Theo Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh, đây là dự án luật mới, được xây dựng nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Kết luận số 18 của Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV cùng các kết luận, chỉ đạo có liên quan của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Việc xây dựng luật cũng xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, nhằm giải phóng sức sáng tạo, khơi thông nguồn lực và tạo bệ phóng đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước.
![]() |
| Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Ảnh CTTQH |
| Dự thảo luật được xây dựng trên ba quan điểm chính: phát triển công nghiệp văn hóa theo chuỗi giá trị, hướng tới trở thành ngành kinh tế chiến lược của quốc gia; tập trung bổ sung quy định đối với những khoảng trống pháp lý, tháo gỡ vướng mắc trong tổ chức thực thi; đồng thời xác lập các cơ chế, chính sách then chốt, hạn chế phát sinh thủ tục hành chính mới, tăng cường phân cấp và hậu kiểm.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa gồm 8 chương, 39 điều, tập trung vào 6 nhóm chính sách trọng tâm, từ phát triển hạ tầng số, nhân lực, không gian sáng tạo đến xây dựng hệ sinh thái, phát triển thị trường và cơ chế tài chính, ưu đãi đầu tư. |
Một trong những nội dung đáng chú ý là quy định về phần mềm phục vụ sáng tạo và nền tảng số hỗ trợ quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa. Các nền tảng này được xác định là hạ tầng hỗ trợ sáng tạo, lưu vết quá trình hình thành sản phẩm, tạo căn cứ phục vụ chứng minh, bảo hộ và khai thác thương mại. Dự thảo cũng hướng tới hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc sử dụng, xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ.
Đây là vấn đề có ý nghĩa thiết thực khi giá trị của sản phẩm văn hóa ngày càng gắn với tài sản trí tuệ. Một tác phẩm âm nhạc, bộ phim, thiết kế hay trò chơi điện tử không chỉ tạo ra giá trị ở lần khai thác đầu tiên mà còn có thể tiếp tục sinh lợi trên nhiều nền tảng, thị trường. Tuy nhiên, để những giá trị đó trở thành tài sản có thể định giá, giao dịch và thu hút đầu tư, cần có cơ chế xác lập quyền rõ ràng, công cụ quản lý phù hợp và môi trường giao dịch minh bạch. Hoàn thiện thể chế về sở hữu trí tuệ vì thế là một điều kiện quan trọng để người sáng tạo được bảo vệ quyền lợi, đồng thời giúp doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào sản phẩm văn hóa.
Về phát triển nhân lực, dự thảo đề xuất khung năng lực theo vị trí việc làm, cơ chế thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia, cùng các chính sách học bổng, miễn học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí, tín dụng và đầu tư cơ sở vật chất phục vụ đào tạo. Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ nằm ở việc phát hiện và bồi dưỡng tài năng nghệ thuật, mà còn cần đội ngũ chuyên nghiệp trong các khâu sản xuất, quản lý, công nghệ, tiếp thị và phân phối. Một sản phẩm giàu tiềm năng sáng tạo chỉ có thể đến với đông đảo công chúng khi được hỗ trợ bởi năng lực tổ chức và phát triển thị trường.
Dự thảo cũng đề xuất hình thành tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các sản phẩm có giá trị gắn với bản sắc Việt Nam. Cùng với đó là việc hình thành sàn giao dịch công nghiệp văn hóa, kết nối chủ thể sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ, sản phẩm, nhà đầu tư và người sử dụng; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã phát triển năng lực, thương hiệu và thị trường.
Những chính sách này hướng tới giải quyết một bài toán quan trọng: làm thế nào để các nguồn lực sáng tạo không dừng lại ở ý tưởng hay những sản phẩm đơn lẻ, mà có thể kết nối thành chuỗi giá trị và tạo ra doanh thu bền vững. Các không gian sáng tạo chỉ phát huy hiệu quả khi thực sự kết nối được người làm nghề với doanh nghiệp, công nghệ và nhà đầu tư; sàn giao dịch chỉ có ý nghĩa khi bảo đảm được tính minh bạch, khả năng định giá và niềm tin của các bên tham gia. Vì vậy, hiệu quả của luật cần được nhìn từ khả năng tạo ra những liên kết thực chất, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm văn hóa Việt Nam.
Về tài chính và đầu tư, dự thảo quy định các cơ chế hỗ trợ, ưu đãi nhằm huy động nguồn lực xã hội, hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh, nguồn lực bảo đảm thi hành luật dự kiến gồm ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật; việc triển khai cơ bản không làm phát sinh bộ máy ở Trung ương và địa phương.
Với cách tiếp cận theo chuỗi giá trị, dự án luật hướng tới tạo lập môi trường để tài năng, tài sản trí tuệ, nguồn vốn và thị trường được kết nối hiệu quả hơn. Điều quan trọng không chỉ là ban hành thêm chính sách, mà là bảo đảm các quy định đi vào thực tiễn, giúp người sáng tạo sống được bằng nghề, doanh nghiệp có động lực đầu tư và sản phẩm văn hóa Việt Nam có cơ hội vươn ra thị trường rộng lớn hơn.
-----------
Chiều cùng ngày, thảo luận tại Tổ 3 về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh cần có chính sách ưu tiên, lựa chọn sản phẩm văn hóa có trọng tâm, trọng điểm, có năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển thành thương hiệu riêng của công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Theo Thủ tướng, dự thảo luật đề xuất nhiều chính sách mới nhằm thúc đẩy hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, hỗ trợ sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, hạ tầng và thị trường. Trong đó, hạ tầng công nghiệp văn hóa không chỉ là công trình, mặt bằng hay cơ sở sản xuất, mà còn là sự liên kết giữa di sản, cộng đồng, không gian sáng tạo, hạ tầng số và các dịch vụ văn hóa. Việc phát triển hạ tầng cần gắn với bảo vệ di sản, cảnh quan, môi trường, bảo đảm sự tham gia và thụ hưởng chính đáng của cộng đồng, nghệ nhân và chủ thể sáng tạo địa phương.
Đánh giá quy định về sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm là chính sách quan trọng của dự thảo luật, Thủ tướng cho rằng đây là bước chuyển trong tư duy phát triển, kết hợp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa với khai thác tiềm năng kinh tế, đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh và động lực tăng trưởng của đất nước. Giá trị sản phẩm văn hóa không chỉ nằm ở sản phẩm ban đầu mà còn ở khả năng phát triển sản phẩm phái sinh, chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ và mở rộng thị trường. Chẳng hạn, điện ảnh, hoạt hình, trò chơi điện tử có thể được khai thác trên nhiều nền tảng, đồng thời thúc đẩy du lịch, thương mại, dịch vụ và công nghệ số.
Thủ tướng cũng đề nghị làm rõ cơ chế vận hành các nền tảng số hỗ trợ sáng tạo, bảo đảm tính khả thi của chính sách; rà soát các quy định về ưu đãi đầu tư, thuế để bảo đảm thống nhất với pháp luật hiện hành. Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo cơ quan soạn thảo tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, hoàn thiện dự thảo luật.