Cái xấu trong tiểu thuyết trinh thám không phải là cái xấu mà đã trượt sang phạm trù tội ác và vượt qua ranh giới pháp luật định ra. Tiểu thuyết trinh thám đứng ở khoảng sáng của pháp luật và không được phép có những sự mơ hồ. Vậy nên, trong tiểu thuyết kể một câu chuyện không hề dễ khi mà ngay từ đầu, kết thúc đã được định trước khi mà tội ác thì chắc chắn phải bị phanh phui và kẻ thủ ác thì tất yếu phải bị ngăn chặn/tiêu diệt và đưa ra ánh sáng. Tất nhiên, tội ác chỉ là một cái lõi cần có nhưng không phải là tất cả của tiểu thuyết trinh thám. Mình và họ, Một ví dụ xoàng hay Gia đình có bốn chị em gái là những tiểu thuyết có tội ác mà không trượt vào cái khung của trinh thám. Và khi đã không bị đóng trong cái khung thể loại thì đồng thời người viết cũng sẽ thoát được gánh nặng của quy ước thể loại.
|
Ông Dương Bình Nguyên không chọn cách này. Điều thú vị của văn chương là nó luôn chứa đựng những bất ngờ. Ban đầu, đó là một cuốn trinh thám dễ làm người ta có những cảm giác nghi ngại. Một tiêu đề quá “mềm yếu” và những cái tên nhân vật như bước ra từ tiểu thuyết Trung Quốc. Một ảnh hưởng của Vương Gia Vệ? Nhưng đọc tiểu thuyết của ông, thực sự cảm giác nghi ngại đó biến mất. Ông thoát khỏi được những gánh nặng của thể loại.
Bằng hai cách.
Giống như Đặng Nhật Minh, hay Lưu Quang Vũ, ông neo văn chương vào những cái sống. Dương Bình Nguyên viết văn như một người Nhật. Hãy thử đọc Vị giáo sư và công thức toán hay Người đan chữ xếp thuyền. Trong cuốn thứ nhất, Yoko Ogawa viết về một tình bạn kỳ lạ của một vị giáo sư toán học bị bệnh quên và cậu bé con người giúp việc. Thứ duy nhất nối hai con người là toán học. Thế giới của toán học và những công thức, những con số. Trong cuốn thứ hai, Miura Shion viết về những người làm từ điển trong một nhà xuất bản ở thời đại mà máy tính vẫn còn chưa thống trị. Và để viết được một tiểu thuyết vài trăm trang về những đề tài như thế thì câu chuyện không phải chỉ là thông tin, là tìm tư liệu, mà điều cốt yếu là nhà văn phải thấy được cái sống trong những thế giới tưởng như rất khô khan ấy. Họ phải thấy được sự sống động của từ, sự biến ảo của nghĩa, thấy cách một người làm từ điển đi tìm kiếm một cách giải thích một từ hay cách một người làm toán ngắm nhìn để cảm nhận thấy cái cân đối hay nhịp điệu của một công thức, cái kỳ diệu của những loại số nguyên tố. Tiểu thuyết của ông Nguyên viết về thế giới của những người lập trình. Điều quan trọng không phải là ông hiểu về lừa đảo, về truy vết, về danh tính và dữ liệu, về những phần mềm tín dụng và cơ chế của những dòng tiền. Những thứ đó có thể tìm thấy trong những hồ sơ vụ án. Hơn những thứ đấy, nhà văn thấy được cái sống trong thế giới của những người làm việc với máy tính, trong cách mà người ta để lại bản dạng cá nhân của mình trong cách điều hướng dòng chảy dữ liệu, trong cách viết một đoạn code, cách ngắt câu, đặt tên file hay xóa vết. Đấy là sự sống trong một thế giới xa lạ và vô nghĩa với đa số người. Tôi đã nói về việc Vương Gia Vệ ảnh hưởng đến tiểu thuyết của ông Nguyên. Không khó nhận ra những đoạn tiểu thuyết mang dấu ấn những scenes trong phim của Vương Gia Vệ. Nhưng cái phẩm tính văn chương của ông Nguyên là ở chỗ ông biến được những ảnh hưởng ấy thành một thứ nhịp điệu văn chương rất gợi cảm, thành cách ngắt những phân đoạn tiểu thuyết. Văn chương tồn tại ở những thứ giản dị nhưng vô cùng quan trọng đó.
Thứ hai, đơn giản là ông làm chủ được sự không nói. Ông Nguyên vượt qua sức nặng ước lệ của thể loại bằng cách nhìn xuyên qua tội ác để thấy số phận con người. Và xuyên qua pháp luật để thấy được những giới hạn của con người. Ông chấp nhận có những tên tội phạm không thể bị công lý truy đuổi đến tận cùng và người điều tra cũng phải nhận ra những giới hạn của chính mình. Luôn có những điểm mà công lý, tấm khiên của con người che chở cho tính thiện cũng phải chấp nhận rằng nó có những giới hạn không thể vượt qua trước cái ác. Có những cái ác ngoài khả năng của con người. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của ông Nguyên không bị phân ra bởi những ranh giới người điều tra/kẻ thủ ác không phải vì những giá trị đạo đức hay quy chuẩn xã hội bị xóa đi mà vì ông nhìn thấy đằng sau những con người là một số phận, sau mỗi tội ác là một chấn thương. Có một đoạn độc thoại rất đáng chú ý của nhân vật điều tra khi nghĩ về những thuộc cấp của mình:
“Có những đêm tôi không về nhà, tôi nghĩ về họ. Về ba gương mặt xanh xao trong ánh đèn màn hình. Tôi tự hỏi, có phải tôi cũng từng như thế, tin rằng công lý là đích đến, rằng chỉ cần đủ kiên trì thì cái ác sẽ lộ diện. Giờ thì khác. Chúng tôi vẫn làm việc, vẫn gửi báo cáo, vẫn viết những dòng cuối đúng mẫu, nhưng trong lòng, niềm tin đã mỏng đi như lớp vụn giấy trên mặt bàn.
Nhưng nhờ họ, tôi học lại cách tin vào con người, vào cái cách họ còn biết run tay trước một dòng dữ liệu sai, biết đứng lặng trước một cái tên vừa mất. Tôi nghĩ, nếu một người trẻ còn biết sợ, còn biết đau khi cái thiện bị giả giọng thì thế giới này vẫn còn chỗ cho người sống.”
Không chỉ Bách và Trí, nhân vật người điều tra và kẻ thủ ác - xương sống của một tiểu thuyết trinh thám mà cả thế giới nhân vật bao quanh họ, mỗi người đều là một số phận. Hành trình của Bách từ đứa trẻ mồ côi đến trường C500 và hành trình của Trí từ một đứa trẻ từ bỏ một gia đình mục nát (rất giống Into the Wild của Jon Krakauer nhưng có điều thế giới hoang dã mà nhân vật tìm vào không phải là rừng rậm mà là sự hoang dã của những dòng dữ liệu) để trở thành một bậc thầy công nghệ là hành trình của những số phận bi kịch mà đằng sau nó là một chân lý vô cùng giản dị nhưng luôn cần được nhắc lại: tội ác không sinh ra từ một cái xấu thuần túy, cái xấu nguyên thủy mà từ những tổn thương của con người và từ sự im lặng của thế giới. Ông Nguyên đã thoát được cái nhìn của những hồ sơ tội phạm để nhìn nhân vật của mình từ cái nhìn của con người, cái nhìn sâu vào những số phận con người. Đó là cách mà tiểu thuyết, dù là trinh thám vẫn cứ là tiểu thuyết.
Như đã nói, một tiểu thuyết trinh thám sẽ luôn bị đặt dưới những quy định của thể loại. Nó dẫn đến những chuyện không nói cũng sẽ buộc phải thế. Tất nhiên, đây là những định kiến của thể loại trong thế kỷ XXI, khi mà rất nhiều tín điều đã bị văn hóa đại chúng bào mòn. Mối quan hệ của Bách và Trí, người điều tra và kẻ thủ ác trong Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới có phần giống với mối quan hệ của Clarice Starling và Hannibal Lecter trong Sự im lặng của bầy cừu của Thomas Harris, một mối quan hệ mà trong đó kẻ thủ ác là kết quả của một tuổi thơ bị chấn thương khủng khiếp đủ để nhào nặn nên một con quái vật pha trộn giữa sự lịch lãm, sự tinh tế và sự tàn ác cùng cực trong khi đó người điều tra, cũng lại là kết quả của những chấn thương tuổi thơ là một cá thể cô độc pha trộn giữa một khát vọng vươn lên trong nghề nghiệp và những giới hạn không thể vượt qua về nghề nghiệp. Trong mối quan hệ này, chính kẻ thủ ác lại là người nhìn thấu tâm can người điều tra và thậm chí, chi phối lại nhân vật này trong trò chơi của mình. Trong Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới, Dương Bình Nguyên khéo léo làm mờ đi rất nhiều yếu tố trong quan hệ giữa kẻ thủ ác và người điều tra, đủ để hiểu được bản chất của mối quan hệ và chỉ giữ lại những phần nhân bản nhất giữa con người với con người. Đó cũng chính là cách kể lại mối quan hệ của Bách và Đường Hoa hay trưởng phòng Lưu. Tất nhiên, điều đáng tiếc là có lẽ sự tiết chế trong việc kể cũng như sự phức tạp của cấu trúc tiểu thuyết khiến một số nhân vật như Lưu Bạch Đàn, cha của Đường Hoa hay Công Triệu dường như thiếu một không gian để bộc lộ hết những chiều sâu thân phận của mình.
Có thể nói, với Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới, ông Nguyên đã vượt qua những định kiến của thể loại bằng cách làm mờ đi chính những tính chất thể loại đó bằng một tính văn chương phổ quát: vẻ đẹp của ngôn từ, cách tái hiện lại sự sống một cách sinh động và cách nhìn sâu vào những số phận, vượt ra khỏi sự áp đặt của nhu cầu “kể xong rồi đi” một câu chuyện, một sự thách thức với truyền thông nghe nhìn dung lượng ngắn và cực ngắn hiện nay. Đó là một cuốn sách đáng để người đọc không chỉ đọc mà còn tin tưởng vào sức sống của một thể loại đặc biệt.