Những ngày hè vào rừng tìm hoa, tìm quả, tìm măng, chặt tre nứa về băm lạt, chẻ mành mà quên những tiếng chim líu ríu, tiếng gió lung lay ngoài khóm lá. Ngôi làng nhỏ của tôi, nơi có nhiều dân tộc anh em sinh sống. Một năm bốn mùa, cả bốn mùa có lễ hội. Đó là những ngày náo động, rộn ràng. Từ mờ sáng, trên những lối mòn len lỏi hiện dần trong sáng sương cỏ ướt, những thiếu nữ đội khăn, quấn váy thổ cẩm với hoa văn làm những cánh bướm ngẩn ngơ bay trong nắng non vừa rải vàng mặt núi.
|
Những dãy núi quanh năm trập trùng mây, dìu dịu nắng. Những mái nhà sàn chênh vênh, cửa luôn mở. Nghe tiếng sáo rải vàng trên ngọn cây mà không biết từ đâu tới. Trên con đường nhỏ dẫn tới rừng, những người đàn bà mải miết gùi nắng mưa mòn lưng chừng dốc. Bao ngả đường đều hướng về phiên chợ Rừng Lim. Chợ là nơi trao đổi, bán mua, tích giữ văn hóa đủ sắc màu của vùng sơn cước. Các bạn của tôi, đứa gánh măng, đứa gánh chó, đứa gánh mấy mớ rau về chợ, ngồi bày bán. Đứa nào cũng đen nhẻm, tóc vàng hoe, áo quần cũn cỡn. Tôi biết ơn những ngày tháng gian khổ, thơ ngây đó. Nó góp phần nuôi ngọn lửa đam mê trong tôi với lòng kiêu hãnh và khi xa đầy thương nhớ quê mình. Tuổi thơ chan hòa với rừng, với bản, với lễ hội, với chợ quê theo chúng tôi lớn lên.
Thuở ấy sách rất hiếm và thơ lại càng hiếm. Mẹ tôi có duy nhất một tập thơ Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu. Ban đầu bà còn mở sách đọc, sau ôm con nằm võng đọc thầm. Ông bà ngoại vốn là người hát đối, đã truyền lại cho mẹ tôi trí nhớ và lòng yêu thơ ca. Tuổi thơ tôi cũng lớn lên trong những lời ru của bà, của mẹ và của bà con làng xóm. Dù ai ru và ru ai thì cũng là ru mình. Những câu hát ru còn ám ảnh đến giờ: “Bông bông bông đã có đài/ Bắt em lơ lửng đứng ngoài nương bông”; “Bồng bồng cõng chồng đi chơi/ Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng/ Chị em ơi cho tôi mượn cái gàu sòng/ Để tôi tát nước vớt chồng tôi lên…” Hình như người xưa muốn gửi gắm một điều gì hệ trọng đến với con cháu. Bố tôi đêm đêm thường ngâm thơ cho chị em tôi ngủ. Các con ngủ rồi là ông lại trở về với ông thầy dạy toán cấp 3. Ai biết ông thuộc nhiều thơ hay, nhất là thơ kháng chiến. Khi nào tôi cũng nghe văng vẳng: “Anh cùng em sang bên kia cầu/ Nơi có những miền quê yên ả/ Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá…”; “Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/ Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/ Ai bảo chăn trâu là khổ?...” Nhiều nhà thơ nổi tiếng: Tố Hữu, Phạm Tiến Duật, Giang Nam, Nam Hà, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Đăng Khoa… thường xuất hiện trong nhà tôi qua giọng ngâm khê khê của bố.
Năm mười tám tuổi, tôi mang tất cả tuổi thơ của mình đi sang Nga xuất khẩu lao động. Đó là lần đầu tiên xa quê, xa những người thân yêu, quý mến của mình. Hình ảnh những người bạn của rừng, những lễ hội, những phiên chợ Rừng Lim, giọng ngâm thơ của bố, tiếng ru của mẹ và người quê tôi luôn hiện lên song sóng trong lòng. Nó giúp tôi quên bớt nhọc nhằn trong lao động ở xứ người. Nó thức dậy thúc giục tôi phải cầm bút viết lại những nỗi lòng mình ra giấy. Sau một thời gian làm việc ở Nga, tôi trở về quê mình. Những người bạn ngày xưa, mỗi người một nơi. Những nam thanh nữ tú của làng cũng dần vắng bóng. Họ theo tiếng gọi của đô thị hóa về các thành phố để kiếm sống, có đứa trôi dạt đến tận xứ người. Mặt trời vẫn tỏa sáng phía sau đỉnh núi, mặt trăng vẫn trải màn sương bàng bạc trên những mái nhà nhưng chưa báo gì cho tôi về cuộc sống ngày mai. Tôi lại khăn gói vượt hàng ngàn cây số gian lao với hy vọng tìm việc ở thành phố Hồ Chí Minh, khi kinh tế thị trường vừa đặt chân vào xã hội nước ta. Nó như một dòng sông mùa nước cuộn xiết giữa thành phố tốc độ. Cuộc va chạm trong mưu sinh, va chạm văn hóa làng quê với đời sống xã hội có thể làm nhiều người gục ngã. Hình ảnh làng quê, những người thân yêu hiện lên nhắc tôi đứng dậy mạnh mẽ hơn, đối diện với đời sống thị trường khốc liệt. Trải qua nhiều cuộc mưu sinh, đặc biệt từ khi thay đổi cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường đã tác động vào tâm tư tình cảm của tôi, tôi tiếp tục cầm bút. Trong thơ thấp thoáng có những phận người trôi dạt. Sổ tay thơ cứ dày lên. Tuy vậy tôi vẫn thấy chưa yên lòng, thơ tôi thiếu những cái gì mà chưa hình dung được.
Tôi mạnh dạn gửi nhờ một nhà thơ vừa là người nghiên cứu lý luận đọc và góp ý hộ. Sau một tuần, anh gọi điện nói chuyện với tôi. Anh nói: “Theo anh, em có thơ đấy. Thơ em đã hướng về đời sống, không lặp lại những con đường mòn công thức trong thơ, nhưng chưa tạo ra sự ám ảnh đủ lớn để gây chú ý cho bạn đọc. Vì em đang sống và viết ở thời kinh tế thị trường toàn cầu hóa, mà anh ngỡ như viết thời kháng chiến và bao cấp. Thơ em thiếu sự độc đáo trong tứ, trong hình ảnh, thiếu ngôn ngữ mới và cấu trúc thơ để tạo ra sự khác biệt. Sự khác biệt là một đòi hỏi bắt buộc, bởi vai trò cá nhân trong thời thị trường được đề cao. Mỗi giai đoạn lịch sử đều in dấu lên thơ ca bằng một hệ giá trị và một cách biểu đạt riêng. Thơ thời nay là sự trở lại của cái tôi cá nhân, những vấn đề đời thường, khai thác chiều sâu tâm lý và đặc biệt quan tâm đến thân phận con người. Bước chuyển lịch sử có tính bước ngoặt thường xảy ra sự nhận thức không kịp thời. Đó là khoảng sai số phải chấp nhận. Nhưng thơ không thể đi sau đời sống quá lâu. Hiện thực đã thay đổi, thơ cũng phải đổi thay để tiếp tục chức năng cao quý của mình, khám phá và mở rộng những giới hạn của tâm hồn con người. Em chỉ làm thơ theo cảm xúc tự nhiên. Khi viết ra vẫn còn ảnh hưởng những cách nhìn cũ. Làm thơ và nhận thức về thơ là hai việc song song, nhà thơ nào cũng cần có. Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sự vận động, thơ không theo kịp đời sống. Theo anh em viết chậm lại, dành thời gian thích đáng ngẫm nghĩ về cách viết trong thời thị trường toàn cầu hóa. Nếu được bổ sung nhận thức về thơ, em có thể viết khác, thơ mới lạ và ám ảnh hơn.”
Nghe anh nói tôi thật sự bàng hoàng. Anh đã nói đúng, tôi làm thơ là viết theo chủ quan mà không quan tâm nhận thức về thơ. Tôi mặc định các thể loại thơ, có cảm xúc hợp thể nào viết theo thể ấy. Giờ tôi biết, làm thơ không hề đơn giản mà vô cùng khó khăn. Tôi dành nhiều thời gian tìm hiểu về thơ và nhận thức về thơ thời thị trường toàn cầu hóa. Từ đó tôi viết ít, tìm sách đọc, tìm thầy học và trò chuyện với bạn bè thơ để tăng thêm nhận thức. Tôi xóa bỏ những bài thơ viết trước đây vì có phần kéo dài lối viết cũ. Tôi nhận ra cách viết không sinh ra trước hay sau từng giai đoạn lịch sử, mà chính từng giai đoạn lịch sử sinh ra cách viết tương ứng. Mỗi biến chuyển lớn của xã hội đều dẫn tới một cuộc đổi mới trong thơ. Không được phủ nhận những thành tựu của các thế hệ trước, mà phải tiếp tục con đường của họ bằng cách tìm ra một hình thức nghệ thuật, đủ sức diễn đạt tinh thần của thời đại mới. Tôi đã viết khác thời chưa biết gì về sự vận động của thơ. Tôi luôn chú ý: Cách viết, sự độc đáo của tứ thơ, của hình ảnh thơ và ngôn ngữ mới lạ vào thơ. Một số bạn bè khen, với tôi một lời khuyên đã thành bước ngoặt. Đi được bao xa tôi không thể biết, nhưng còn hơn nếu tôi cứ viết như cũ.