|
Bài thơ Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) còn được gọi là bài thơ Thần trên sông Như Nguyệt, tương truyền của danh tướng Lý Thường Kiệt (1019-1105), được xem là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Từ khi bài thơ ra đời, tinh thần “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” luôn khích lệ, cổ vũ ý chí tự tôn dân tộc, đoàn kết xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước.
“Bích Động thi xã” - thi đàn đầu tiên của nước ta không khai mở ở Kinh kỳ mà tại chùa Quỳnh Lâm (tỉnh Quảng Ninh), nơi có trung tâm đạo Phật với thiền phái Trúc Lâm, có chiến thắng Bạch Đằng, có kỳ quan Vịnh Hạ Long.
Ngay từ buổi đầu hình thành, trải qua thời Lý - Trần, thơ ca Việt hướng cái đẹp gắn với vận mệnh đất nước, chung đúc ý chí, tâm hồn, cốt cách, khí phách của người Việt, dân tộc Việt.
Năm 1432, sau khi dẹp loạn Đèo Cát Hãn trở về, Lê Thái Tổ (1388-1433) cho khắc hai bài thơ trên vách đá, một ở núi Pú Huổi Chỏ (xã Lê Lợi, tỉnh Lai Châu), một ở Thác Bờ (xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình cũ), thể hiện ý chí mạnh mẽ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.
Sau năm 1975, cả hai bài thơ đều phải cắt thành bia di dời do ảnh hưởng của hai công trình thủy điện lớn Hòa Bình và Sơn La. Bài thơ ở Pú Huổi Chỏ, do ảnh hưởng công trình thủy điện Sơn La, cuối năm 2009 đã được khoan cắt thành bia để di dời. Nay bia Lê Lợi được đặt trong đền thờ Lê Lợi, cách nơi cũ 500m. Bài thơ ở Thác Bờ, do ảnh hưởng công trình thủy điện Hòa Bình, được khoan cắt đặt tại sân Nhà văn hóa thị xã Hòa Bình. Đầu thế kỷ XXI, khi khu vực hồ Hòa Bình được quy hoạch Khu du lịch cấp quốc gia, bia Lê Lợi được đưa trở lại đồi Hang Thần và đặt tại khuôn viên khu tâm linh mang tên Thác Bờ linh từ (xã Tiền Phong, tỉnh Phú Thọ).
Bài thơ thứ nhất, tuyên bố thống nhất giang sơn, có viết: “Thảo mộc kinh phong hạc/ Sơn xuyên nhập bản đồ/ Đề thi khắc nham thạch/ Trấn ngã Việt Tây ngung” (Gió thổi, hạc kêu làm cho loài (giặc) cỏ rả run sợ/ Núi sông đã vào chung một bản đồ/ Đề thơ khắc vào núi đá/ Trấn giữ miền Tây của nước Việt ta).
Bài thơ thứ hai, khẳng định phòng thủ biên giới, giữ yên biên giới là vấn đề hệ trọng muôn đời: “Biên phòng hảo vị trù phương lược/ Xã tắc ưng tu kế cửu an” (Phải có phương lược tốt phòng thủ biên giới/ Cần tìm kế sách hay làm cho xã tắc yên ổn lâu dài).
Lê Lợi còn có bài thơ khắc trên núi tại xã Minh Khai, tỉnh Cao Bằng từ năm 1431, trước hai bài thơ trên, trong một cuộc chinh phạt, giữ yên bờ cõi biên cương: “Bất từ vạn lý chỉnh sư đồ/ Duy dục biên phương xích tử tô” (Không ngại ngàn dặm, chỉnh đốn quân đội/ Chỉ mong biên cương dân chúng được sống yên ổn).
Tháng 2 mùa xuân năm Quang Thuận thứ 9 (1468), Lê Thánh Tông (1442-1497) chỉ huy sáu quân, duyệt võ trên sông Bạch Đằng. “Thi nhật phong hòa cảnh lệ, hải bất dương ba, Hoàng Hải tuần An Bang trú sư vu Truyền Đăng sơn hạ, ma thạch đề thi nhất luật” (Hôm ấy, gió hòa cảnh đẹp, biển không nổi sóng, ta vượt qua Hoàng Hải, đi tuần An Bang, đóng quân dưới núi Truyền Đăng, bèn mài đá đề một bài thơ). Khắc dưới bài thơ là bút hiệu của Lê Thánh Tông: “Thiên Nam động chủ đề”.
Bài thơ ca ngợi sự thanh bình, vững bền của non sông: “Thiên Nam vạn cổ hà sơn tại/ Chính thị tu văn yển vũ niên” (Trời Nam muôn thuở non sông vững/ Yển vũ tu văn dựng nước này). Có bài thơ, núi Truyền Đăng (phường Hồng Gai, tỉnh Quảng Ninh) còn được gọi là núi Bài Thơ. Bốn chữ “Hải bất dương ba” (biển không nổi sóng) trong phần lạc khoản của bài thơ, được khắc trên bức hoành phi thờ tại đình Quan Lạn (Đặc khu Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).
Tại chiến khu Việt Bắc gió ngàn, trên sông Phó Đáy, Rằm tháng Giêng năm Mậu Tý, tức ngày 24/2/1948, Bác Hồ - vị chỉ huy tối thượng đã viết bài thơ Nguyên tiêu:
NGUYÊN TIÊU
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt
chính viên,
Xuân giang, xuân thủy tiếp
xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
Xuân Thủy dịch:
RẰM THÁNG GIÊNG
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời
thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân
đầy thuyền.
Bài thơ Nguyên tiêu là bức tranh đẹp, tĩnh lặng mà thiết tha, mơ mộng mà tỉnh thức, với tinh thần lạc quan, ý chí mạnh mẽ, chủ động thời cuộc. Tình yêu thiên nhiên, lòng yêu nước, yêu giống nòi hòa quyện bồi đắp nên tâm hồn lớn.
Từ bài thơ Thần trên sông Như Nguyệt đến bài thơ Nguyên tiêu trên sông Phó Đáy, còn phải kể đến Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều…, những áng văn chương bất hủ.
Kế tiếp bài thơ Nguyên tiêu của Bác Hồ, là hàng loạt tác phẩm thơ tiêu biểu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của các tác giả: Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Quang Dũng, Chính Hữu, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Hoàng Trung Thông, Tế Hanh, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thi Hoàng, Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ…
Tôn vinh thơ ca, Hội Nhà văn Việt Nam quyết định lấy ngày rằm tháng Giêng, ngày Bác Hồ viết bài thơ Nguyên tiêu, làm Ngày Thơ Việt Nam hằng năm và bắt đầu tổ chức từ năm 2003, tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội.
Trước đó, Ngày Thơ Quảng Ninh 29/3 hằng năm lần đầu tiên tổ chức vào ngày 29/3/1988, kỷ niệm 520 năm (1468-1988) ngày vua Lê Thánh Tông cho khắc bài thơ của mình lên núi Truyền Đăng. Trước đó nữa, mừng xuân Canh Thân 1980 - mùa xuân thứ 5 thống nhất đất nước, các nhà thơ quê hương núi Nhạn gặp gỡ, chia sẻ thơ ca. Từ sau tái lập tỉnh Phú Yên (1/7/1989), chương trình đêm thơ Nguyên tiêu được tổ chức trên núi Nhạn, có tiếng vang cả một vùng duyên hải Nam Trung bộ.
Ngày Thơ Quảng Ninh 29/3 của tỉnh Quảng Ninh và Đêm thơ Nguyên tiêu núi Nhạn của tỉnh Phú Yên (nay thuộc Đắk Lắk) đã trở thành sự kiện hoạt động nghệ thuật, lễ hội văn hóa, là gợi ý thực tiễn để hình thành Ngày Thơ Việt Nam.
Thật vui mừng khi Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 năm nay với chủ đề “Trước biển lớn” được Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại tỉnh Quảng Ninh, quê hương thứ hai của tôi, vào ngày 3/3/2026.
Chung vui với sự kiện này, nhà văn Phan Đức Nam từ phương Nam cho biết, trên 20 năm nay ông luôn tìm kiếm thơ hay để chép vào sổ tay, đến nay đã chép được 7 tập sổ. “Chỉ cần một câu thơ hay càng ủ hương càng thấm. Năm ngoái chép được câu thơ xuân tuyệt hay của nhà thơ Việt Phương: “Đi suốt đường hoa, chỉ ngắm người”, ông tâm sự.
Bạn Phạm Hồng Hà, người tham gia quản trị mạng thivien.net, luôn hỏi thông tin về Ngày Thơ Việt Nam tổ chức ở Quảng Ninh, rồi gửi tôi ảnh hoa sen cắm bình kèm bài thơ Sâu thẳm lòng anh: “Chỉ có thế/ Chỉ cần có thế/ Thơ/ Là nơi/ Neo giữ tâm hồn// Chỉ có thế/ Chỉ cần có thế/ Bóng em hòa/ Trong/ Sâu thẳm/ Lòng anh!”. Bạn ấy cho biết, vừa đi chùa về thì viết bài thơ này, khiến tôi nhớ tới chữ “thi” (thơ) chiết tự chữ Hán có bộ “ngôn” (lời nói) bên cạnh bộ “tự” (chùa). Thơ - lời nói bên chùa cần luôn nghiêm cẩn, có ý nghĩa và thiêng liêng.
Thơ phải được tôn vinh và di dưỡng cho thơ ngày một xứng đáng hơn. Thơ tô thắm thêm dáng hình non sông, lưu giữ ký ức truyền thống và lịch sử dân tộc, nguồn cảm hứng bất tận hướng con người tới giá trị chân - thiện - mỹ.
Thơ luôn đẹp và bền bỉ đến với con người. Thời gian thử thách và thanh lọc, những tác phẩm có giá trị nghệ thuật - tiếng nói của thân phận con người, số phận dân tộc sẽ đi cùng năm tháng.
Thơ thuộc về mọi người, sinh ra từ đơn độc thầm kín mà rung động, đồng cảm với mọi người. Thơ cũng bị tổn thương khi buộc “chứng kiến” việc rẻ rúng nhau trong phê bình thơ, hoặc khi người làm thơ ngang nhiên công bố tác phẩm dựa vào AI sáng tác. AI có thể làm thay, làm tốt hơn con người ở từng việc, nhưng với thơ thì không thể, vì đây là sáng tạo từ tâm hồn, nhận thức, ký ức, trải nghiệm, đậm dấu ấn rất riêng của cá nhân.
Vì vậy, việc ứng xử với thơ đang là vấn đề chúng ta phải nghiêm túc nhìn nhận, nhất là cần tôn trọng sự sáng tạo, tuyệt đối không dễ dãi trong sáng tác, xuất bản, phê bình, giải thưởng, đảm bảo cho thi ca luôn làm đẹp con người.
Thơ khắc núi đá nơi biên cương, hải đảo trải hàng thiên niên kỷ, khắc vào lịch sử - văn hóa Việt và khắc vào tâm hồn mỗi người Việt yêu thơ - yêu núi sông gấm vóc, để Tổ quốc mãi mãi trường tồn.