Nhà thơ từng giữ vai trò Tổng Biên tập tạp chí Tuổi xanh, nhiều năm là Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông là nhà thơ có công đóng góp lớn cho nền văn học thiếu nhi của nước nhà, với nhiều bài thơ được các thế hệ thiếu niên, nhi đồng ghi nhớ. Ông cũng là người góp công đào tạo, dìu dắt nhiều cây bút viết cho thiếu nhi. Nhà thơ Định Hải đã trút hơi thở cuối cùng vào hồi 11 giờ 56 phút trưa ngày 30 tháng 8 năm 2026 hưởng thọ 90 tuổi. Báo Văn nghệ trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Trần Đăng Khoa về nhà thơ Định Hải, để chúng ta cùng tri ân và tưởng nhớ về ông, một tâm hồn mãi tươi trẻ, một tấm lòng vì trẻ thơ, một trái tim nhân hậu.
Nhà thơ Định Hải, tên thật là Nguyễn Biểu, sinh ngày 6 tháng 6 năm 1937 tại làng Sét, xã Định Hải, huyện Yên Định (nay là xã Định Tân), tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình nhà giáo nghèo, có truyền thống văn hóa. Cha anh là thầy giáo dạy tiểu học. Mới được 5 ngày tuổi, anh đã mồ côi cha. Bà mẹ thay chồng “gánh” hai con nhỏ dại. Anh trai anh là Nguyễn Bao, cũng chỉ hơn anh 5 tuổi. Chính trong hoàn cảnh cùng cực ấy mà hai anh em đều rất biết thương mẹ và thương nhau. Nguyễn Biểu vừa học vừa tự kiếm sống bằng nghề cắt tóc dạo. Gia đình rất nghèo, lại ở thời giặc giã, mưa nắng khắc nghiệt, hết “thiên tai” lại “nhân tai”, cực khổ khôn lường. Và nói như một nhà thơ:
|
“Không phải niềm vui mà chính là nỗi khổ
Đã dạy tôi thành người.”
Nỗi khổ niềm đau của tuổi ấu thơ, không phải “dạy” anh nên người mà còn đào luyện anh thành một thi sĩ.
Không thể có thơ hay trong Cung Vua, Phủ Chúa. Thơ chỉ đồng hành với nỗi khổ của thế gian và những kiếp người bất hạnh thôi. Không phải ngẫu nhiên mà cả hai anh em đều đến với thơ ca. Nguyễn Biểu lấy miền quê Định Hải của mình làm bút danh. Hai anh em, hai nhà thơ với phong cách hoàn toàn khác nhau, nhưng lại bổ sung cho nhau, làm phong phú thêm nền thi ca hiện đại. Nếu Nguyễn Bao dào dạt tình yêu chân quê với Hoa Chanh, hoa bưởi, thì Định Hải lại trong vắt một bầu khí quyển trẻ thơ. Trừ ba tập văn xuôi đầu tay, không có mấy tiếng vang khi vừa bước chân vào làng văn: Thăm Bắc Lý, Hoa Mùa xuân, Bàn tay gieo hạt. Còn lại là thơ. Mười tập thơ đều viết cho trẻ em. Thơ anh là cánh rừng cổ tích nhiều màu sắc, âm thanh, từ Tiếng chim buổi sáng, Tiếng ru, đến Nhành hoa trong vườn sớm. Những con vật bình thường như Hươu cao cổ, Kiến xếp hàng mà chứa Bao nhiêu điều lạ. Rồi các trò chơi mà các em yêu thích Đu quay, Trồng nụ trồng hoa, Đánh trận giả. Định Hải gửi vào đó những bài học nho nhỏ không kém phần sâu sắc, mà cứ hồn nhiên, giản dị như không. Anh theo chân các em từ lớp mẫu giáo, tập tô màu, Vẽ quê hương, đến tuổi thần tiên e ấp Nụ hôn học trò. Rồi những ước mơ khát vọng Nếu chúng mình có phép lạ. Phép lạ gì vậy?
“Nếu chúng mình có phép lạ
Hóa trái bom thành trái ngon
Trong ruột không còn thuốc nổ
Chỉ toàn kẹo với bi tròn...”
Ta thấy tâm hồn các em rất đẹp. Tâm hồn Định Hải rất đẹp. Rồi lớn hơn, các em nhìn trái đất bằng con mắt trẻ thơ trong vắt. Giản dị. Hồn nhiên trong sáng mà chạm đến những vấn đề lớn:
“Trái đất này là của chúng mình
Quả bóng xanh bay giữa trời xanh
Bồ câu ơi, tiếng chim gù thương mến
Hải âu ơi, cánh chim vờn sóng biển
Cùng bay nào cho trái đất quay
Trái đất của bạn trẻ năm châu
Vàng, trắng, đen... dù da khác màu
Ta là nụ, là hoa của đất
Gió đẫm hương thơm, nắng tô thắm sắc
Màu hoa nào, cũng quý, cũng thơm!”
Bài thơ Bài ca trái đất được nhiều thế hệ thiếu nhi Việt Nam yêu mến. Bài thơ ấy, qua giai điệu rất đẹp và tươi vui của nhạc sĩ Trương Quang Lục, đã trở thành một ca khúc quen thuộc với hàng triệu trẻ em Việt Nam. Đó cũng là ước mơ, là khát vọng của trẻ em trên hành tinh này. Từ những câu thơ giản dị, Định Hải gửi đến các em một thông điệp lớn: Trái đất là ngôi nhà chung của tất cả chúng ta. Trẻ em mọi dân tộc, mọi màu da đều có quyền được sống trong hòa bình, trong tình bạn và tình yêu thương.
Định Hải không chỉ có thơ hay viết cho thiếu nhi. Anh còn làm biên tập, Trưởng phòng Biên tập sách Văn học của Nhà xuất bản Kim Đồng, Tổng Biên tập tạp chí Tuổi Xanh, rồi nhiều năm làm Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi, Hội Nhà văn Việt Nam. Cùng với Tô Hoài, Phạm Hổ, Võ Quảng, Định Hải góp phần quan trọng trong việc phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo những tác giả trẻ, đặc biệt là những em bé có năng khiếu thơ.
Định Hải về nhà tôi nhiều lần. Lần đầu tiên là năm 1968. Anh ở nhà tôi đến cả nửa tháng để kiểm tra xem có đúng là tôi biết làm thơ không, theo yêu cầu của Nhà xuất bản Kim Đồng. Cũng thời điểm ấy còn có nhiều vị khác thuộc các cơ quan khác, như bác Hồ Thiện Ngôn ở Trung ương Đoàn, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh báo Thiếu niên Tiền phong, anh Nguyễn Nghiệp ở Nhà xuất bản Giáo dục. Nhà tôi ngày nào cũng có khách. Định Hải xem tôi làm thơ theo yêu cầu của khách. Có ngày tôi phải viết đến mấy bài. Nhiều bài sau này in đi in lại trong tập thơ Góc sân và Khoảng trời của tôi, như Cây dừa, Vườn em, Sao không về Vàng ơi... Có ngày, người yêu cầu nhiều quá, tôi viết không xuể. Định Hải phải xông vào làm hộ tôi. Ấy là trường hợp cô giáo Kim Cúc muốn tôi có ngay bài thơ chào mừng ngày 8 tháng 3, để chiều cô đọc trong lễ kỷ niệm Quốc tế Phụ nữ của Trường Tiểu học Quốc Tuấn. Bình thường, chữ Định Hải nhỏ tí như con kiến. Nhưng hôm ấy anh viết nguệch ngoạc, to cộ, kiểu chữ của tôi:
Chào mừng ngày 8 tháng 3
“Mưa xuân tưới thắm bông hoa
Bướm theo hoa suốt từ xa đến trường
Ngàn hoa mang sắc quê hương
Tô vào thêm đẹp con đường cô đi...”
(8/3/1968)
Dưới bài thơ là tác giả, anh đề: Trần Đăng Khoa, học sinh lớp 3B của cô giáo Cúc. Các cô khen nức nở: “Ối giời ơi, sao hôm nay thơ em Khoa hay thế!” Tôi cũng thấy vinh dự tự hào, dù trong bài thơ ấy, chẳng có một chữ nào của tôi. Định Hải quên bài thơ này rồi. Nhưng tôi thì nhớ. Có lần gặp anh, khi cả hai anh em đều là hai lão già khú đế, tôi đọc lại cho anh nghe bài thơ này, rồi cả hai anh em cười bò, lại xuýt xoa, sao ngày ấy khổ thế mà đẹp thế, hồn nhiên thế. Định Hải còn có một bài thơ nữa tặng tôi. Bài này chắc anh cũng quên rồi, nhưng tôi vẫn nhớ:
Với em
Tặng Trần Đăng Khoa
“Anh đến nhà em một sớm mùa xuân
Nhè nhẹ mưa bay dệt nhung sắc lá
Xui nhớ bụi tre cơn mưa mùa hạ
Sấm đã đi xa, có tiếng bé Giang cười...
Từ góc sân nhà nho nhỏ sáng nay
Anh ngước nhìn khoảng trời xanh quê cũ
Lá mía múa gươm giờ bình yên giấc ngủ
Mật đọng rồi, trong sắc nắng trang thơ
Chẳng thấy gà con sợ mưa rối rít
Chúng lớn lên, lửa đỏ thắp trên mào
Hai giọt nước không bao giờ khô được
Lửa soi vào lại hóa những ngôi sao
Buồng chuối trước nhà, bàn tay bụ bẫm
Chuối trứng cuốc thơm lừng em đã mang chia
Quả xanh này sẽ vàng theo sắc nắng
Lại xòe tay vẫy bạn mỗi trưa về...
Mưa trong mắt em dây phơi thành chuỗi ngọc
Cây lá ở vườn em có máu thịt như người
Bảy sắc cầu vồng lung linh rực rỡ
Cứ bừng lên trong mắt của em tôi...”
(Xã Quốc Tuấn, 11/3/1968)
ĐỊNH HẢI
Bài thơ này, đến bây giờ ở quê tôi, có người còn thuộc, đặc biệt là các cô giáo Trường Tiểu học Quốc Tuấn.
Hồi đó thơ tôi in rất nhiều. Nhưng các báo không trả nhuận bút, vì sợ trẻ con sẽ hư hỏng. Chúng viết vì tiền chứ không vì nghệ thuật. Ngay cả Nhà xuất bản Kim Đồng cũng thế. Khi tôi có 50 bài thơ in chung với Cẩm Thơ, Nguyễn Hồng Kiên trong tập Em kể chuyện này, anh Bùi Hồng mang quà của Nhà xuất bản Kim Đồng về là cái đài bán dẫn của Nhật. Món quà ấy quý và oai lắm. Cả huyện chỉ mấy bác cán bộ và tôi có đài bán dẫn, còn mọi nhà nghe loa dây truyền thanh. Cái đài luôn được các anh trai làng mượn, đeo đi hỏi vợ. Hồi ấy người ta có mốt đeo đài mở oang oang khi đi ra đường. Nếu có đài hay có súng lục đeo hông là các cô cứ mê tít. Khi tôi ra tập thơ riêng Góc sân và khoảng trời, in đến 50.300 cuốn, chị Trần Tuyết Minh (nhà văn Trần Thiên Hương) giữa mùa hè, đèo về nhà tôi một cái chăn lông cừu to cộ của Mông Cổ. Cũng chỉ nhà tôi có cái chăn sang như thế. Còn các báo khác thì trả nhuận bút bằng cặp sách. Có năm tôi có đến mấy chục cặp sách. Nhà thơ Xuân Diệu viết: “Em Khoa rất ngoan và hảo tâm. Có phần thưởng hay quà, em đều chia cho bạn bè...” Thực ra, cậu Khoa cũng chẳng ngoan gì đâu. Cặp sách nhiều quá, dùng không hết thì cậu ấy nhờ bạn bè dùng hộ thôi. Chỉ duy nhất một tờ báo trả tôi nhuận bút. Đó là tạp chí Văn nghệ Quân đội. Mà nhuận bút rất cao. Tháng 4 năm 1967, tôi được đăng bài thơ Tiếng chim chích chòe, tạp chí tặng tôi một cuốn sổ tay có dòng chữ vàng Văn nghệ Quân đội, một cây bút máy Trường Sơn cùng 6 tháng báo biếu và nhuận bút 15 đồng. 15 đồng là số tiền rất lớn. Mẹ tôi đi chợ, mang cả gánh bèo nặng đi bộ suốt 5km đến chợ huyện mới bán được 5 hào. 15 đồng bằng mẹ tôi chạy chợ cật lực cả một tháng. Tôi ra bưu điện nhận đưa mẹ. Mẹ tôi kinh hoàng, cứ tra hỏi: “Con có ăn cắp của ai không? Sao chỉ có mấy câu mách qué của mày mà Chính phủ cho nhiều tiền thế.” Mẹ tôi không tin. Giải thích thế nào bà cũng không tin. Bố mẹ tôi chỉ bám đồng ruộng, vườn nhà với mớ rau, nải chuối, hay chục trứng gà mà vẫn nuôi được tôi, nuôi được cả khách của tôi nữa. Tất nhiên chủ và khách đều ăn cơm độn, rau muống cá kho. Nhà ăn gì thì khách ăn thế. Nhiều người khi ra về, cắt tem gạo gửi lại, nhưng mẹ tôi không nhận. Họ khổ tâm lắm. Tôi nhớ có một bác tên là Trương Sầm Tham, quê ở Bình Định, dạy học ở Nam Định, sau này tôi mới biết bác là thầy dạy nhà thơ Trần Mạnh Hảo và nhà phê bình Trần Đăng Suyền. Bác không biết làm cách nào để thanh toán được tiền cơm với gia đình, bác cứ nằn nì, rồi kéo bố con tôi cùng nhà thơ Định Hải ra sân để bác ấy dạy cho bài... Thái Cực quyền. Thế là nhà thơ cùng bố con tôi bò lổm ngổm như cua, nhưng bố tôi với anh Định Hải vui lắm. Bác ấy còn vui hơn. Gương mặt bác sáng bừng, thanh thoát và nhẹ nhõm vì đã “thanh toán” được một... món nợ rất khó trả.
Hôm rời nhà tôi về Hà Nội, anh Định Hải cũng ấn tiền vào tay mẹ tôi. Nhưng bố mẹ tôi cũng kiên quyết không nhận. Anh khổ tâm lắm mà lại chẳng có bài... Thái Cực quyền nào. Thế là anh ấy đèo tôi lên thị trấn Nam Sách. Mưa xuân lút thút bay như khói mà con đường đất đỏ lại lầy lội. Lần đầu tiên tôi được cưỡi xe đạp. Mới hay cưỡi xe đạp sướng hơn cưỡi trâu nhiều. Anh cho tôi ăn phở. Mà phở đặc biệt. Bát phở những 5 hào, bằng cả gánh bèo của mẹ tôi. Cũng là lần đầu tiên trong đời, tôi mới biết thế nào là phở. Hóa ra phở rất giống canh bánh đa. Nhưng ngon hơn bánh đa nhiều. Anh đưa tôi vào hiệu sách. Tôi thích gì, anh tặng ngay. Rồi anh mua cho tôi hơn chục bức tranh lụa thêu của Trung Quốc. Toàn là chân dung các lãnh tụ: Các Mác, Ăng Ghen, Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Hoàng Quốc Việt... Vách đất nhà tôi sáng bừng lên. Sang trọng và thiêng liêng. Nhưng mẹ tôi thì dằn vặt, khổ tâm. Bà cứ rên rẩm: Tranh đẹp thế, quý thế. Hàng đống tiền của anh ấy đấy. Thế này là vợ con anh ấy phải nhịn ăn đến mấy tháng rồi.
Hôm nhà thơ Định Hải rời nhà tôi về Hà Nội, mẹ tôi ứa nước mắt. Còn tôi với bé Giang thì khóc thút thít vì phải chia tay anh. Anh cười nhưng khóe mắt cũng ầng ậng nước.
Thoáng thế mà đã hơn sáu mươi năm rồi. Lần ấy anh về Hà Nội. Còn cuộc chia tay lần này, anh đi mãi. Đi mãi mãi!
Nhớ anh vô cùng, anh Định Hải ơi!