Diễn đàn lý luận

Về tác giả và nguồn gốc bài thơ Nam quốc sơn hà

Vũ Thanh
Lý luận phê bình 09:24 | 28/01/2026
Baovannghe.vn - Nam quốc sơn hà vốn không có nhan đề, người đời sau lấy bốn chữ đầu tiên của câu đầu để đặt tên cho bài thơ (nhan đề này xuất hiện lần đầu trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2, NXB Văn học, 1976).
aa
Nam quốc sơn hà

Phiên âm:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên phận định tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

(Theo nguyên bản chữ Hán trong Đại Việt sử ký toàn thư, A3/1)

Dịch nghĩa:

Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam, hoàng đế nước Nam ở,

Tại sách trời đã phận định rạch ròi.

Cớ sao lũ giặc ngạo mạn dám đến xâm phạm?

Chúng bay sẽ chuốc lấy bại vong!

Dịch thơ:

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Rành rành định phận tại sách trời

Cớ sao lũ giặc đến xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời! (1)

Tác phẩm còn được gọi là Thơ thần do có xuất xứ gắn với truyền thuyết về hai anh em Trương Hống, Trương Hát, thần sông Như Nguyệt (một nhánh của sông Cầu ngày nay). Bài thơ còn chưa được xác định về tác giả và thời điểm ra đời và là chủ đề tranh luận của giới nghiên cứu qua nhiều năm, chủ yếu trên các phương diện: tác giả, thời điểm ra đời tác phẩm, văn bản, dịch thuật…

Nam quốc sơn hà có nhiều văn bản khác nhau, và có lẽ đã được sử dụng, sửa chữa, bổ sung qua nhiều đời. Ở đây chúng tôi chọn văn bản được in trong quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên làm văn bản chính thức. Phần dịch nghĩa và dịch thơ cũng có nhiều bản của nhiều dịch giả khác nhau, chúng tôi tạm chọn bản in trong cuốn Lịch sử Việt Nam, tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013 (không ghi tên người dịch) để tìm hiểu.

Một thời gian dài chúng ta cho rằng chính Lý Thường Kiệt là người sáng tác bài thơ Nam quốc sơn hà. Thuyết này, có lẽ, bắt đầu từ học giả Trần Trọng Kim. Trong cuốn Việt Nam sử lược xuất bản năm 1918, ông viết: “Lúc bấy giờ quân nhà Tống đánh hăng lắm, Lý Thường Kiệt hết sức chống giữ, nhưng sợ quân mình có ngã lòng chăng, bèn đặt ra một chuyện, nói rằng có thần cho bốn câu thơ…”(2) Từ đó các sách vở đời sau và nhiều nhà nghiên cứu đều mặc nhiên coi tác giả bài thơ là Lý Thường Kiệt. Nhưng các tư liệu hiện có như các thần tích, sử sách, địa chí, truyền thuyết, truyện ký… đều không ghi tên tác giả và cho thấy Lý Thường Kiệt không phải là người đầu tiên đã sử dụng bài thơ và có lẽ bài thơ đã ra đời trước khi ông cho đọc trong đền Trương Hát để khích lệ tướng sĩ trong cuộc chiến chống quân xâm lược Tống năm 1077 trên phòng tuyến sông Như Nguyệt. “Không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà là của Lý Thường Kiệt. Không một sử liệu nào cho biết điều đó cả.”(3)

Theo Trần Nghĩa trong bài Thử xác lập văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà” thì ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Viện Sử học hiện lưu trữ khoảng 26 văn bản Nam quốc sơn hà. Bùi Duy Tân trong Truyền thuyết về bài thơ “Nam quốc sơn hà” là vô danh không phải của Lý Thường Kiệt thì cung cấp một con số là 31. Còn theo Nguyễn Thị Oanh trong bài viết Văn bản xưa nhất về truyền thuyết trong có bài thơ “Nam quốc sơn hà”(4) thì con số thống kê lên tới khoảng 35 dị bản sách và 8 dị bản thần tích về truyền thuyết trong đó có bài thơ được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm hiện còn lưu trữ tại các thư viện ở Hà Nội. Nhưng đó chỉ là những văn bản đã có trong tay. Vùng sông Cầu có đến 291 xã có miếu đền thờ thần Trương Hống, Trương Hát. Nếu như mỗi đền có một thần tích thì ta sẽ có một số lượng dị bản của bài thơ còn lớn hơn nhiều. Trong tất cả các văn bản được các nhà nghiên cứu tìm hiểu ở trên thì không có văn bản nào đề rằng Lý Thường Kiệt là tác giả, hoặc tương truyền là tác giả của Nam quốc sơn hà. Cũng trong bài viết trên, tác giả Nguyễn Thị Oanh còn cho biết “trong các thần tích sưu tầm ở đền họ Trương ở các vùng ven sông Cầu, truyền thuyết trong có bài thơ Nam quốc sơn hà phần nhiều được chép gắn với Lê Đại Hành và công cuộc kháng chiến chống giặc Tống năm 981…” Tác giả bài viết cũng dẫn ra nhiều chứng cớ và đi đến nhận định rằng “truyền thuyết xưa nhất có bài thơ Nam quốc sơn hà là truyền thuyết gắn với Lê Đại Hành”. Bài thơ gắn liền và là một phần hữu cơ của truyền thuyết về hai anh em thần sông Như Nguyệt. Truyền thuyết ghi lại rằng: Trương tướng quân anh em hai người, anh tên là Hống, em là Hát, đều là tướng giỏi của Triệu Việt Vương (524 - 571) trong cuộc kháng chiến anh dũng chống quân Lương xâm lược. Sau Triệu Việt Vương thất bại về tay Lý Phật Tử. Phật Tử xưng là Hậu Lý Nam Đế dụ hai anh em ra cho làm quan, hai người đều nói: “Bề tôi trung không làm quan với vua đã làm hại chúa mình.” Rồi ẩn mình ở núi Phù Long. Nam đế gọi ép mấy lần hai anh em đều từ chối rồi tự vẫn để giữ tiết với chủ cũ. Truyền thuyết này được ghi chép trong các thần phả, thần tích như: Trương tôn thần sự tích - thần tích về Trương Hống, Trương Hát được ghi chép tại đền miếu thờ hai ông ở vùng sông Cầu; trong Việt điện u linh tập - tập thần tích ghi chép về các vị thần đất Việt của Lý Tế Xuyên; trong Lĩnh Nam chích quái tương truyền của Trần Thế Pháp và trong sử ký như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên…

Về tác giả và nguồn gốc bài thơ Nam quốc sơn hà
Bài thơ Sông núi nước Nam trong SGK Ngữ văn 8, tập 1 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam, 2023, tr. 70.

Việt điện u linh tập (1329) của Lý Tế Xuyên có truyện Khước địch thiện hựu trợ thuận đại vương, Uy địch dũng cảm hiển thắng đại vương ghi lại câu chuyện hai thần Trương Hống, Trương Hát. Ông anh được lập đền thờ ở cửa sông Như Nguyệt, ông em được lập đền thờ ở cửa sông Nam Bình, đã âm phù đọc thơ giúp Lý Thường Kiệt đánh giặc Tống. Theo những tư liệu mà chúng ta hiện có trong tay thì Việt điện u linh tập là cuốn sách cổ nhất ghi chép truyền thuyết về bài thơ Nam quốc sơn hà: “Triều vua Lý Nhân Tông, quân Tống nam xâm, kéo tới địa hạt của ta, nhà vua liền sai Thái úy Lý Thường Kiệt đặt hàng rào dọc bờ sông để cố thủ.

Một đêm kia, quân sĩ bỗng nhiên nghe trong đền cất tiếng cao, ngâm rằng:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Quả nhiên quân Tống thua trận, thần mộng rõ ràng.”(5) Văn bản của bài thơ này giống hệt như trong Đại Việt sử ký toàn thư sau này.

Lĩnh nam chích quái lục của Trần Thế Pháp (khoảng cuối thế kỷ XIV) trong truyện Hai thần Long Nhãn và Như Nguyệt thì lại chỉ ghi việc Trương Hống, Trương Hát âm phù và đọc thơ giúp Lê Hoàn đánh quân Tống (năm 981) trên đoạn sông Đại Than (gần sông Cầu) và cũng cho ta một văn bản ít nhiều khác với văn bản quen thuộc, chứ không ghi việc thần âm phù cho Lý Thường Kiệt (6).

Theo Bùi Duy Tân trong bài viết đã dẫn ở trên thì Trương tôn thần sự tích (bản in VHv 1268 - Viện Nghiên cứu Hán Nôm) mặc dù được in muộn, song là văn bản tích hợp được nhiều tư liệu về truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát liên quan đến Nam quốc sơn hà hơn cả. Tấm lòng thủy chung son sắt và ý chí quật cường, cũng như cái chết oan khuất của hai anh em đã cảm đến trời đất, sự linh thiêng được nhân lên gấp nhiều lần. Hai anh em được phong thần và được thờ cúng ở nhiều nơi, trở thành hai trong những vị thần có nhiều công tích nhất trong việc âm phù cho các bậc vua chúa trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và chinh phạt những đám giặc nổi loạn. Năm Thiên Phúc thứ hai (981) đời vua Lê Đại Hành, nhà Tống sai Hầu Nhân Bảo đem quân xâm lược nước ta, hai thần theo âm phù nhà vua đánh giặc. Lời thơ Nam quốc sơn hà đã vang lên từ trong đền thờ thần. Thần tích này cũng ghi việc hai thần giúp Lý Thường Kiệt đánh quân Tống trên sông Như Nguyệt.

Trong nhiều truyền thuyết khác về giai đoạn lịch sử này còn thấy có việc nhiều vị thần khác âm phù cho các vua chúa, tướng lĩnh đánh giặc ngoại xâm. Như trong Việt điện u linh tập còn có truyện Chứng An Minh ứng Hựu Quốc Công(7) ghi việc Lý Thái Tổ nằm mộng thấy Lý Phục Man, tướng của Lý Nam Đế kể lại chuyện đã đem quỷ binh phù giúp Ngô Tiên chủ đánh quân Nam Hán, giúp Lê Đại Hành đánh Tống và trước khi trở về cõi trời còn để lại một bài thơ tặng lại nhà vua. Ba vị thần đền Đào Xá (Thanh Thủy, Phú Thọ) cũng đọc thơ phù giúp Lý Thường Kiệt thêm ý chí đánh Tống(8).

Qua một số tư liệu đã trình bày ở trên có thể thấy rằng, bài thơ Nam quốc sơn hà nằm trong truyền thuyết về hai anh em Trương Hống, Trương Hát với các sự kiện chủ yếu diễn ra ở những địa điểm quanh vùng sông Cầu từ thời kỳ đầu đất nước tự chủ gắn liền với tên tuổi của hai anh hùng dân tộc chống quân xâm lược Tống là Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt (hai thần âm phù cho rất nhiều bậc vua chúa, tướng lĩnh như Nam Tấn vương nhà Ngô, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn... nhưng không phải trong trường hợp nào cũng xuất hiện bài thơ). Các cuốn sách được coi là chính thống có tính chất nhà nước như Việt điện u linh tập hoặc Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép bài thơ thì cũng đều lấy từ những lời “tục truyền”, “tương truyền”, tức là đều lấy từ các tư liệu dân gian. Bài thơ không ghi tên người sáng tác, không có một văn bản chính thức mà mang tính chất dân gian, được truyền tụng và sửa chữa cho phù hợp với từng bối cảnh mà các truyền thuyết kể lại.

Từ đó có thể xác định một cách tương đối thời điểm ra đời của bài thơ như sau:

- Nam quốc sơn hà là một bài thơ mà chúng ta chưa biết thời gian sáng tác cụ thể. Dựa vào nội dung thể hiện: khẳng định chủ quyền, độc lập dân tộc, gắn liền với những chiến công oanh liệt của Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt trên vùng sông Cầu, có thể đi đến kết luận: bài thơ nhiều khả năng ra đời vào thời kỳ đầu tự chủ, khoảng thế kỷ X, có thể vào những năm Lê Đại Hành lãnh đạo nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống.

- Không phải ngẫu nhiên mà bài thơ lại gắn với truyền thuyết về hai anh hùng chống giặc ngoại xâm Trương Hống, Trương Hát. Thứ nhất, đây là hai vị thần rất linh thiêng, đền thờ các vị nằm trên vùng sông Cầu, nơi gắn tên tuổi Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt với những chiến công hiển hách của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống. Thứ hai, việc bài thơ quan hệ mật thiết với các truyền thuyết dân gian mang tính chất linh thiêng, kỳ ảo là biểu hiện của một trong những đặc trưng của văn học thời kỳ đầu dựng nước. Chất kỳ ảo trong văn học giai đoạn này còn mang đậm màu sắc siêu nhiên, thô phác và gắn liền mật thiết với tín ngưỡng và văn hóa, văn học dân gian.

Ở giai đoạn đầu của văn học dân tộc đã xuất hiện một hiện tượng thơ khá lạ. Đó là những bài thơ “thần”, thơ “sấm” mang những lời lẽ khó hiểu, được gắn liền với những truyền thuyết, những huyền thoại khá bí hiểm. Việc xuất hiện những bài sấm truyền, dùng lời nói kín (ẩn ngữ) để dự đoán hung cát có lẽ đã xuất hiện từ thế kỷ IX - X. Nổi bật hơn cả là những chùm thơ bí hiểm xuất hiện rầm rộ trong giai đoạn chuẩn bị cho việc Lý Công Uẩn lên ngôi thay nhà Tiền Lê. Điều độc đáo là chỉ có thể lý giải một cách thấu đáo ý nghĩa tiên tri mang tính chất thần linh của những bài thơ này khi đặt nó trong bối cảnh của những huyền thoại xung quanh, giữa chúng có sự lý giải, bổ sung mật thiết cho nhau. Một số bài thơ theo lối chiết tự đã xuất hiện chỉ rõ việc nhà Lý lên thay nhà Tiền Lê mà Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi lại như bài Đại sơn (Núi lớn) tính chất thần bí khá rõ nét, bài Đại đức (Đức lớn) xuất hiện khi sư Đa Bảo chùa Kiến Sơ nghe thần đọc thơ để khen đức lớn của Lý Công Uẩn khi vị hoàng đế tương lai đến thăm chùa; hoặc khi trong đêm tĩnh mịch sư Vạn Hạnh nghe thấy tiếng ngâm thơ vọng tới từ mộ Hiển Khánh vương (cha của Lý Công Uẩn) và ông đã sai người ghi lại được bốn bài. Suốt trong một thời gian dài, những điều linh dị như vậy cứ liên tiếp xuất hiện…

Như vậy là sự ra đời của các bài thơ “thần” kỳ bí được gắn với những truyền thuyết kỳ ảo lại xuất phát từ những yêu cầu chính trị cấp bách của đất nước. Hầu như những vấn đề lớn, những sự kiện chính trị quan trọng đương thời đều có thể nhận thấy dấu vết qua những mẩu huyền thoại và những bài thơ “thần”. Trước các cuộc chiến quan trọng, các bậc vua chúa, tướng lĩnh đều tiến hành việc cầu cúng, xin các vị thần linh, tổ tiên của đất nước phù trợ cho con cháu. Sử sách cũng ghi lại rằng, Lê Hoàn trước họa xâm lược của quân Tống đã nhờ Khuông Việt đại sư đi cầu nguyện tại núi Vệ Linh (nơi thờ Thánh Gióng), cầu cho quân ta chiến thắng trước kẻ thù hung bạo.

Rất nhiều khả năng Nam quốc sơn hà đã ra đời từ một “phương thức” sáng tác như vậy. Để bài thơ trở nên linh thiêng, có sức mạnh thu phục nhân tâm, khích lệ sức mạnh tinh thần và thể chất của quân sĩ trước một kẻ thù hùng mạnh nhưng phi nghĩa và khiến chúng phải kinh sợ mà tan vỡ thì người sáng tác - chắc chắn là một nhân vật quan trọng, tài năng đương thời buộc phải giấu kín tên tuổi mình và gán những lời thơ mang hào khí và sức mạnh chính nghĩa của dân tộc do mình sáng tác cho thần linh, vị thần bản địa nơi sẽ diễn ra cuộc chiến đấu một mất, một còn với kẻ thù xâm lược. Nhà nghiên cứu Lê Mạnh Thát trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam(9) đã cho rằng bài thơ nhiều khả năng là do thiền sư Đỗ Pháp Thuận viết, nhưng ông cũng không đưa ra được chứng cứ nào thật sự thuyết phục.

Nam quốc sơn hà chính là một bài hịch bố cáo với thiên hạ về chủ quyền và sức mạnh của dân tộc, là một bài sấm truyền tiên đoán sự thất bại tất yếu của kẻ thù xâm lược và là bài thơ khẳng định thắng lợi đã được báo trước của quân dân Đại Việt. Điều đó sẽ như một lời khích lệ quan trọng khiến cho ý chí tiêu diệt kẻ thù của các chiến binh dưới quyền chỉ huy của Lê Đại Hành và nguyên soái Lý Thường Kiệt trở nên vô địch và cũng là điều khiến kẻ thù hoảng sợ mà tan rã. Bởi đó là “tiếng nói” của “thần”, của hồn thiêng sông núi, là ý chí của cả một dân tộc đang quyết hy sinh tất cả để bảo vệ độc lập và chủ quyền. Và thần Trương Hống, Trương Hát với sự linh thiêng nhân đôi, hai vị thần nổi danh với những chiến công chống giặc ngoại xâm và sẵn sàng chết để chứng tỏ lòng trung nghĩa - một đức tính vốn được cả thần linh và con người đề cao đã được lựa chọn để thực hiện sứ mệnh thiêng liêng mà thời đại giao phó. Bài thơ “do thần linh đọc” gắn liền với những cuộc chiến một mất một còn với kẻ thù xâm lược diễn ra trong thời kỳ đầu dân tộc ta mới giành được độc lập cho thấy tính chất lễ nghi, tâm linh của tác phẩm quan trọng này. Vì vậy, khi nghiên cứu, tìm hiểu Nam quốc sơn hà phải luôn gắn với môtíp “âm phù dương trợ” linh thiêng, với nghi lễ đọc thơ thần, thơ sấm, thơ hịch10 của văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, có một điều mà chúng ta có thể suy đoán là truyền thuyết nhiều khả năng đã xuất hiện trước khi bài thơ ra đời, khi mà sự linh thiêng của hai vị thần, tinh thần yêu nước quật cường của họ đã được lưu truyền rộng rãi trong dân chúng.

Bài thơ “thần” này đã được huyền thoại hóa, truyền thuyết hóa, linh thiêng hóa, được lưu truyền như một tác phẩm dân gian, phi thời gian, không gian và có nhiều dị bản, được sửa chữa và thay đổi cho phù hợp với từng bối cảnh cụ thể. Nam quốc sơn hà cũng đã đạt tới vẻ đẹp nghệ thuật; huyền thoại về sự ra đời của tác phẩm cũng tìm được một khung cảnh lý tưởng: Trời đêm tĩnh mịch, sông nước mênh mông, sự căng thẳng của chiến trường và huyền bí của ngôi đền… Tất cả những yếu tố đó tạo nên không khí thiêng liêng khi bài thơ được ngâm vang, tuyên bố chủ quyền độc lập và cảnh cáo kẻ thù xâm lược. Các chiến binh Đại Việt trong khung cảnh đó đã tiếp nhận bài thơ vừa với khí thế và vị thế chủ nhân của một đất nước có chủ quyền độc lập, vừa với niềm tin có màu sắc tôn giáo, tâm linh bên cạnh sự rung cảm nghệ thuật.

Có thể khẳng định, Nam quốc sơn hà chắc chắn được ra đời vào thời kỳ đầu khi nền độc lập, tự chủ của dân tộc Việt còn đang trứng nước và đứng trước thử thách lớn lao, trước các cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến phương Bắc. Do phải thực hiện một vai trò vô cùng đặc biệt mang tính chất tâm linh, tín ngưỡng, phục vụ cho công cuộc bảo vệ và gìn giữ nền độc lập non trẻ của dân tộc, bài thơ không lưu tên tác giả, được gán cho thần linh và lưu truyền như một tác phẩm dân gian. Bài thơ có nội dung và giá trị nghệ thuật vô cùng lớn lao, được coi như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam, mở đầu cho một thời kỳ phát triển trong độc lập, tự do của đất nước.

........................................

(1). Theo Trần Thị Vinh (chủ biên), Lịch sử Việt Nam, tập 2, NXB Khoa học xã hội, H, 2013, tr.289.

(2). Trích theo Việt Nam sử lược, tái bản, NXB Văn hóa thông tin, H., 1999, tr.112.

(3). Hà Văn Tấn, “Lịch sử, sự thật và sử học”, Tạp chí Tổ quốc số 401, tháng 1-1988.

(4). Xin xem Tạp chí Văn hóa dân gian, số 2-2002, tr.33-42.

(5), (6), (7). Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 3: “Văn học thế kỷ X-XIV”, NXB Khoa học xã hội, 2004, tr.260, 415, 260.

(8). Theo Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, H., 1971, tr.139.

(9). Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2, NXB TP Hồ Chí Minh, 2001, tr.473-483.

(10). Về nghi lễ đọc thơ thiêng, Đại Việt sử ký toàn thư sau này còn chép việc Nguyễn Thuyên đời Trần làm thơ “Văn tế đuổi cá sấu”: Mùa thu, tháng 8 năm Nhâm Ngọ 1282, khi quân Nguyên đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai “Bấy giờ cá sấu đến sông Lô. Vua sai Thượng thư Hình bộ là Nguyễn Thuyên làm văn ném xuống sông, cá sấu tự nhiên đi mất… (tập 2, NXB Khoa học xã hội, 1971, tr.52).

"Tóc, Giấy, Nước" tham dự Liên hoan phim Tài liệu “En ville !” Brussels -Bỉ

"Tóc, Giấy, Nước" tham dự Liên hoan phim Tài liệu “En ville !” Brussels -Bỉ

Baovannghe.vn - Bộ phim tài liệu hợp tác sản xuất giữa Việt Nam và Bỉ mang tên “Hair, Paper, Water” (Tóc, Giấy, Nước) dự kiến sẽ được trình chiếu tại Liên hoan phim Tài liệu “En ville !” Brussels -Bỉ.
Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, góp phần quyết định tương lai của dân tộc

Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, góp phần quyết định tương lai của dân tộc

Baovannghe.vn - Tham luận của Đảng bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo trình bày tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng.
Vở nhạc kịch "Giấc mơ Chí Phèo" đoạt giải Tinh hoa sân khấu

Vở nhạc kịch "Giấc mơ Chí Phèo" đoạt giải Tinh hoa sân khấu

Baovannghe.vn - Mới đây, vở nhạc kịch Giấc mơ Chí Phèo của Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long đã đoạt giải hạng mục Tinh hoa sân khấu trong lễ trao giải Tinh hoa Việt năm 2025.
Tạo khí thế mới để văn nghệ sĩ yên tâm cống hiến

Tạo khí thế mới để văn nghệ sĩ yên tâm cống hiến

Baovannghe.vn - Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là một quyết sách chiến lược có ý nghĩa đặc biệt đối với tiến trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Virus Nipah: Đặt cộng đồng vào trạng thái phòng vệ và cảnh giác cao độ

Virus Nipah: Đặt cộng đồng vào trạng thái phòng vệ và cảnh giác cao độ

Baovannghe.vn - Ngày 28/1, Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) có văn bản khẩn gửi Sở Y tế 31 tỉnh, thành phố; 5 Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế tại Hải Phòng, Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh, Khánh Hòa và 26 Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) các địa phương, yêu cầu tăng cường giám sát, phòng chống dịch bệnh do virus Nipah.