ - Thơ Phùng Trung Tập

Nguyễn Trãi vẫn hằng đêm không ngủ - Thơ Phùng Trung Tập

Baovannghe.vn- Dẹp giặc ngoại xâm xong rồi/ lòng vẫn khôn nguôi
Những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 5/2026

Những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 5/2026

Baovannghe.vn - Người lao động khi tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung; Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định EVFTA; Nội dung chi từ nguồn kinh phí quản lý hành chính giao thực hiện chế độ tự chủ... sẽ chính thức có hiệu lực từ tháng 5/2026.