Sáng tác

Bờ nhân gian. Truyện ngắn của Phạm Trường Thi

Phạm Trường Thi
Truyện 14:00 | 15/01/2026
Baovannghe.vn - Từ thành phố về làng Vực có hai đường chính. Đường bộ là mặt con đê rộng chừng bốn năm mét, rải đá răm, còn đường thủy thì xuôi theo sông Hồng, rộng bao nhiêu chưa biết.
aa

Dòng sông lượn thế nào thì con đường uốn theo thế ấy. Trông khá uyển chuyển và đồng điệu. Tuy đều mang chức năng là vận tải nhưng hai con đường lại có sự khác biệt nhau. Người đi đường bộ ngược xuôi, hối hả tìm kế mưu sinh,còn người đi đường thủy cũng thế, nhưng lâu lâu lại phải làm thêm cả chức năng đưa tiễn những người xấu số về cõi vô cùng. Ấy là những người chết đuối. Họ chết vì muôn vàn lý do khác nhau. Có thể là do bị lũ cuốn, do tự tử, do đánh ghen, hoặc là kết cục của cuộc chiến nhằm thanh trừng lẫn nhau nhằm chiếm đoạt tài sản,chức quyền…

Thời phong kiến, đế quốc năm đôi ba vụ. Thời nay cũng chẳng ít hơn.

Những vụ chết kiểu này thường tập trung nhiều vào mùa mưa lũ hàng năm.

Thông thường: người chết từ phía thượng nguồn sau ba ngày ba đêm nằm lơ lửng dưới đáy sông mới bị trương phình và nổi lên mặt nước rồi hòa vào dòng chảy. Cái xác cứ vòng vo Tam quốc mãi cuối cùng cũng bị tống về làng Vực và mắc lại ở đây không trôi đi nữa.

Mỗi vụ như thế, những người duy tâm trong làng Vực lại túm năm, tụm ba thì thào to nhỏ.Họ cho rằng tất cả là tại con tàu Ký Bưởi bị chìm ở quãng sông này từ ngày xưa đã làm thiệt mạng hàng trăm hành khách vô tội. Oan hồn của những người xấu số vì thế vẫn còn vảng vất đâu đây. Chính họ đã giữ lại những cái xác chết trôi để cùng bày tỏ, cảm thông, chia sẻ cảnh ngộ. Nói thì nói vậy chứ cũng chẳng có cơ sở khoa học gì cả. Nhưng nếu bảo lỗi tại con tàu Ký Bưởi xem ra cũng chẳng ngoa.

Người già trong làng kể lại. Trước năm đói “bốn lăm” cũng vào mùa mưa lũ tháng bảy, con tàu Ký Bưởi đang ngược dòng về thành phố khi sắp đến khu vực ngã ba sông Tam Phủ thì không may bị gẫy bánh lái và quay lơ giữa dòng nước xiết. Sau một hồi vật vã không định hướng, con tàu bị nước nhấn chìm và sóng đánh táp vào bờ phía đầu làng Vực. Thời ấy kỹ thuật trục vớt còn non kém nên đành bó tay, vả nó cũng đã đến tuổi nghỉ hưu. Con tàu cứ nằm chềnh ềnh ra đó, nghiêng một con mắt gỗ sơn đỏ lừ vô hồn, vô cảm nhìn ra phía dòng chảy, mặc cho năm tháng qua đi, mặc cho đất đá, cỏ cây đắp lên mình tầng tầng lớp lớp, lâu thành nấm mồ lớn, giống như một mũi đất nhô ra khỏi bờ đến gần chục mét. Vậy là dòng sông mùa lũ nước ngầu đục phù sa lồng lên như ngựa chiến đang phi nước đại về phía biển bỗng bị ngáng lại ở đây. Từng đợt sóng bạc đầu nối đuôi nhau dội ầm ầm vào nấm mồ vô chủ ấy. Bao nhiêu năm cần mẫn dòng nước muốn xóa đi mũi đất nghênh ngang cản đường, xong lại bị chính mũi đất ấy khuất phục. Thế là dòng nước hung hãn bị uốn cong sang phía bờ sông bên kia rồi mới vật trở lại, tạo thành một vùng nước xoáy rộng chừng non sào ruộng ngay sau mũi đất mà nó định chinh phục.

Mùa đông nước cạn,vùng xoáy sâu hoắm,nước xanh đen nhìn hun hút đến dợn người. Mùa hè, nước ngàu đục như từ trong lòng đất đùn lên, nổ bùng bục rồi xoay tròn như chong chóng trên miệng cái vùng xoáy ấy.

Công bằng mà nói cái vực xoáy tuy mang màu sắc huyền thoại hãi hùng nhưng đã đem đến cho dân làng Vực vô số nguồn lợi. Mùa lũ nước từ thượng nguồn tống về đây đủ thứ bà rằn. Lẫn với cỏ rác, cây chuối, bèo tây là tre nứa, củi rều. Những thứ này vớt lên phơi khô làm chất đốt, lửa cháy đượm, thơm sạch sẽ, miễn chê. Nhiều gia đình trong làng cả năm nấu nướng, sinh hoạt không cần đến rơm rạ. Cũng vào mùa nước lũ quanh bờ vực như mở hội. Cả làng người lớn, trẻ con, đàn ông, đàn bà tất tật đều đổ ra đây. Người dưới nước, kẻ trên bờ bơi lặn, khều vớt tất tật những thứ có thể dùng được. Tiếng nói cười huyên náo một vùng. Nhiều khi có đụng độ, tiếng cãi chửi nhau chí chóe chỉ vì tranh dành một đoạn củi,mấy cây bương dập.

Tiếng đồn, xưa ông Trương Văn Cứ vớt được từ cái vực này cả một chiếc hòm gỗ sơn son, thếp vàng bên trong chứa đầy quần áo, vải vóc toàn bằng tơ lụa thêu kim tuyến sặc sỡ và nghe đâu có cả vàng bạc nữa. Ông Cứ từ kẻ cùng đinh bỗng dưng trở thành người giầu có nhất làng Vực. Ông trích ra một chút lộc trời cho mua dăm mẫu ruộng, hai con trâu cày và cái chức lý trưởng. Ông Cứ trở thành Cụ Lý từ đó. Người ta nói: “Được bạc thì sang,được vàng thì lụi” quả không sai. Cải cách ruộng đất Cụ Lý Cứ bị quy là địa chủ cường hào gian ác và bị tử hình cũng ngay tại bãi cát trên bờ vực này.

Điều đáng nói là nước lũ đổ về cái vực cùng với rác rưởi, bèo bọt còn có cả xác các loài động vật.Bé thì như mèo, chuột, chó lợn, to thì như trâu bò, bê nghé. Đặc biệt có cả xác người chết trôi. Xác động vật vớt lên đào hố chôn, ủ với cỏ rác làm phân bón ruộng thì khỏi cần đến anh phân chuồng, phân hóa học, lúa vẫn cứ lên bời bời. Nhưng còn xác người chết có các vàng bố ai cũng chẳng giám làm thế vì nó phạm vào đạo đức, vào cõi tâm linh.

Từ thời xa xưa đến giờ vẫn lưu hành một điều luật không thành văn là tất cả những xác người chết trôi sông khi dạt vào bờ thuộc địa phận làng xã nào thì làng xã ấy phải có trách nhiệm vớt lên bờ lo liệu chôn cất,mai táng tử tế.

Cũng từ xa xưa dân làng Vực đã chấp hành nghiêm điều luật ấy.Họ cho rằng dù có luật,hay không có luật thì cũng thế thôi. Đó là nghĩa vụ của người sống với người chết. Với đạo lý của cha ông truyền lại: “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Cứu giúp người xấu số âu cũng là sự vun đắp cho cái nhân, cái đức để lại cho con cháu muôn đời sau. Nhưng nếu chỉ là vớt người chết từ dưới nước lên bờ chôn thì quá đơn giản không cần bàn cãi. Nhưng trên thực tế để có thể chôn một người đã chết (dù là người chết trôi) là vô cùng phức tạp. Mà sự phức tạp ấy lại chính ở những người xấu số vì cái chết của họ là cái chết không bình thường. Người chết trôi nào cũng mang theo mình những bí mật với muôn vàn dấu hỏi. Họ là ai? Già hay trẻ? Là đàn ông hay đàn bà? Quê quán ở đâu? Vì sao bị đẩy vào hoàn cảnh thương tâm này. Những dấu hỏi bí ẩn ấy phải được giải mã trước khi cho hạ huyệt. Vậy ai giải mã và ra quyết định hạ huyệt nếu không phải là cơ quan thực thi pháp luật. Bằng phương pháp nghiệp vụ tinh thông, với sự hỗ trợ của các trang thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại để tiến hành điều tra nhưng không ít vụ việc khiến cơ quan pháp luật phải bó tay, đành khép lại bức màn bí mật ấy. Lý do bất khả kháng bởi người chết đuối được vớt từ dưới nước lên đều có chung một đặc điểm là hình hài của họ bị méo mó, biến dạng. Biến dạng đến mức mà chính người thân của họ cũng không thể nhận ra. Một phần do ngâm nước lâu ngày, bị sóng gió, nắng mưa làm rũa nát,một phần do tôm,cá rỉa rói… Những phần nhô ra khỏi cơ thể là những phần tiêu tan nhanh nhất. Ngay đến việc xác định được giới tính cũng không dễ dàng gì, chứ chưa nói đến những nội dung phức tạp khác.

Không còn cách nào khác là cơ quan thực thi pháp luật phải bảo đảm tính nghiêm minh của luật pháp, bảo vệ quyền sống của con người nên tiến trình điều tra phải tuân thủ theo một quy trình bắt buộc, bài bản. Không được phép làm ẩu, làm tắt, dù biết rằng có những thủ tục mang tính chất hành chính quá rườm rà, nhiêu khê đặt ra từ ngày xửa, ngày xưa. Nghĩa là ai phát hiện được người chết đuối trôi dạt vào bờ thì việc đầu tiên là phải kíp thời lên báo cáo xã. Xã báo cáo lên huyện. Huyện báo cáo lên tỉnh. Tỉnh và huyện phối hợp thành lập đoàn kiểm tra trực tiếp về xã để tiến hành điều tra, xác minh. Tiến trình vòng vo ấy lấy đi mất khá nhiều thời gian, tính kịp thời khiến cho công tác điều tra gặp khó khăn hơn. Đoàn kiểm tra bao gồm nhiều thành phần của các cơ quan hữu trách, trong đó không thể thiếu ba nhân viên pháp y, tất cả gói gọn trong chiếc xe mười lăm chỗ ngồi. Thời gian đoàn làm việc nhanh hay chậm phụ thuộc vào tính chất của vụ việc cũng như kết quả của công tác điều tra. Thông thường không thể kết thúc trước hai ngày vì một núi công việc. Có muốn cũng không thể kéo dài thêm vì để lâu cái xác thối rữa gây ô nhiễm môi trường. Với xã điều ấy không quan trọng lắm.Điều xã quan tâm hơn là vấn đề tài chính mà xã phải chi tiêu. Chẳng cần phải dùng đến máy tính, chỉ bấm đốt ngón tay cũng tính ra. Đoàn gồm mười lăm người chẳng hạn cộng với xã sáu bảy người nữa (kể cả người phục vụ) thế là hai mươi hai. Ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều cộng với tiền chè thuốc sẻn ra chi cho mỗi thành viên trong đoàn ngày cũng phải mất một trăm năm mươi nghìn đồng, nhân với hai mươi hai người bằng ba triệu ba trăm nghìn đồng. Chi hai ngày là sáu triệu sáu. Ấy là chưa tính đến tiền mua hương hoa,vải liệm và cỗ quan tài cho người xấu số. Quan tài cho người chết đuối phải là quan tài ngoại cỡ mới nhét được, do vậy phải đặt xưởng gỗ trên phố huyện cách xã mười cây số đóng mới. Tiền xe đi về thử tính xem?

Rõ ràng mỗi vụ làm nghĩa tử, nghĩa tận như vậy xã phải chi ra trên chục triệu đồng là cái chắc.Nếu vụ nào may mắn có thân nhân người chết đến nhận, họ chi đỡ cho một phần thì tốt, bằng không xã phải lo hết.

Năm một vụ ngần ấy tiền. Năm vài ba vụ tiền xã phải chi sẽ là bao nhiêu? Chi rồi quyết toán ra sao? Tỉnh, huyện hứa sẽ cấp đầy đủ, nhưng hãy đợi đấy… Ngày còn bao cấp chủ nhiệm hợp tác xã xé tờ lịch ký một chữ lằng ngoằng, lệnh xúc thóc trong kho ra bán là xong, giờ giao ruộng, giao đất cho hộ gia đình rồi thì đến từng nhà mà thu hay sao. Chẳng còn cách nào khác là phải rút tiền từ hòm của thủ quỹ xã mà hòm của thủ quỹ xã lâu nay đã là nơi lý tưởng để các loài dán định cư. Thực ra thì xã cũng có mấy nguồn thu từ phúc lợi: bán đất, thuê đất, thuế chợ, thuế đò ngang, đò dọc, phạt người vi phạm giao thông,gây mất trật tự an ninh thôn xóm… Số tiền ấy có đáng là bao so với các khỏan xã phải chi,không thể không chi. Nào là chi cho đại hội Đảng các cấp, đại hội hợp tác xã,các đoàn thể, chi cho tổ chức các ngày lễ lớn trong năm,ngày khai giảng năm học mới, ngày thương binh liệt sỹ, thăm hỏi gia đình có công với cách mạng,gia đình neo đơn… Nếu ngân sách xã không bị thâm đã là phúc lắm chứ đừng nghĩ đến chuyện bóc tách từ đây. Nói vậy nhưng cái việc nghĩa tử,nghĩa tận xã vẫn phải làm. Không phủi tay được. Nhưng làm thì phải chi. Hết tiền chi thì phải vay ngân hàng.Vay ngân hàng thì phải trả lãi xuất. Đó là nguyên tắc… Trong lịch sử ngành ngân hàng chỉ thấy cho vay lãi xuất thấp đối với lĩnh vực đầu tư phát triển sản xuất của doanh nghiệp tập cũng như tư nhân chứ chưa bao giờ lại ưu tiên cho vay lãi xuất thấp để tổ chức điều tra vụ án, để chôn cất người chết đuối. Vậy thì phải lách luật để vay. Vụ này vay, vụ kia vay, lãi mẹ đẻ lãi con vài năm cộng lại khoản tiền xã vay cũng kha khá. Khó trả…

Để giải quyết khó khăn này, vài năm gần đây xã đã ngầm ra một chỉ thị, nhưng không viết thành văn bản. Nếu viết thành văn bản có đóng dấu đỏ chóe hẳn hoi tỉnh, huyện mà bắt được thì cốt cán xã có mà mất ghế hàng loạt, ngồi bóc lịch, ăn cơm cân cả nút. Chỉ thị là tất cả các xác chết trôi dạt vào địa phận của xã nhà, ai trông thấy thì phải nhanh chóng đẩy ra ngoài dòng nước cho trôi sang địa phận xã khác. Với cái lập luận rất vô trách nhiệm: “Hoa thơm để mỗi anh ngửi một tí cho nó biết mùi”.Chỉ thị là vậy nhưng chẳng có ai thi hành. Hỏi dân, dân bảo họ không làm cái việc vô lương tâm ấy dù có miễn thuế nông nghiệp cả đời cũng mặc. Việc này trước đây giao cho lực lượng TNXP. Nay lực lượng TNXP không còn nữa, đẩy xã vào thế bí. Xã phải cử cán bộ đích thân xuống làm việc với cánh thuyền chài cũng không xong.

Bực thế chứ! Tìm hiểu sâu mới biết. Cánh thuyền chài từ xa xưa thực hiện một điều cấm kỵ là không bao giờ cứu vớt người chết đuối vì cho rằng người chết đuối là do ông Hà Bá bắt ai cứu vớt thì bản thân hoặc người trong gia đình phải thế chân nên họ sợ không giám làm. Do vậy cánh thuyền chài không dám chìa tay ra nhận đồng tiền thuê khoán hậu hĩ ấy dù hũ gạo trong thuyền cạn trơ đáy đi nữa. Hoặc giả bị chính quyền đuổi ra khỏi khu vực sông nước do xã quản lý cũng cam lòng. Hết cửa, chủ chốt xã phải nhóm họp bất thường để phân công cán bộ phụ trách công việc cụ thể. Đồng chí A chỉ sang đồng chí B,đồng chí B chỉ sang đồng chí C.Đồng chí C quay mặt đi chỗ khác…Sự việc tưởng đi vào ngõ cụt,ai ngờ lại được một công dân hạng chót, một cử tri bất đắc dĩ khai thông .Đó là ông Hoán.Gọi là ông là theo tuổi tác chứ còn hơn bốn ngàn dân trong xã từ trẻ đến già ai cũng gọi ông Hoán với những cái tên ghép chẳng hay ho gì: “Hoán say”, “Hoán cá” “Hoán chôm”… Bởi nó gắn với những việc làm để lại tai tiếng mà ông Hoán đã gây ra.Cán bộ chủ chốt xã mừng đến sút đầu gối.Nhiều vị không giữ được mồm miệng đã vỗ đùi,thốt lên: “ Hừ!Tay Hoán này thế mà anh hùng.Phải đề nghị thưởng cho hắn cái huân chương mới xứng đáng…”Xã còn ngạc nhiên hơn khi hỏi giá đẩy một cái xác chết trôi ra khỏi địa bàn là bao nhiêu? Hồi hộp.Chờ đợi.Hoán ngửa cổ nhả khói thuốc lào xong,nhổ đánh toẹt bãi nước bọt vào lòng bàn tay xoa xoa mấy cái rồi tuyên bố xanh dờn: “Cút rượu, bìa đậu. Xong”. Dân xã biết chuyện nhiều người xâng xâng chửi Hoán từ làng trên, xóm dưới: “Cha đời cái thằng giời đánh,thánh vật không chết quách đi cho rồi.Chết thì bớt một miệng ăn chứ sống mà làm cái việc vô luân,thất đức ấy thì nhục nhã lắm…Xã mình đã hết vận rồi sao lại nảy nòi ra cái giống quái ấy chứ.” Đổi lại cũng có người cảm thông: “Nói gì thì nói chứ lão Hoán sống vật, sống vờ, ngày kiếm không đủ cái đút miệng thì nhận làm là phải thôi. Nghĩ cho cùng chẳng mất vốn mất lãi gì mà lại có tiền đút túi. Vả lão tứ cố vô thân không nhà, không cửa, không vợ con, có để họa cho ai đâu mà sợ. Mấy người lửng lơ: “Toàn một lũ đạo đức giả, phét lác! Thử hỏi xã này mà phi tay Hoán thì có đứa nào dám làm. Nói đi…”

Đúng vậy, nếu không có tinh thần xung phong của ông Hoán thì mỗi hộ gia đình cứ chuẩn bị sẵn ra một khỏan tiền để đóng cho xã là vừa, gọi là tiền góp “Quỹ tâm linh” như là cách làm trước đây. Bản tính cố hữu của con người là bất cứ việc gì không làm ảnh hưởng đến quyền lợi, miếng cơm manh áo của mình thì cũng xem như không. Dân xã biết cái quyết định ngầm của chính quyền là sai trái nhưng không ai hé răng nói nửa lời. Ngay cả các phe nhóm đối nghịch trong xã thường dùng mọi thủ đoạn để dành từng lá phiếu của cử tri mỗi khi có bầu bán cũng không lấy cái quyết định sai trái này ra làm vũ khí chơi nhau.

Ông Hoán có nghe, có biết những lời to nhỏ ấy,nhưng bỏ ngoài tai. Việc Hoán, Hoán làm chả đụng đến cha con thằng nào mà sợ. Bình thản. Mỗi vụ: “Cút rượu, bìa đậu. Xong.” Công việc mà ông Hoán làm lâu lâu đã thành quen. Quen với cả dư luận. Mà rồi để sống ai cũng phải tất tưởi chạy ngược,chạy xuôi lo kiếm miếng cơm, manh áo chứ còn thì giờ đâu mà ngồi “buôn dưa lê”mà đàm tiếu. Mọi người xem đó là chuyện thường ngày ở xã.

Nhưng rồi đến một hôm cả làng trên, xóm dưới ngã ngửa người khi nghe một cái tin sét đánh: ông Hoán… đã bị công an huyện bắt vì tội có liên quan đến vấn đề vàng, bạc từ những cái xác chết trôi sông…

Bờ nhân gian. Truyện ngắn của Phạm Trường Thi
Hình ảnh minh họa. Nguồn pinterest

Người nhà quê có năng khiếu truyền tin, nhanh hơn cả các phương tiện thông tin hiện đại nhất. Cái tin động trời trên dù chưa qua kiểm định đã nhanh chóng được phủ sóng trên toàn bộ địa bàn xã. Các kênh dư luận đối chọi nhau chan chát. Người thì bảo Chẳng vô cớ mà lão Hoán muối mặt nhận làm cái việc thất nhân, thất đức ấy nếu như không có “màu” không kiếm được kha khá đồng tiền, chứ lão dại gì… Thì ra lâu nay lão đóng kịch,giả nghèo,giả khổ. Trộm buồng cau, nải chuối con gà, con cá chẳng qua là để che mắt mọi người không chú ý đến mình chứ ngầm bên trong thì hắn chơi những quả đậm.Mấy người chết trôi mà không mang theo tiền, nhẫn vàng,đồng hồ kia chứ. Mỗi năm vài ba vụ hắn không giàu mới là chuyện lạ. Người bảo phải xem xét cho kỹ đã, chứ đừng vu oan giáo họa cho hắn. Đã là cái xác chết trôi thối rữa ra thì còn cái con mẹ gì mà màu với chả mè… Có chăng là màu mè của lũ tôm, cá đói ăn. Mấy người lâu nay xem thường, khinh miệt ông Hoán thì giờ đây bỗng ngả sang thương cảm.Nói gì thì nói chứ phải công nhận lão Hoán bề ngoài trông bất hảo vậy đấy, nhưng bên trong hắn hiền như cục đất. Cả đời chả to tiếng với ai bao giờ. Nhà nào có công việc, dù to, dù nhỏ gọi đến Hoán, Hoán giúp. Trả công Hoán bao nhiêu Hoán nhận, không tính toán,so đo bao giờ. Đời hắn gói lại mấy chữ: “Cút rượu, bìa đậu. Xong” thế thôi. Câu nói cửa miệng của Hoán đã được dân xã dùng trong nhiều trường hợp khi bàn bạc ký hợp đồng,làm ăn kinh tế, giao lưu… Con người ấy sao có thể dính vào cái việc động trời ấy… Đám thanh niên choai choai ngồi quán nói bằng giọng rượu bia, bằng lời qua, tiếng lại.Lời qua! Xã mình nếu lập kỷ lục thì ông Hoán phải là người có tên đầu tiên với những kỷ lục được xác lập.Người chọc tiết lợn nhanh, sạch nhất xã. Người đào xong cái ao rộng cỡ sào ruộng chỉ trong bẩy ngày với độc nhất một chiếc kéo dây. Người bốc xong một ngôi mộ chỉ trong vòng ba mươi phút,chưa bao giờ để sót dù một đốt xương tay, xương chân nhỏ nhất. Tiếng lại! Xã cũng còn khối hảo hán lập nên kỳ tích nữa, nhưng xét ra cũng làng nhàng, chưa là cái đinh gì. Vứt. Ghi vào Gi nét chỉ tốn giấy mực.

Xưa các cụ nói đời cha ăn mặn đời con khát nước, nhưng giờ ăn mặn là khát nước ngay. Người làm điều thất nhân, thất đức phải trả giá ngay không cần đợi đến đời con,đời cháu sau này. Chuyện ông Hoán bị bắt đi tù chính là ác giả, ác báo chứ chẳng còn oan trái gì. Công an họ phải điều tra cẩn thận thì mới ra lệnh bắt chứ, bắt bừa bãi sao được. Nghĩ thì thương lão Hoán đấy, nhưng suy cho cùng thì cũng có điều an ủi. Dù ở ngoài hay ở trong tù đối với lão cũng chẳng có gì khác. Khác chăng là ở ngoài lão được tự do, muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm,giờ phải quanh quẩn trong bốn bức tường trát xi măng. Nhưng bù lại ở tù lão có nơi ăn chốn ở ổn định. Mưa nắng, muỗi rãn chẳng lo. Đến bữa có người bê cơm đến tận miệng. Chắc chắn bữa ăn dù nhiều, dù ít cũng phải có thịt, có cá,có canh riêu chứ kém gì. Chỉ phiền một nỗi là không có rượu. Đã là phạm nhân thì ai cho uống rượu. Thèm nhưng cũng chịu được. Đã chẳng phải đụng tay, đụng chân vào việc gì, thế là tốt lắm rồi.

Ba ngày đầu bị bắt ông Hoán phải ngồi sau chấn song sắt. Ngày thì nóng như trong lò gạch. Đêm thì muỗi bay như trấu. Cũng chẳng sao, hắn quen rồi. Nóng thì hắn cởi trần, lăn xuống gầm phản. Còn muỗi cũng dễ trị thôi. Cứ rít liền ba điếu thuốc lào nhả khói mù mịt là lũ muỗi cay mắt chuồn sạch, thế là yên tâm kéo gỗ đến sáng. Từ ngày thứ tư Hoán được ra ngoài phòng giam. Lý do: có thể là các chú công an thương hắn vì trời nóng quá và cũng có thể biết hắn không trốn chạy. Có nơi nào đâu mà hắn trốn chạy, nên cũng chẳng cần áp dụng biện pháp quản chặt.

Nói là vào trại ông Hoán không phải làm gì thì cũng chưa hẳn đúng bởi chiều nào cũng phải lên phòng thẩm vấn. Trả lời những câu hỏi lặp đi lặp lại, lần sau giống lần trước, lần trước giống lần trước nữa, xoay quanh chỉ là mấy vụ gây mất trật tự trị an thôn xóm sảy ra trước đây. Ông Hoán gần như thuộc lòng cả câu hỏi, cũng như câu trả lời. Có một thói quen cố tật dù người hỏi chuyện mình là ai, trẻ hay già, trai hay gái ông Hoán cũng xưng “em”… Xưng em ngọt sớt. Vâng! Buồng chuối của bà Tèo ở xóm Trại là do em chặt, nhưng mà suy cho cùng cũng là tại vì buồng chuối ngả ra đường chắn lối đi, đêm về qua mấy lần em bị va đầu vào đấy sưng vếu, em có đề nghị bà Tèo buộc giây thừng kéo cao lên nhưng bà Tèo không nghe còn mắng em là thằng mù mới không nhìn thấy. Ức! Sẵn con dao trong tay em chặt phéng. Chặt rồi, vứt đi thì tiếc, em vác về dựng ở góc nhà đợi chín ăn dần. Ăn được mấy quả nhồi nhội chát quá, đành bỏ để mặc cho lũ chuột ngứa răng chúng nó xử lý. Khi hỏi về thủ đoạn nào để mò trộm được cá trong ao mà không bị chủ nhà phát hiện, tự nhiên ông phấn khích hẳn lên, cảm thấy như mình đã gặp được người tâm đắc, tri kỷ muốn biết, muốn hiểu về ngón nghề độc chiêu của mình mà từ xưa đến nay chưa ai hỏi và ông cũng chưa kể cho ai nghe bao giờ.

Hoán bật đứng dậy vớ lấy tờ báo Nhân Dân rồi trải ra mặt bàn, bắt đầu giọng sôi nổi, hồ hởi diễn giải từng chi tiết, quên mất cả thân phận mình hiện tại… Chính quyền ạ: em chỉ cần một mảnh lưới to bằng này thôi, rồi Hoán làm động tác hai chân kẹp hai mép lưới ấn sát xuống mặt đất, còn hai tay túm nhẹ hai mép lưới kia vươn ra phía trước. Khe khẽ tụt xuống góc ao. Nhưng nhớ là phải nhẹ nhàng không để chó cắn. Mà bất đắc dĩ nó cắn là việc của nó. Việc mình, mình cứ làm. Bọn chó tiếng là tinh mắt, thính tai vậy chứ cũng ngu lắm. Chúng chỉ cắn khi thấy bóng người thấp thoáng trên bờ ao, chứ khi mình đã tụt xuống nước rồi thì cu cậu cúp đuôi, lủi thẳng… Cứ vậy em rê mảnh lưới trên măt bùn, lũ trôi, chép đêm ăn chìm đụng vào là em chụp xuống. Xong. Em thú thật với chính quyền chứ dùng cái “chiêu”ấy chỉ vài tiếng em có thể bắt sạch cá trong ao, nhưng em không nỡ làm thế. Em nhất quyết chỉ bắt hai đến ba con, chứ không bắt đến con thứ tư. Mấy mụ hàng cá xúi “em”cứ phải bắt nhiều nhiều vào mà bán cho chúng tôi thì mới có nhiều tiền, mới giàu được chứ… Em bực quá mắng cho biết mặt. Giàu thì rồi cũng như ông vua Ngô thôi… để làm gì chứ… Các mẹ tham mà ngu lắm…Bắt cạn kiệt thì mai còn gì mà bắt. Em cũng đã nghĩ kỹ rồi với mấy chục cái trong làng lần lượt quay vòng cả năm em sống ngon, vạ gì. Các mẹ ấy chọc em đi đêm lắm rồi có ngày cũng gặp ma. Gặp ma thế nào được. Em phải có mẹo chứ. Thế này nhá: khi tụt xuống ao là em cởi trần, mặc độc có cái quần đùi lá tọa rộng thùng thình, bắt được con nào em cuộn vào cạp quần con ấy, đủ số, bò lên bờ vắt cái lưới qua vai, như là vắt cái áo cứ thủng thẳng bước, chả ai để ý. Vào chợ, đến hàng cá đã hẹn trước, khẽ cúi người xuống, lật cái cạp quần, rồi nghe hai tiếng toạch toạch… là xong. Chìa tay nhận túm gạo đủ ăn một ngày…. Còn cái vụ trộm chó em đã thú nhận rồi. Em trộm con chó kiến chỉ to cỡ cái phích lít rưỡi thôi nhưng khi dựng lại hiện trường xã bắt em phải ôm con chó lai Tây to tướng để chụp ảnh. Em phản đối. Xã quy cho em là chống lệnh. Em đâu dám chống lệnh. Sự thực là em bắt con chó bé nhưng lại bắt em chụp ảnh với con chó to là không đúng sự thật. Nể xã mà tặc lưỡi khác nào em tự đẩy mình vào chỗ chết. Em bị oan, em kêu oan là đúng chứ ạ… Thưa! Còn cái việc họ tố em lấy vàng bạc của người chết thì… Sao ở đời lại có người ác đến thế kia chứ. Em tiếng là hay trộm vặt, nhưng đâu dám đụng vào những việc tày trời như thế… Ngày tư, ngày rằm em vẫn lên chùa đấy. Họ bảo em chôn dấu ở đâu thì xin chính quyền cứ cho đào lên là biết. Đúng, em xin chịu tội.

Với cái giọng tưng tửng hồn nhiên như đùa, như thật ấy thì chẳng ai có thể tin được ông Hoán, chứ đừng nói gì đến cơ quan pháp luật. Nhiều câu hỏi nghi vấn đã được đặt ra. Phải tổ chức một cuộc điều tra nghiêm túc tại hiện trường thì mới có kết luận chính xác được.

Chiều cuối hè, nắng có dịu đi nhưng cái nóng thì vẫn hầm hập. Không biết Facebook nào loan tin mà dân làng Vực và các vùng xung quanh, già trẻ, gái trai đã ô nón kéo đến ngồi kín sườn đê hướng ra bãi cát nối đến bờ vực. Một cái lán phủ bạt được xã dựng lên từ sáng, bên trong kê vài cái bàn và mươi cái ghế nhựa xanh đỏ. Cạnh bờ vực kê một cái bàn nhỏ trên bày nải quả, lọ hoa, mấy xếp giấy tiền âm phủ, khói hương tỏa nghi ngút khiến cho những người tò mò không khỏi hồi hộp, đoán già, đoán non. Sau tiếng loa ọ ẹ phát đi mấy lời thông báo cụt ngủn, phái đoàn điều tra liên ngành đi ra, theo sau là ba người đàn ông vai mang cuốc, xẻng. Bước chân họ ngả nghiêng trên cát như say rượu. Ông Hoán đến quỳ trước ban thờ chắp tay vái lạy mấy cái và lầm rầm khấn vái gì đó, cuộc khai quật “kho báu” bắt đầu. Giờ thì dân làng Vực đã tràn xuống bãi cát với lời qua, tiếng lại, chen lấn xô đẩy nhau. Dân quân xã phải mất hồi lâu mới lập lại được trật tự.

Ông Hoán và hai cộng sự làm việc dưới sự giám sát của thành viên đoàn điều tra đại diện cho huyện, xã. Công việc đòi hỏi tiến hành khẩn trương nhưng phải hết sức cẩn trọng. Dân làng Vực chăm chú theo dõi từng động tác dù nhỏ nhất của ông Hoán và đã chứng kiến hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Họ không ngờ bên dưới rẻo đất pha cát cạnh bờ vực phẳng lì lơ phơ mấy bụi cỏ dại thường ngày bọn trẻ thả trâu bò, hoặc đùa chơi lại là nơi lưu giữ hài cốt của sáu con người không rõ giới tính, họ tên, quê quán.Từng quen với công việc này nên chẳng cần nhiều thời gian với bàn tay thuần thục, khéo léo của mình, ông Hoán đã tỉ mỉ “tắm rửa” sạch sẽ cho từng bộ hài cốt và đặt gọn ghẽ trên những tấm ni lon trải sẵn, rồi gói lại cẩn thận. Những giọt mồ hôi đẫm ướt trên khuôn mặt hốc hác của ông Hoán toát lên sự thành tâm hiếm thấy. Nhiều người đã rân rấn nước mắt. Sự thật đã được phơi ra trước thanh thiên, bạch nhật. Chỉ có hài cốt, hài cốt, chẳng thấy vàng bạc kim cương đâu cả. Những câu hỏi nghi ngờ đặt ra. Hay là ông Hoán dấu ở nhà? Lão đang ở trong cái kho cũ của hợp tác xã chứ có nhà đâu mà dấu. Chắc chắn là nhờ ai đó thân thiết giữ hộ? Lão tứ cố, vô thân có ai thân thiết đâu mà nhờ… Xét về chi tiêu hàng ngày của lão cũng chẳng thấy có gì bất thường. Ngày nào cũng chỉ: “Cút rượu bìa đậu. Xong.” Vậy rõ là lão bị oan rồi…

Đoàn điều tra gặp hết sự cố này đến sự cố khác phát sinh nằm ngoài dự kiến phải hội ý khẩn cấp bàn xử lý. Đó là việc phải khẩn cấp điều xe lên phố huyện mua sáu chiếc tiểu sành để đặt hài cốt cho người xấu số. Không thể chôn họ trong mấy cái túi ni lon được. “Kho báu”của ông Hoán chỉ duy nhất tìm được trong ngôi mộ thứ năm, đó là một chiếc răng bọc vàng mà không biết có phải là vàng thật hay không. Điều khiến mọi người không chỉ ngỡ ngàng mà còn vô cùng sửng sốt khi nghe tiếng khóc của ai đó từ đám đông ré lên, kể lể ai oán. Dân làng Vực nhận ra đó là thân nhân của người quá cố có chiếc răng vàng đã sứt một góc. Thì ra ông này người miền ngược bị lũ cuốn trôi cách nay đã bốn năm rồi. Không biết kênh nào đã loan tin mà từ tận đẩu đâu số người quan tâm đã biết và tìm được đến đây chiều nay. Lại một bất ngờ khác khi một người đàn bà tuổi trạc trên dưới bốn mươi người thấp, đậm đột ngột xuất hiện. Bà ta đứng trước dân làng Vực và đoàn điều tra tự thú tội đã vu cáo kẻ lấy trộm vàng của chồng bà là người chết trôi. Chuyện là chồng bà làm giám đốc của một công ty xây dựng ở một tỉnh nọ bị quy dính vào một vụ tham ô lớn nhưng thực tế là không có chuyện đó, bà đã xui chồng trốn đi thật xa để khỏi dính vào vòng lao lý làm mất thanh danh của gia đình, dòng họ. Rồi bà dựng chuyện chồng đã ra cầu tự tử và mang theo mấy lượng vàng nhằm tung hỏa mù che mắt cơ quan pháp luật và dư luận. Cuộc điều tra kết thúc, chồng bà được minh oan. Bà đã gọi chồng từ nơi lẩn trốn trở về và giờ ông đang có mặt ở đây. Bà chỉ tay về phía người đàn ông có dáng người cao dỏng, mặc áo véc tông màu xám đang đứng khoanh tay, cúi mặt trước ban thờ cạnh bờ vực. Bà cầu xin mọi người tha thứ và cho mình được chi trả toàn bộ kinh phí của cuộc điều tra, xem đó như là một sự sám hối.

Thấy công việc cũng đã hòm hòm, một vị cán bộ đại diện cho đoàn điều tra sốc lại quần áo bước ra trước máy phóng thanh nói lời phi lộ. Giọng ông trầm, ấm nhưng buồn buồn. Ông thông báo vắn tắt diễn biến của sự việc và kết quả của cuộc khai quật. Thế là sự thật đã được làm sáng tỏ. Vậy là từ trước đến giờ ông Hoán đã không đẩy một cái xác chết trôi nào ra khỏi địa bàn xã. Ông biết dù có dùng cái sào dài đẩy cái xác ra thật xa chăng nữa thì rồi vòng xoáy của cái vực cũng cứ vòng vo một hồi lại cuộn cái xác vào bờ. Đợi đêm xuống dân làng Vực đã ngủ yên, ông lại lẳng lặng ra bờ vực vớt cái xác lên bãi cát chôn. Rồi theo cách riêng của mình ông cẩn thận đánh dấu từng ngôi mộ một, phòng sau này có người nhà người xấu số đến nhận.

Ông Hoán không những được đại diện chính quyền xã minh oan mà còn được ghi nhận là một công dân sống trong sạch, có nhân, có đức. Tóm lại ông là người tử tế. Nhân diễn đàn này, xã cấm từ nay mọi công dân không được gọi ông Hoán bằng những cái tên xách mé, thiếu tôn trọng.

Chẳng biết ông Hoán có nghe được những lời phát ra từ chiếc loa phóng thanh hay không, chỉ thấy ông ngồi khoanh chân trên cát trước ban thờ, cạnh bờ vực gió lộng, hai mắt vô hồn. Trước mặt ông là cút rượu, bìa đậu. Ông khẽ khàng đặt chiếc chén lên môi, nhấp nhấp. Chừng như ông muốn thời gian ngưng lại để được nhâm nhi chút nắng, chút gió cuối chiều của trời đất ở một làng quê nghèo.

Văn nghệ, số 26/2018
Hà Nội ra mắt Không gian văn hóa Trấn Vũ quán

Hà Nội ra mắt Không gian văn hóa Trấn Vũ quán

Baovannghe.vn - Chiều 15/1, tại Di tích quốc gia đặc biệt đền Quán Thánh, phường Ba Đình (TP Hà Nội) đã ra mắt Không gian văn hóa Trấn Vũ quán. Đây sẽ là tiền đề cho việc tổ chức các hoạt động văn hóa - du lịch, mang đến những trải nghiệm thú vị cho khách tham quan.
"Tử chiến trên không" được chiếu trong Tuần phim kỷ niệm ngày bầu cử Quốc hội Việt Nam đầu tiên và Chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV

"Tử chiến trên không" được chiếu trong Tuần phim kỷ niệm ngày bầu cử Quốc hội Việt Nam đầu tiên và Chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV

Baovannghe.vn - Cục Điện ảnh cho biết, sẽ tổ chức Tuần phim nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946-6/1/2026) và Chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Những Nghị quyết trụ cột để Việt Nam cất cánh

Những Nghị quyết trụ cột để Việt Nam cất cánh

Baovannghe.vn - Trong bối cảnh đất nước chuẩn bị bước vào giai đoạn phát triển mới, những thành quả kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2025 cùng việc triển khai đồng bộ các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị đang tạo nên nền tảng vững chắc để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững và vươn lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
Từ bản lĩnh vượt khó đến khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên mới

Từ bản lĩnh vượt khó đến khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên mới

Baovannghe.vn - Báo Văn nghệ trân trọng giới thiệu đến độc giả bài phỏng vấn của PV Thông tấn xã Việt Nam với đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ về những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ Đại hội XIII và định hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Ý Đảng – Lòng dân trong hành trình chuẩn bị đại hội XIV của Đảng

Ý Đảng – Lòng dân trong hành trình chuẩn bị đại hội XIV của Đảng

Baovannghe.vn - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng không chỉ là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, mà còn là dấu mốc có ý nghĩa chiến lược, mở ra giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam.