Học xong khóa tiến sĩ kinh tế năm 1980, tôi làm việc khoảng 4 năm tại một công ty tư vấn kinh tế ở Tokyo, từ năm 1984 mới chính thức theo đường nghiên cứu hàn lâm khi được nhận làm nghiên cứu viên cho Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Nhật Bản (JCER). Làm việc ở JCER được năm năm tôi chuyển sang Đại học Obirin và từ năm 2000 chuyển đến Đại học Waseda. Tôi bắt đầu tham gia viết sách từ năm 1985. Nói “tham gia” là mới chỉ phụ trách một chương trong sách do các thầy giáo cũ hoặc những người đã có tên tuổi làm chủ biên. Cuốn sách đầu tiên do tự mình viết hoàn toàn là cuốn xuất bản năm 1992. Từ đó đến nay, sách tự mình viết, sách viết chung với đồng nghiệp hoặc sách mình làm chủ biên, tổng cộng gần 20 cuốn.
|
Tại Nhật, việc xuất bản sách thường bắt đầu bằng một trong ba hình thức. Một là nhà xuất bản thấy cần phát hành cuốn sách liên quan đến một chủ đề mà họ thấy nhiều độc giả đang quan tâm. Thường là vào thời điểm kỷ niệm một sự kiện lịch sử quan trọng hoặc một sự kiện lớn liên quan chính trị, kinh tế thế giới, v.v… Trong trường hợp này nhà xuất bản cử một biên tập viên liên lạc với một chuyên gia có uy tín để đề nghị viết sách. Hai là trường hợp các nhà nghiên cứu thấy mình đã tích lũy nhiều bài viết liên quan đến một chủ đề nên tổng hợp thành một cuốn sách và tiếp cận với nhà xuất bản để đề nghị in. Ba là nhà xuất bản phát hiện trên báo một hoặc vài bài viết có nhiều ý tưởng độc đáo và được nhiều người quan tâm nên cử biên tập viên tiếp cận với tác giả và yêu cầu triển khai thành một cuốn sách.
Tôi có kinh nghiệm trong hai hình thức đầu tiên. Trường hợp thứ nhất xảy ra vào giữa thập niên 1990 khi triển vọng về kinh tế Việt Nam bắt đầu sáng sủa vì cải cách trong nước đang tiến hành và nhất là môi trường quốc tế chuyển sang thuận lợi (Việt Nam gia nhập ASEAN, bình thường hóa quan hệ với Mỹ, v.v...). Nhà xuất bản của báo Nikkei đã liên lạc với tôi nhờ viết một cuốn sách về kinh tế Việt Nam.
Từ năm 1984 ở JCER tôi nghiên cứu vấn đề đầu tư trực tiếp, chuyển giao công nghệ và công nghiệp hóa ở Á châu. Rất may là năm 1986 tôi nhận được tài trợ nghiên cứu từ Quỹ Toyota (Toyota Foundation). Với tiền tài trợ này, tôi thực hiện các chuyến khảo sát tại Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Indonesia. Thành quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn của tôi lần lượt phát biểu trên các tạp chí chuyên ngành kinh tế quốc tế, kinh tế phát triển, và kinh tế châu Á, và báo cáo ở Hội các nhà Kinh tế Quốc tế Nhật Bản.
Từ năm 1990, tôi bắt đầu thai nghén cuốn sách dựa trên thành quả nghiên cứu từ năm 1984 đến năm 1989. Rất may là qua giới thiệu của một thầy cũ, tôi tiếp cận được với Toyo-Keizai Shinposha, một nhà xuất bản lớn trong ngành kinh tế. Họ đồng ý với đề cương cuốn sách và quyết định sẽ xuất bản. Họ cử một biên tập viên phụ trách. Tôi và biên tập viên gặp nhau rất nhiều lần trong năm 1991, thường là khi tôi viết xong một chương gửi anh đọc trước, sau đó gặp nhau trao đổi về văn phong, về cách diễn đạt sao cho dễ hiểu. Cũng như kinh nghiệm về các cuốn sách sau này, nhà xuất bản ở Nhật chuẩn bị rất công phu, biên tập viên phụ trách thường gặp tác giả nhiều lần để trao đổi. Do đó, hầu hết các cuốn sách xuất bản tại Nhật, trong lời nói đầu ở phần cuối thường dành để cám ơn nhà xuất bản và nhất là cảm ơn cá nhân biên tập viên phụ trách. Trong sách của tôi cũng vậy.
Việc sửa chữa bản in cũng rất công phu. Sau khi hoàn thành toàn bộ bản thảo, nhà xuất bản làm bản in thử và gửi cho tác giả đọc và hiệu đính lần đầu. Khâu này khá mất thì giờ vì đối với tác giả đây là lần đầu đọc toàn bộ cuốn sách của mình, và thường phát hiện nhiều chỗ, nhiều từ ngữ ở phần sau chưa thống nhất với các phần trước. Có khi lúc này muốn bổ sung vài ý mà khi viết chưa nghĩ ra. Cũng có trường hợp muốn cập nhật số liệu. Do đó, tập bản in đầy mực đỏ sau khi tác giả hiệu đính lần đầu. Khoảng một tháng sau khi chuyển bản hiệu đính cho nhà xuất bản, họ chuyển bản in lần thứ hai cho tác giả xem lại, kiểm tra xem những bổ sung sửa chữa của mình đã được phản ánh trên bản mới chưa. Thông thường tác giả phải hiệu đính bản in ít nhất hai lần trước khi sách in ra.
Nói thêm là ở Nhật không phải xin giấy phép xuất bản. Ai cũng tự do viết sách, xuất bản sách và xã hội sẽ đánh giá nội dung và giá trị cuốn sách. Do đó sách xuất bản ở đây không mất thì giờ cho khâu xin giấy phép, khâu kiểm duyệt, thay vào đó là mất nhiều thì giờ cho khâu chuẩn bị và hiệu đính để nội dung và hình thức cuốn sách được hoàn hảo.
Qua gần 2 năm chuẩn bị, ngày 12/11/1992, cuốn sách đầu tiên của tôi ra đời. Tên sách có thể dịch ra tiếng Việt là Phát triển công nghiệp trong tương quan với các công ty đa quốc gia: Kiểm chứng tính năng động của vùng châu Á Thái bình dương, sách dày 250 trang do Toyo-Keizai Shinposha phát hành. Ấn tượng và cảm động là trong ngày phát hành, người phụ trách biên tập đã mang 10 cuốn đến văn phòng của tôi nói là đến để chào tác giả và tặng sách từ nhà xuất bản. Tôi dùng tất cả tiền nhuận bút mua sách để gửi tặng thầy cũ, đồng nghiệp và bạn bè trong giới nghiên cứu. Ở Nhật, muốn tặng sách thì chỉ cần đưa địa chỉ cho nhà xuất bản họ sẽ gửi đến từng người được tặng. Nhà xuất bản chuẩn bị một tấm thẻ bằng giấy tương đối dày có in mấy chữ “Tác giả kính tặng” và kèm theo cuốn sách được gửi tặng. Rất mừng là sách được đón nhận tích cực. Thầy giáo cũ và bạn bè gửi thư cám ơn đã nhận sách kèm theo những lời bình và cảm tưởng sau khi đọc xong mấy chương chính. Thời đó chưa có email nên thư cảm ơn nếu viết ngắn thì dùng bưu thiếp, nếu viết dài thì viết thư bỏ vào phong bì gửi bưu điện. Tôi vẫn còn giữ những tấm bưu thiếp và phong thư liên quan đến ý kiến của những người được tặng sách. Ngoài ra, nhiều tạp chí chuyên ngành, nhất là tạp chí về kinh tế Á châu và tạp chí khoa học của Hội Nghiên cứu Kinh tế Quốc tế đã nhờ chuyên gia viết bình luận, đánh giá ý nghĩa lý luận và thực tiễn của cuốn sách.
Một tin vui nữa là cuốn sách đã được trao Giải thưởng châu Á - Thái bình dương năm 1993. Nhật báo Mainichi ngày 11/11/1993 cả bản tiếng Nhật và tiếng Anh đã dành cả một trang để đăng tin, đánh giá của ban giám khảo và hình ảnh lễ trao giải cho 4 cuốn sách được chọn. Tôi đã dùng tiền thưởng để lập quỹ học bổng cho một trường trung học đã học ngày xưa ở Quảng Nam. Sau đó nhân chuyến về Hà Nội và gặp Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trần Hồng Quân tôi vui miệng kể chuyện sách được giải thưởng và tiền thưởng đã dùng để đóng góp cho giáo dục ở quê nhà. Không ngờ ông đưa thông tin này cho báo Nhân Dân. Ngày hôm sau rất ngạc nhiên thấy báo đăng tin ngay ở trang nhất.
Tóm lại, ở Nhật việc xuất bản sách mất nhiều thời gian cho khâu biên tập và sửa chữa bản thảo. Sách không phải qua quy trình kiểm duyệt của cơ quan nhà nước nhưng xã hội sẽ đánh giá sau khi phát hành. Sách có giá trị được các báo và tạp chí nhờ chuyên gia viết bình luận. Tác giả phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung. Chí ít là trong ngành kinh tế, cho đến nay tôi chưa thấy có cuốn sách nào bị chỉ trích là sai sót nhiều về nội dung để phải bị thu hồi. Trong bình luận của các chuyên gia thỉnh thoảng có thấy chỉ trích một số sai sót trong vài cuốn sách nhưng không đáng kể. Theo tôi biết, trong gần 50 năm qua, chỉ có một trường hợp là tác giả đã chép nguyên văn gần một trang trong sách của người khác. Cuốn sách bị thu hồi và tác giả (đang là Phó Giáo sư tại một đại học lớn) bị sa thải vì tội đạo văn. Chế tài của xã hội như vậy là rất nặng. Chính vì thế mà dù không có kiểm duyệt, việc xuất bản sách ở Nhật được xem là rất nghiêm túc.
![]() |
| Cuốn sách đầu tiên của tác giả được trao Giải thưởng châu Á - Thái Bình Dương. |