Đêm ấy, tôi ra khỏi phòng, rồi leo lên gác thượng trung tâm hội nghị tỉnh. Từ điểm cao này, phóng tầm mắt thấy cả một vùng mênh mông ngã ba sông, nơi hội tụ của ba dòng Thao - Đà - Lô lấp lóa ánh đèn. Trong tâm trí tôi bỗng lóe lên một thứ ánh sáng gợi nhớ. Ánh sáng điện công trường xây dựng cầu Việt Trì năm 1960. Ngày đó, miền Bắc vừa mới bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, và Việt Trì được chọn để đặt những viên gạch đầu tiên cho một khu công nghiệp lớn vào bậc nhất của đất nước. Chúng tôi, lũ học sinh lớp 8 trường cấp III Hùng Vương, với háo hức của tuổi trẻ, đã tình nguyện hiến dâng những ngày hè tham gia lao động xây dựng cây cầu đầu tiên của chủ nghĩa xã hội - cầu Việt Trì.
|
Việt Trì lúc đó chưa hẳn là một đô thị theo nghĩa hiện đại, nhưng trong sâu thẳm lòng đất và lòng người, nó đã là một “bể trầm tích” lịch sử, cái nôi của những truyền thuyết về thời đại các vua Hùng. Lúc tối, trong bữa cơm thân mật giữa anh em văn nghệ, trong mạch truyện văn hóa lịch sử, có ai đó đã nhắc đến tương lai của thành phố Việt Trì với một chút ưu tư. Trên bản đồ hành chính mới của tỉnh Phú Thọ, Việt Trì sẽ không còn được ghi với danh xưng là “thành phố hội sở” như cách người ta vẫn quen gọi về một trung tâm chính trị - văn hóa một tỉnh. Cái thành phố là hội sở của Vĩnh Phú thời sáp nhập hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc, rồi sau đó chia tách nó là hội sở của Phú Thọ. Và bây giờ sáp nhập ba tỉnh Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ thì là hội sở của Phú Thọ mới. Trước khi thành lập tỉnh Phú Thọ (mới) Việt Trì là thành phố, có 13 phường và 9 xã, giờ đây sáp nhập và đặt tên mới thành các phường: Việt Trì, Nông Trang, Thanh Miếu, Vân Phú và Thọ Sơn.
Vẫn còn tên Việt Trì đấy, cái danh từ riêng ấy vẫn nằm đó trên các văn bản hành chính, nhưng tôi cứ băn khoăn tự hỏi: Liệu một cái tên phường có thể “kham” nổi những sức nặng văn hóa, những tầng nấc lịch sử mà cả một “Thành phố Việt Trì” đã từng dung chứa? Một người bạn quả quyết: “Địa giới hành chính có thể thay đổi, các con số thống kê có thể cập nhật, nhưng kí ức lịch sử và văn hóa sẽ còn mãi.” Đúng, về mặt lí thuyết là như vậy. Làm sao chúng ta có thể thay đổi được kí ức về một Việt Trì ngã ba sông, cũng như trên đất nước này một Nam Định thành Nam dệt cửi, một Hội An phố cổ rêu phong, hay một Sài Gòn - Gia Định hoa lệ gợi lại cả một thời “mang gươm đi mở nước”? Nhưng, dẫu sao tôi vẫn cứ thấy có gì đó bất cập, một nỗi tiếc nuối mơ hồ. Bởi vì, kí ức không phải là “nhất thành bất biến”, nó là một dòng chảy, như một thực thể sống, và nó cần những “mỏ neo” địa danh để níu giữ.
Theo các nhà khoa học, kí ức là khả năng của bộ não người có thể mã hóa, lưu trữ và tái hiện thông tin, kinh nghiệm hoặc cảm xúc đã trải qua trong quá khứ. Nhưng dưới góc nhìn lịch sử văn hóa, kí ức còn là một quá trình năng động, nó có thể bị thay đổi, bị biến dạng và rất dễ bị làm mờ bởi lớp bụi của thời gian và sự vô tâm của con người. Vì thế, việc cải tổ hành chính nếu không được nghiên cứu kĩ lưỡng về mặt nhân văn, chắc chắn sẽ làm hao tổn, bào mòn kí ức cộng đồng.
“Kí ức văn hóa” và “kí ức lịch sử” có lẽ không tạo ra lợi nhuận thặng dư tức thì như một dây chuyền dệt ở Nam Định, một nhà máy giấy ở Việt Trì hay một chuỗi khách sạn nghỉ dưỡng cao cấp ở Hội An. Chúng lại càng không thể tính toán một cách chính xác vào GDP hằng năm. Nhưng tôi có thể nói với bạn rằng, kí ức có một sức nặng vô hình, giống sức hút của trọng lực. Chính cái sức nặng ấy giữ cho một công dân không trở thành một thực thể thiếu bản sắc, không bị trôi dạt, vô định và mất gốc giữa dòng xoáy tàn khốc của toàn cầu hóa. Nếu không có kí ức, chúng ta chỉ là những con số thống kê vô hồn trên một tờ sớ hành chính.
Tôi yêu Việt Trì, vùng đất cổ nằm trong cái nôi phát tích của các vua Hùng, nơi mà mỗi tên làng như Hy Cương, Chu Hóa, Tiên Cát, Minh Nông… đều gắn liền với những huyền tích về nòi giống rồng tiên. Tôi yêu Nam Định, mảnh đất “hào khí Đông A”, nơi đứng chân vững chãi của nhà Trần trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược, nơi mà tiếng thoi dệt vải đã đi vào ca dao, vào cả những trang sử hào hùng của giai cấp công nhân. Tôi cũng yêu Hội An, cửa ngõ giao thương từ thế kỷ XVII, nơi mở ra thế giới với những con phố hẹp, những mái ngói âm dương và sự giao thoa văn hóa Việt - Nhật - Hoa - Ấn đầy mê hoặc.
Đó là những thứ “đặc hữu” mà chỉ cần đọc lên, kí ức sẽ lập tức được đánh thức với những ám ảnh kì lạ. Chúng ta hiểu rằng, do nhu cầu của cuộc sống hiện đại, để bảo đảm công tác quản trị hành chính công có hiệu quả, đất nước cần có nhiều cuộc cải tổ, sáp nhập. Đó là quy luật tất yếu. Tuy nhiên, khi chúng ta thực hiện việc sáp nhập, chia tách các phường xã, nhất định không thể chỉ dựa vào những tiêu chí cơ học khô khan về diện tích và dân số.
Một phường mới ở Việt Trì được khai sinh không thể đồng nghĩa với việc gạch tên những làng cổ đã tồn tại hàng nghìn năm. Những địa danh gắn với truyền thuyết Hùng Vương, những phố cổ Thành Nam, những ngõ nhỏ ở Hội An... không đơn thuần là những tọa độ GPS trên bản đồ số. Chúng là những “ngăn kéo” thiêng liêng chứa đựng gia phả, hội làng, và những quy ước cộng đồng, những đạo đức truyền thống mà không một phần mềm quản trị công hiện đại nào có thể thay thế được.
Nhìn lại lịch sử gần đây, xứ Đoài (tỉnh Hà Tây cũ), những ngôi làng đá ong ở Đường Lâm, những nếp chùa cổ kính vùng Thạch Thất, Quốc Oai vẫn đang thầm lặng nhắc nhở các nhà quản trị rằng: Quản lí một vùng đất văn hóa vốn được bồi đắp lâu đời phải giống như chăm sóc một cây cổ thụ, không thể tùy tiện.
Bạn không thể bứng một cái cây cổ thụ từ rừng sâu về đặt vào một cái chậu bê tông hiện đại rồi hi vọng nó sẽ xanh tươi. Khi áp dụng mô hình “phường” đô thị hóa thay những cấu trúc “làng” của xứ Đoài, nếu không dày công nghiên cứu, chúng ta sẽ chỉ thu về được những cái “vỏ hành chính”. Còn phần hồn - sự gắn kết dòng tộc, đạo đức xóm giềng, “tình làng nghĩa xóm” - sẽ dần tan biến theo những bảng hiệu đèn LED xanh đỏ. Một khi cái nền tảng đạo đức làng xã bị lung lay bởi những xáo trộn hành chính, thì chi phí để quản lí an ninh trật tự, để hàn gắn những rạn nứt xã hội sau này sẽ đắt gấp nhiều lần số tiền mà chúng ta tiết kiệm được.
Trong ngành xây dựng, bất cứ dự án nào cũng phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường (DTM). Vì thế, tại sao chúng ta lại thiếu vắng một bản “Đánh giá tác động lịch sử, văn hóa”?
Nếu coi cấu trúc hành chính là “phần xác”, thì lịch sử và văn hóa chính là “phần hồn”. Một cơ thể không thể sống khỏe mạnh nếu phần hồn bị tổn thương.
Sức thuyết phục của một cuộc cải cách hành chính còn nằm ở việc chúng ta làm cho những giá trị cũ tỏa sáng như thế nào trong hình hài mới. Chúng ta sáp nhập để mạnh hơn, để giàu hơn, nhưng không được phép để mình trở nên “nghèo nàn” về tâm hồn. Đừng để sau này, con cháu chúng ta trở nên nhạt nhòa về bản sắc, trở thành những “công dân toàn cầu” nhưng lại đánh rơi kí ức của dân tộc mình. Sức nặng của kí ức lịch sử và văn hóa chính là ở chỗ đó: Nó không thể cầm nắm, không thể cân đo, nhưng nếu đánh mất, cả một dân tộc sẽ trở nên nhẹ tênh, dễ dàng bị cuốn bay đi bởi những cơn gió lạ của thời đại, như cánh diều bị đứt dây.
Trên thế giới hiện nay không thiếu những mô hình đặc khu để bảo tồn. Nên chăng, chúng ta có thể đề xuất một cơ chế đặc thù, gọi là “Đặc khu hành chính di sản”? Cơ chế này sẽ dành riêng cho những đô thị mang tính biểu tượng như Việt Trì, Nam Định, Hội An hay Cố đô Huế... Ở đó, các tiêu chí về dân số hay diện tích sẽ được xếp sau tiêu chí về bảo tồn giá trị di sản. Chúng ta cần những chính sách đặc biệt để bảo vệ những giá trị không thể tính bằng GDP này, vì đó chính là “thẻ căn cước” của dân tộc Việt Nam trước thế giới.
Đêm Việt Trì như thường lệ vẫn trôi về sáng. Ngã ba sông vẫn miệt mài bồi đắp phù sa. Tôi tự hỏi, liệu sau này khi những cây cầu cũ mất đi, những cây cầu mới mọc lên, liệu “ánh điện sáng trên cầu Việt Trì” trong tâm tưởng thế hệ mai sau có còn mang sức nặng thiêng liêng của kí ức như thế hệ chúng tôi? Hi vọng rằng, những người cầm bút và cả những người cầm cân nảy mực trong bộ máy quản lí, sẽ luôn nhớ rằng: Kí ức chính là điểm tựa để ta phóng tầm mắt tới tương lai.