![]() |
| Bác Hồ làm việc tại Phủ Chủ tịch. Ảnh: Tư liệu |
Đất nước đứng lên
“Hôm nay sáng mồng Hai tháng Chín
Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình...”
Năm 1970, trong trường ca Theo chân Bác, Tố Hữu viết những câu thơ ấy từ miền ký ức vừa gần gũi vừa thiêng liêng về ngày đất nước thoát khỏi gông cùm nô lệ, giành độc lập, tự do. “Thủ đô hoa”, “nắng Ba Đình” không chỉ là sắc màu trong một sớm thu. Đó còn là ánh sáng của ký ức lịch sử.
81 năm đã đi qua, kể từ Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân kiểu mới đầu tiên ở Đông Nam Á. Mỗi độ thu về, ký ức về Tổ quốc lại như sống dậy trong tâm thức người Việt. Đó có thể là Quảng trường Ba Đình lịch sử. Là những con đường, tuyến phố từng là trận địa kiên cố, nơi quân dân Thủ đô viết nên bản hùng ca Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh mùa đông 1946. Là núi rừng Việt Bắc, những làng quê Nam bộ, đại ngàn Trường Sơn xa xanh. Cũng có thể là một dáng người lính khuất sau chiến tranh, người mẹ chờ con, người vợ chờ chồng, một miền quê đã đi qua những năm tháng đạn bom...
Tổ quốc trong ký ức của nhà văn, nhà thơ vì thế không chỉ là một khái niệm địa lý hay chính trị. Tổ quốc là lịch sử được sống, là quê hương được nhớ, là những con người được yêu thương, là những hy sinh không gì bù đắp nổi và cũng là những khát vọng hướng tới tương lai.
Nhìn lại văn học Việt Nam hiện đại từ 1945 đến nay, có thể nhận ra một mạch nguồn không ngừng tuôn chảy. Từ Tổ quốc trong khói lửa chiến tranh đến Tổ quốc trong ký ức thời hậu chiến. Từ những bản hùng ca của cộng đồng đến những câu hỏi về số phận con người. Từ đất nước ngàn năm lịch sử đến đất nước trong đời sống, văn hóa, chủ quyền và khát vọng vươn tới những chân trời mới. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra một thời đại mới của dân tộc. Nhưng nền độc lập vừa giành được lập tức phải đối mặt với những thử thách khắc nghiệt. Văn học cũng bước vào một thời kỳ đặc biệt. Có một đội ngũ nhà văn cầm súng trước khi cầm bút, họ “làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”. Từ những thử thách khốc liệt của lịch sử, từ máu và nước mắt, từ sức sống quật cường của một dân tộc “không bao giờ khuất”, một cảm hứng lớn đã cất lên trong văn học: Đất nước đứng lên!
Với Lũy hoa, Sống mãi với Thủ đô, Nguyễn Huy Tưởng tái hiện không khí sục sôi những ngày đầu kháng chiến. Một thành phố văn hiến trở thành chiến lũy. Hà Nội không chỉ là một địa danh mà là một tư thế, bình tĩnh, hào hoa, kiên cường trước thử thách. Nguyễn Đình Thi trong Vỡ bờ dựng lại những biến động lớn của xã hội và lịch sử, nơi số phận cá nhân hòa vào những chuyển động dữ dội của đất nước. Anh Đức với Hòn Đất đem đến một hình ảnh Nam bộ kiên cường trong kháng chiến chống Mỹ. Nguyễn Thi với Người mẹ cầm súng, Những đứa con trong gia đình lại làm cho Tổ quốc hiện ra từ truyền thống của một gia đình, một dòng họ, một vùng đất. Ở đó, lịch sử dân tộc thấm vào lịch sử trong mỗi căn nhà.
Nhìn từ văn xuôi, có thể thấy Tổ quốc trong văn học chiến tranh trước hết được nhận diện qua con người. Đó là người lính, người mẹ, người chị, người dân nơi ngàn đời xanh bóng tre, những chàng trai rời xa “ngôi nhà có ngọn lửa ấm” lòng luôn nhớ “mùa thu lời ru gió hát”.
Văn xuôi bề bộn cuộc sống chiến đấu. Thơ ca lại có khả năng kết tinh những trải nghiệm ấy thành những biểu tượng giàu sức ngân vang. Tố Hữu - ngọn cờ đầu của thơ ca Cách mạng. Từ Việt Bắc đến Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi tới, Máu và hoa, Theo chân Bác, thơ ông gắn với từng bước chuyển của lịch sử dân tộc. Trong Việt Bắc, những cánh rừng, mùa hoa, con người, những kỷ niệm kháng chiến đã làm nên một Việt Bắc vừa cụ thể vừa mang vẻ đẹp của ký ức. Nếu Tố Hữu đưa Tổ quốc vào dòng chảy của cách mạng và nhân dân, Nguyễn Đình Thi lại tạo nên một hình tượng Tổ quốc vừa dịu dàng vừa dữ dội. Đất nước bắt đầu bằng một mùa thu Hà Nội với hương cốm mới, rồi đi qua những năm tháng đau thương để kết thúc bằng hình ảnh: “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.” Đến Nguyễn Khoa Điềm, hình tượng Đất nước lại được nhìn từ một chiều kích khác. Trong trường ca Mặt đường khát vọng, nhà thơ đưa đất nước trở về với những gì gần gũi nhất của đời sống và văn hóa: “Đất là nơi anh đến trường/ Nước là nơi em tắm...” Và trên hết là tư tưởng Đất nước của Nhân dân. Đó là một bước phát triển quan trọng trong nhận thức nghệ thuật về Tổ quốc. Vâng, đất nước đâu phải một khái niệm trừu tượng mà được tạo dựng từ đời sống, lao động, tình yêu, phong tục, tiếng nói, ký ức và sự hy sinh của bao thế hệ “những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những hòn Vọng Phu”…
Thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đất nước hiện lên trong khí phách của lớp lớp người “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Phạm Tiến Duật, “con chim lửa Trường Sơn” đem vào thơ một gương mặt trẻ trung, lạc quan của tuổi trẻ thời chiến. Lửa đèn, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây ghi lại không khí của những năm tháng mà chiến tranh vừa khốc liệt vừa tràn đầy niềm tin. Lê Anh Xuân với Dáng đứng Việt Nam biến tư thế của một người lính thành biểu tượng về tư thế của cả dân tộc. Thanh Thảo trong Những người đi tới biển, Dấu chân qua trảng cỏ nhìn thế hệ mình bằng cảm quan của một người lính đi qua chiến tranh, vừa hào hùng vừa nhiều suy tư: “Ngày mai con đi/ Nửa đất đai này mẹ gánh.”
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975, đã tái hiện một không gian kỳ vĩ: chiến trường, núi rừng, biển cả, những con đường miền Trung mưa bom bão đạn, những đoàn quân trùng trùng ra trận... Nhưng bên trong không gian lớn ấy luôn lấp lánh tin yêu, một mái nhà, một tiếng gà vừa ló, một vắt cơm giữa hai trận đánh, một dòng sông Thạch Hãn đò ơi chèo nhẹ, một bà má miền Nam hai mươi năm đằng đẵng chờ chồng, đợi con... Chính những cái bình dị ấy làm cho Tổ quốc trở thành một phần máu thịt của mỗi con người.
Sau năm 1975, khi chiến tranh lùi vào ký ức, đất nước bước vào hòa bình, “người chiến thắng là người xây dựng mới” (Với Đảng mùa xuân - Tố Hữu). Nhưng chiến tranh dễ đâu biến mất khỏi đời sống tinh thần. Nó tiếp tục tồn tại trong ký ức của người lính, trong những ngôi làng có nhiều người không trở về, trong những bến không chồng, những người không mang họ, trong tiếng chuông chùa, có những gia đình mang theo nỗi đau da cam nối qua đời con rồi đời cháu. Văn học vì thế đứng trước những câu hỏi nhức nhối. Chiến tranh đã để lại gì? Con người sống thế nào sau chiến tranh? Những hy sinh ấy được tiếp nhận ra sao trong đời sống mới? Làm thế nào để một dân tộc đi qua chiến tranh mà không đánh mất ký ức, nhưng cũng không bị ký ức níu giữ?
Đó là một chuyển động quan trọng. Bởi khi đất nước đã hòa bình, yêu nước không chỉ còn là cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Yêu nước còn là biết nhìn thẳng vào những vấn đề của đời sống, trân trọng con người, dám đối diện với những mất mát, cùng nhau xây dựng một cuộc sống xứng đáng với những hy sinh đã có. Thời xa vắng của Lê Lựu là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho sự thay đổi ấy. Qua cuộc đời Giang Minh Sài, nhà văn đặt ra những vấn đề về cá nhân và cộng đồng, về những khuôn mẫu xã hội, về quyền được sống một cuộc đời của chính mình. Bến không chồng của Dương Hướng lại nhìn chiến tranh từ một làng quê Bắc bộ, đặc biệt là những mất mát âm thầm của người phụ nữ. Ở đó, chiến tranh không chỉ có chiến công và người anh hùng. Nó còn có những người ở lại, những năm đợi tháng chờ, những cuộc đời bị chiến tranh làm cho dang dở. Nguyễn Khắc Trường trong Mảnh đất lắm người nhiều ma lại đưa người đọc về một làng quê yên ả một thời, nay xuất hiện những xung đột lợi ích và biến đổi xã hội khôn lường trong đời sống hậu chiến.
Những tác phẩm ấy cho thấy một điều rất đáng chú ý: Nếu trước đây văn học thường nhìn đất nước từ độ cao của lịch sử, thì sau chiến tranh, nhiều nhà văn nhìn đất nước từ chiều sâu của đời sống. Tổ quốc hiện diện trong một làng quê, một gia đình, một vị tướng về hưu, một người vợ liệt sĩ, một số phận đứa trẻ thiệt thòi sau chiến tranh. Đó là sự đời thường hóa hình tượng Tổ quốc. Khi đi vào những số phận cụ thể, Tổ quốc mới hiện lên với đầy đủ hơn chiều sâu nhân bản.
Cùng với văn xuôi, thơ ca sau 1975 cũng trăn trở vượt thoát, tìm cách biểu đạt mới về đất nước, con người. Nếu thơ thời chiến thường cất lên bằng giọng điệu sử thi, thì thơ hậu chiến ngày càng có những khúc trầm, day dứt, suy tư. Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Đức Mậu... và nhiều nhà thơ khác trở lại với ký ức, quê hương, nhân dân, lịch sử và những câu hỏi về trách nhiệm của cá nhân trước đất nước.
Một hướng vận động đáng chú ý khác là hình tượng biển đảo và chủ quyền quốc gia. Từ khi đất nước bước vào thời bình và hội nhập, biển không chỉ là không gian địa lý mà ngày càng trở thành một phần của ký ức lịch sử, căn cước dân tộc và ý thức công dân. Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn, Lính đảo hát tình ca trên đảo của Trần Đăng Khoa đem đến những hình ảnh vừa chân thực vừa giàu chất thơ về người lính nơi đầu sóng. Hữu Thỉnh trong Trường ca biển mở rộng không gian nghệ thuật của Tổ quốc ra nơi mênh mang biển cả, vẫn mang theo cốt cách, phong vị của làng, “những người lính ra biển/ có dòng sông đồng hành”. Đến Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến đã tạo được một tiếng vang đáng chú ý trong thơ đương đại. Từ biển, nhà thơ nhìn lại đất nước; từ câu chuyện hôm nay, ông gọi dậy những lớp trầm tích của truyền thuyết và lịch sử. Gần đây các trường ca Hạ thủy những giấc mơ của Nguyễn Hữu Quý và Sóng trầm biển dựng của Đoàn Văn Mật tiếp tục với đề tài bảo vệ chủ quyền biển đảo, về quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa thân yêu. Với hai nhà thơ ở “Nhà số 4”, đây là “món nợ ân tình” mà các anh đã trả nghĩa cho cuộc đời binh nghiệp.
Tổ quốc hôm nay không chỉ được bảo vệ bằng ý chí giữ nước, mà còn được xây dựng bằng tri thức, khoa học và công nghệ; bằng một nền kinh tế hiện đại; bằng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; bằng việc bảo tồn văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Nếu văn học thời chiến từng hỏi: Ta chiến đấu vì Tổ quốc như thế nào, thì văn học hôm nay có thể đặt thêm những câu hỏi khác: Ta xây dựng Tổ quốc, gìn giữ những gì cha ông để lại, trao truyền cho thế hệ mai sau một đất nước như thế nào?
Đó là những câu hỏi lớn mà văn học đương đại không thể đứng ngoài. Bởi Tổ quốc không chỉ là ký ức. Tổ quốc còn là trách nhiệm. Tổ quốc sống trong ký ức của mỗi người, nhưng Tổ quốc cũng có thể là tiếng gà trưa, bông hoa rừng cài trên mũ, ánh trăng, con đê làng, là “muối mặn, gừng cay, lòng khế xót”... Tổ quốc, vẫn những đoàn quân ra trận trên mặt trận mới. Tổ quốc có thể là những trang sử lớn mà ta lo toan, mà ta kiến tạo. Tổ quốc trong “lao xao trưa hè một giọng ca dao”, trong ký ức quê hương và những điều bình dị mà mỗi người mang theo suốt cuộc đời.
Phải chăng vì thế mà sau 81 năm kể từ mùa Thu độc lập, đọc lại văn học Việt Nam, chúng ta không chỉ gặp những “bản hùng ca” mà còn gặp một biên độ tình cảm rộng lớn của dân tộc? Từ Tổ quốc - Nhân dân - Cách mạng, văn học đi tới Tổ quốc - Lịch sử - Văn hóa. Từ Tổ quốc ra trận đi tới Tổ quốc trong ký ức. Từ Tổ quốc của cộng đồng thấm vào Tổ quốc nơi từng số phận con người. Ngày càng rõ hơn hình ảnh núi sông ta cõi bờ vững chắc, hội nhập mạnh mẽ, phát triển hùng cường.
Hành trình ấy liên tục tiếp nối ở tầm cao mới. Bởi một dân tộc muốn đi xa không thể lãng quên chặng đường đã qua. Nhưng ký ức đẹp nhất là ký ức có khả năng đánh thức trách nhiệm của hiện tại và niềm tin vào tương lai. Đó cũng là lý do của hy vọng, rằng văn chương viết về dân tộc, đất nước không chỉ vượt qua thời gian, mà bằng nội lực của tư tưởng, cảm xúc và nghệ thuật, còn có thể vượt qua biên giới, hòa nhập vào dòng chảy của văn chương nhân loại. Bởi mỗi thế hệ có thể viết một cách khác nhau, bằng giọng điệu khác nhau, nhưng văn chương cuối cùng vẫn trở về với con người.
Khi ký ức như còn ấm nóng giữa lòng tay, khi những trang văn còn được nghiền ngẫm, những câu thơ còn mãi trong trí nhớ, sông núi vẫn trên vai, thì tiền đồ tươi sáng của dân tộc đã rất gần.
![]() |
| Tổ quốc là mạch nguồn không ngừng tuôn chảy trong đời sống văn học |