Suốt 81 năm qua, bằng sức mạnh của tri thức, di sản, văn học nghệ thuật và những giá trị nhân văn bền vững, văn hóa không chỉ lưu giữ ký ức dân tộc mà còn bồi đắp bản lĩnh, cốt cách và khát vọng Việt Nam.
Từ những chiến khu còn mùi khói súng đến nhịp sống hôm nay, văn hóa chưa bao giờ đứng ngoài lịch sử. Trong mỗi bước phát triển của đất nước luôn có bóng dáng tiếng Việt, câu thơ, khúc hát, mái đình và những giá trị nhân văn được trao truyền qua các thế hệ.
Có những giá trị không thể đo đếm bằng những con số tăng trưởng, cũng không thể cân đong bằng những công trình đồ sộ. Đó là văn hóa - mạch nguồn âm thầm chảy cùng lịch sử dân tộc, bồi đắp tâm hồn con người, gìn giữ cốt cách quốc gia và thắp sáng khát vọng đi tới tương lai.
81 năm trước, cùng với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nền văn hóa mới cũng bắt đầu hành trình của mình. Đó không chỉ là sự thay đổi về thể chế hay đời sống tinh thần, mà còn là cuộc hồi sinh của một dân tộc vừa giành lại quyền làm chủ vận mệnh sau gần một thế kỷ nô lệ. Từ mùa thu lịch sử năm 1945, văn hóa Việt Nam bước vào một hành trình mới - hành trình vun bồi hồn cốt Việt Nam trong độc lập, tự do và phát triển.
Ngay trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi “giặc dốt” là một trong những kẻ thù nguy hiểm nhất. Tiếng gọi bình dân học vụ vang lên khắp mọi miền đất nước, những lớp học dựng dưới mái đình, bên hiên nhà, trong ánh đèn dầu leo lét đã mở ra cánh cửa tri thức cho hàng triệu người dân. Những con chữ đầu tiên không chỉ xóa đi bóng tối của mù chữ mà còn thắp lên niềm tin về quyền được học, được hiểu biết và được làm chủ cuộc đời.
Từ nền móng ấy, nền giáo dục quốc dân từng bước được xây dựng và hoàn thiện. Tri thức trở thành sức mạnh, còn giáo dục trở thành chiếc cầu nối giữa truyền thống và tương lai, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc phát triển đất nước.
Nếu giáo dục là nền móng của tri thức thì di sản lại là ký ức của dân tộc. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, Việt Nam vẫn gìn giữ được một kho tàng văn hóa vô giá, nơi mỗi mái đình, ngôi chùa, mỗi làn điệu dân ca hay lễ hội truyền thống đều lưu giữ những lớp trầm tích của hồn dân tộc.
Từ quần thể di tích Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Hoàng thành Thăng Long đến những di sản được UNESCO ghi danh, văn hóa Việt Nam không chỉ khẳng định giá trị trước cộng đồng quốc tế mà còn trở thành niềm tự hào của mỗi người dân. Ở chiều sâu đời sống tinh thần, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, quan họ Bắc Ninh, ca trù cùng nhiều di sản khác vẫn được gìn giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ.
Những di sản ấy không nằm yên trong bảo tàng mà vẫn hiện diện trong đời sống, như nhịp đập bền bỉ của văn hóa Việt Nam - nguồn nội lực nuôi dưỡng sáng tạo và khát vọng phát triển trong tương lai.
![]() |
| Cửa chính của Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: dulichlive.com |
Bên cạnh giáo dục và di sản, văn học nghệ thuật luôn là một trụ cột quan trọng trong hành trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Từ những tác phẩm ra đời trong khói lửa chiến tranh đến các sáng tác phản ánh công cuộc đổi mới và nhịp sống hôm nay, nhiều thế hệ văn nghệ sĩ đã lưu giữ ký ức dân tộc, bồi đắp tâm hồn và hun đúc khát vọng phát triển. Không ngừng đổi mới, các loại hình văn học nghệ thuật vừa gìn giữ cội nguồn, vừa hội nhập với dòng chảy sáng tạo của thế giới.
Cùng với đó, những phong trào xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa, nông thôn mới gắn với phát triển văn hóa đã lan tỏa sâu rộng. Các giá trị yêu nước, đoàn kết, nhân ái, nghĩa tình, cần cù, sáng tạo và trách nhiệm tiếp tục được bồi đắp như nền tảng tinh thần của xã hội. Văn hóa vì thế không chỉ hiện diện trong những công trình, tác phẩm hay lễ hội mà còn sống trong cách con người ứng xử với nhau, trong nếp nhà, ngoài ngõ, giữa cộng đồng. Một dấu ấn quan trọng khác là sự hình thành ngày càng hoàn thiện của hệ thống thiết chế văn hóa trên khắp cả nước. Những bảo tàng, thư viện, nhà hát, trung tâm văn hóa, nhà văn hóa cơ sở, hệ thống phát thanh, truyền hình và các không gian sinh hoạt cộng đồng đã góp phần đưa văn hóa đến gần hơn với mỗi người dân, để quyền được sáng tạo và hưởng thụ văn hóa trở thành một phần của đời sống thường nhật.
Bước vào thời kỳ Đổi mới, văn hóa Việt Nam mở rộng cánh cửa hội nhập. Những tuần văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, các liên hoan điện ảnh, triển lãm mỹ thuật, chương trình biểu diễn nghệ thuật quốc tế... đã đưa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè năm châu. Văn hóa ngày càng trở thành sức mạnh mềm, là cầu nối của ngoại giao, là ngôn ngữ của sự đồng cảm và hợp tác.
Trong dòng chảy của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, văn hóa tiếp tục tìm thấy những không gian phát triển mới. Di sản được số hóa, bảo tàng và thư viện được kết nối trên nền tảng số; điện ảnh, thiết kế, quảng cáo, trò chơi điện tử, xuất bản số, du lịch văn hóa và nhiều ngành công nghiệp sáng tạo từng bước khẳng định vai trò là một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.
Tuy nhiên, để văn hóa thực sự phát huy vai trò nguồn lực nội sinh và bứt phá thành các ngành công nghiệp sáng tạo mũi nhọn, đòi hỏi phải có sự tháo gỡ mạnh mẽ về mặt thể chế. Một hành lang pháp lý đồng bộ, tinh gọn cùng các chính sách đầu tư, quản lý linh hoạt sẽ là bệ phóng vững chắc để văn hóa không chỉ hội nhập mà còn tự tin cạnh tranh trên toàn cầu.
Điều đáng quý hơn cả là Việt Nam đã từng bước hiện thực hóa quan điểm xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong dòng chảy toàn cầu hóa, bản sắc không khép mình để bảo tồn một cách tĩnh tại, mà được nuôi dưỡng bằng sự tiếp biến, đối thoại và sáng tạo. Đó là khả năng gìn giữ những giá trị cốt lõi của dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc Việt Nam.
Dẫu vậy, hành trình phía trước vẫn còn nhiều thử thách. Sự tác động của kinh tế thị trường, mạng xã hội, xu hướng thương mại hóa đời sống văn hóa cùng những biểu hiện lệch chuẩn trong ứng xử đang đặt ra yêu cầu mới đối với việc giữ gìn các giá trị nhân văn.
Giữ gìn bản sắc nhưng không khép kín; hội nhập sâu rộng nhưng không hòa tan; phát triển nhanh nhưng vẫn bền vững - đó sẽ tiếp tục là bài toán lớn của văn hóa Việt Nam trong thời đại mới.
Nhìn lại chặng đường đã qua, thành tựu lớn nhất không chỉ nằm ở những di sản được ghi danh hay công trình được xây dựng, mà ở sự bền bỉ vun đắp nên một tâm hồn Việt Nam giàu lòng yêu nước, nhân ái, nghĩa tình; biết biến truyền thống thành nội lực để vươn lên. Trong kỷ nguyên số, văn hóa không chỉ là miền lưu giữ ký ức, mà còn là nguồn sức mạnh sáng tạo. Chừng nào tiếng Việt còn ngân vang, những làn điệu dân ca còn được trao truyền, những trang văn, vần thơ còn lay động lòng người, chừng ấy hồn cốt Việt Nam vẫn được gìn giữ.
Văn hóa chưa bao giờ chỉ là ký ức. Văn hóa là sức mạnh làm nên bản lĩnh Việt Nam, là ngọn lửa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Và chừng nào ngọn lửa ấy còn cháy, chừng ấy cốt cách non sông vẫn sẽ trường tồn cùng thời đại. Một dân tộc có thể giàu lên nhờ kinh tế, mạnh lên nhờ khoa học, nhưng chỉ có thể trường tồn khi biết gìn giữ và làm giàu nền văn hóa của chính mình.