Ông là Thiếu tướng Trần Tử Bình (1907-1967), một trong số những tướng lĩnh đầu tiên1 của QĐNDVN. Xuất thân từ một giáo dân kính Chúa yên nước, Trần Tử Bình đã cống hiến trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhân tháng Linh hồn trước Thiên Chúa giáng sinh 2020, chúng tôi về thăm nhà thờ Tiêu Thượng, nơi ông được làm lễ đặt tên Thánh...
![]() |
| Nhà tưởng niệm Thiếu tướng Trần Tử Bình tại Tiêu Thượng, Bình Lục, Hà Nam |
Từ một giáo dân yêu nước...
Đầu thế kỷ 20, Phêrô Phạm Văn Cống và Maria Nguyễn Thị Quế - giáo dân nghèo từ Xứ Thanh xa xôi giạt ra thôn Đồng Chuối, Tiêu Động Thượng, Bình Lục, Hà Nam. Ở vùng chiêm trũng, quanh năm lầm lũi làm ăn, ông từng quẩy đôi sọt đi khắp nơi, nhặt phân trâu phân bò ngoài đường mang về đổi cho nhà có ruộng lấy miếng ăn. Đến ngày 5/5/1907, ông bà sinh hạ Phạm Văn Phu. Tại nhà thờ nhỏ Tiêu Thượng, cậu Phu được đặt tên Thánh - Phêrô. Được vài tuổi đi chăn trâu thuê, chỉ hóng hớt ngoài lớp học đầu làng mà cậu Phu dần biết con chữ.
Thế chiến thứ nhất (1914-1918) bùng nổ, vì nhà nghèo, ông Cống đăng lính sang Tây. Nhờ làm lính thợ mà ông có chút lương gửi về cho bà, lo cái ăn cái mặc cho lũ con. Cũng nhờ có tiền mà bà Quế xin cho Phu theo hầu các cha, được đi đây đi đó, được học Kinh Thánh... Sau đó Phu được vào học Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên (địa phận Thường Tín, Hà Đông). Chương trình dạy chữ Latin, chữ Nho, chữ Nôm và một số môn khoa học tự nhiên; đến năm 1925 tiếng Pháp được chọn là ngôn ngữ chính.
Vốn thông minh lại hiếu động, sau giờ học Phạm Văn Phu còn ngấm ngầm vận động anh em chủng sinh tập võ và tìm đọc “sách cấm” của các nhà yêu nước. Ngày 24/3/1926, chí sĩ Phan Chu Trinh từ trần. Ủy ban tổ chức tang lễ được thành lập. Học sinh, sinh viên cả nước dấy lên phong trào để tang cụ. Tại Hoàng Nguyên, cậu Phu bí mật vận động chủng sinh hưởng ứng. Việc này đến tai giám thị và cậu phải chịu kỉ luật nặng – đuổi học!
Với giáo dân, con cái trong nhà được đi học trường dòng là đại diễm phúc. Nhưng khi bị đuổi khỏi trường dòng là một nỗi nhục lớn. Chàng trai Phạm Văn Phu phải đi dạy học, dạy Kinh Thánh, kiếm sống quanh vùng. Giữa ngã ba đường, gặp được nhà cách mạng Tống Văn Trân, được khuyên vào Nam kỳ tìm việc rồi có cơ hội thì tìm đường xuất dương cứu nước.
Làm nên Phú Riềng Đỏ 1930
Đầu năm 1927, Phạm Văn Phu kí hợp đồng với Công ty Tuyển phu Phan Tất Tạo vào làm phu ở Đồn điền cao su Phú Riềng. Trên tầu từ Phòng vào Sài Gòn, vì có chút chữ nghĩa mà anh đứng ra bảo vệ quyền lợi cho cánh dân nghèo các tỉnh đồng bằng Bắc bộ vào Nam kiếm sống. Vì chống lại giới chủ, anh bị giam xuống hầm tầu. Khi tầu đến cảng, dân các tỉnh bị tách thành từng toán, đi các đồn điền. Cánh Hà Nam, Ninh Bình về Phú Riềng, bắt đầu cuộc đời “Bán thân đổi mấy đồng xu/ Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”. Ngày ấy rừng rậm kéo dài tới tận biên giới Cao Miên. Ngày ngày phu phen phải vào rừng chặt cây to cao vút, đầy nguy hiểm rồi phát rẫy lấy đất trồng su non. Lao động cật lực 12 tiếng mỗi ngày, từ sáng sớm đến tối mịt mới được về mà chế độ thì hẩm hiu, cơm không đủ ăn, ốm không có thuốc, nhiều phu phen sinh bệnh, nhiều người bị chết...
Cuộc sống mưu sinh cơ hàn lại bị áp bức nên phu phen đã tự phát phản kháng. Tại Phú Riềng đã xảy ra bạo động, điển hình là vụ hơn 100 công nhân nổi dậy, chém chết Chánh giám thị Mông-tây vào tháng 10/1927. Rồi vụ kiện ra tòa Giám thị Va-lăng-tanh đánh chết anh Nguyễn Văn Chánh... Nhưng rồi đều bị đàn áp đẫm máu… Thấy manh động không ổn, anh Phu đã vận động anh em đùm bọc lấy nhau, tự bảo vệ mình rồi lập các hội đồng hương, các nhóm phu phen lương, giáo, các hội tương tế...
Lúc này, Thanh niên cách mạng đồng chí Hội chủ trương cử người tới hầm mỏ, đồn điền, nhà máy thực hiện “vô sản hóa”. Nguyễn Xuân Cừ, dân Bắc Ninh, học sinh Trường Bưởi, có bằng Tú tài, được cử về Phú Riềng. Người đầu tiên bắt mối là Phạm Văn Phu, đang làm y tá ở trạm xá đồn điền, người tích cực trong các cuộc đấu tranh. Tới tháng 4/1928, chi hội Thanh niên Phú Riềng được thành lập, anh Cừ là bí thư. Ngày 28/10/1929, chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Phú Riềng (chi bộ đầu tiên của miền Đông Nam bộ) được thành lập tại cánh rừng sau suối Đá, Làng 3, bí thư là anh Cừ cùng 6 đảng viên, trong đó có Phạm Văn Phu, Hồng, Hòa, Doanh... Từ ngày có Đảng, phong trào công nhân cao su chuyển sang hình thái mới…
Cuối năm 1929, anh Cừ bị lộ, bị trục xuất. Phạm Văn Phu được thay thế. Dịp Tết nguyên đán 1930, chi bộ phát động cuộc đấu tranh đòi quyền lợi cho người lao động. Hội nghị chi bộ mở rộng có nhiều đại diện phu phen ở 5/10 làng. Các yêu sách được đưa ra: cấm đánh đập công nhân, chống cúp phạt lương, miễn sưu thuế, trả lương cho nữ công nhân khi nghỉ sinh con, áp dụng chế độ ngày làm 8 giờ, bồi dưỡng cho công nhân bị tai nạn lao động, cho về quê những người hết hạn công-tra, trả tự do cho những người đang bị giam giữ… Chú trọng vận động đội ngũ công nhân và đồng bào Thượng; biện pháp đấu tranh: bãi công có tự vệ, linh hoạt và tránh manh động.
Mồng Một Tết Canh Ngọ (ngày 30/1/1930), tranh thủ tục lệ “chúc Tết giới chủ”, từ sáng sớm phu đồn điền Phú Riềng “thị uy ra quân”, đưa các yêu sách nhưng không được trả lời. Ngày 3/2, phản ứng trước thái độ im lặng của chủ đồn điền, 5.000 phu cao su đã tiến hành tổng bãi công. Chủ đồn điền lệnh cho cai, lính xuống các làng, bắt phu đi làm. Một cai Tây đánh chết một công nhân và bắt giam một người khác. Phẫn nộ trước hành động tàn bạo này, anh em đánh đuổi bọn cai, đòi kiện lên giới chủ, không khí đấu tranh sục sôi lan rộng khắp 10 làng cao su. Một số cai Tây và lính hoảng sợ bỏ chạy về Sài Gòn, số còn lại co cụm chờ cứu viện. Sáng ngày 4/2, dưới sự lãnh đạo của chi bộ, Công hội đỏ tổ chức cuộc biểu tình lớn với sự tham gia đông đảo của phu phen, được các đội tự vệ hỗ trợ. Đoàn biểu tình kéo đến bao vây trụ sở, đòi gặp chủ đồn điền Su-ma-nhắc, đòi thực hiện các yêu sách, bồi thường cho người bị đánh chết, trả tự do cho những người đang bị giam cầm và trừng trị tên cai Tây đánh chết người... Trước khí thế đấu tranh, Su-ma-nhắc phải tiếp 2 đại biểu của cong nhân rồi chấp nhận ký “cam kết” thực hiện yêu sách. Đây là thắng lợi đầu tiên của phong trào công nhân cao su.
Sau tháng lợi này, trong ban lãnh đạo xuất hiện tư tưởng bạo động, “lập Xô viết”: chuẩn bị lương thực, vũ khí, kéo vào rừng lập chiến khu. Sau khi bàn cãi căng thẳng, chi bộ và Nghiệp đoàn cao su chủ trương tạm giải tán lực lượng, chuyển hướng đấu tranh, tránh tổn thất, giữ vững tinh thần của quần chúng để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh khác.
Ngày 6/2/1930, Thống đốc Nam kỳ, Chánh mật thám Đông Dương, Phó tỉnh trưởng Biên Hòa cùng 300 lính lê dương, 500 lính khố đỏ với xe bọc thép và cả 2 máy bay bà già kéo lên Phú Riềng, chuẩn bị đàn áp với quy mô lớn. Nhưng tại sân Chủ nhất, tất cả súng ống được xếp gọn một chỗ, anh em phu phen ngồi trật tự. Vì thế không có cớ để thực hiện đàn áp; lực lượng và cơ sở ở Phú Riềng ít bị tổn thất, thành quả đấu tranh được bảo vệ. Tuy nhiên mật thám Pháp cũng không khó khăn phát hiện ra đảng viên, cốt cán. Phạm Văn Phu, Nguyễn Mạnh Hồng, Tạ, Doanh… bị bắt, bị đưa về Biên Hòa xét xử rồi bị đưa ra Tòa Đại hình Sài Gòn. Sau đó, Phạm Văn Phu bị đày ra Côn Đảo. Lập tức chính quyền Pháp ở Nam kỳ có giấy xức về Tiêu Thượng. Gia đình bị nhà thờ “rút phép thông công” và 2 ông bà không dám sống ở làng mà phải lặng lẽ bỏ đi tha phương cầu thực.
Trường học lớn Côn Đảo và Tổng khởi nghĩa 19/8/1945
Bị đày ở Côn Đảo hơn 5 năm từ 1931; Phạm Văn Phu kết thân nhiều nhà cách mạng: thủy thủ Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Trần Xuân Độ, Nguyễn Bình, Nguyễn Văn Phát... Họ đùm bọc nhau và tự truyền bá cho nhau kiến thức, lí luận cách mạng, cả tiếng Pháp... chuẩn bị cho ngày trở về đất liền.
Do phong trào Bình Dân ở Pháp thắng thế, ảnh hưởng tới các nước thuộc địa, đến 1936 các tù chính trị được tha bổng. Phạm Văn Phu được trả về đất liền nhưng không còn được ở Nam kỳ, phải về quê nhà chịu quản thúc. Từng học được chút nghề y ở Phú Riềng, anh xin làm thầy ký ở phố huyện. và lần tìm tổ chức. Với túi thuốc đeo vai, anh đi khắp nơi vận động cách mạng. Kinh qua các nhiệm vụ: bí thư chi bộ, bí thư huyện ủy Bình Lục, bí thư Hà Nam, tới năm 1941 được chỉ định làm Xứ ủy viên Bắc kỳ; tham gia xây dựng Liên C (Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình) và Liên D (Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang)… Tới 24/12/1943, anh bị bắt ở Thái Bình, bị tra tấn và giải qua các nhà lao: Nam Định, Phủ Lý, Ninh Bình và cuối cùng là nhà pha Hỏa Lò, Hà Nội. Lợi dụng Nhật hất cẳng Pháp khỏi Đông Dương, đêm 9/3/1945, Phạm Văn Phu cùng tù chính trị Hỏa Lò tổ chức cuộc vượt ngục cho gần 150 tù nhân theo đường vượt tường rào và chui cống ngầm, về với phong trào.
Về với tự do, Phạm Văn Phu chọn cho mình cái tên mới Trần Tử Bình – sống phong trần, sẵn sàng chết vì bình đẳng, bác ái. Về đến cơ quan Xứ ủy Bắc kỳ ở Vạn Phúc, Hà Đông, anh được chỉ định về làm chỉ huy Chiến khu Hòa – Ninh – Thanh. Biết cha Lê Hữu Từ2 (dòng tu khổ hạnh Châu Sơn tại Nho Quan, Ninh Bình) có tinh thần yêu nước và ghét Pháp, anh đã tìm gặp. Sau khi trò chuyện, thấu hiểu người cán bộ cách mạng xuất thân từ Công giáo mà cha Từ đã nhất trí huy động tự vệ đoàn vào cuộc. Sau đó, Trần Tử Bình được Xứ ủy chỉ định vào Thường vụ, bàn giao lại cho Văn Tiến Dũng để về Hà Nội, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa…
Tiêu Thượng - đất phát Thánh, phát Tướng
Hiếm có nơi nào phát cả Thánh lẫn Tướng như Tiêu Thượng. Đất này sinh ra Phêrô Nguyễn Văn Hiếu, bị hành xử năm 1840 khi đi truyền giáo, được Va-ti-căng phong Thánh Tử Đạo ngày 19/6/1988; cũng là nơi sinh ra Phêrô Phạm Văn Phu, được Cụ Hồ phong Tướng năm 1948.
Nhớ ngày hòa bình mới lập lại, thiếu tướng Trần Tử Bình đón cha mẹ từ Ân Thi lên sống trên đường Hoàng Diệu. Chủ nhật nào, 2 cụ cũng lững thững chống gậy dọc phố, lên nhà thờ Cửa Bắc. Biết bổn phận mình đã bị “rút phép thông công”, 2 cụ chỉ dám đứng ngoài, nghe lời cha giảng đạo từ trong vọng ra... Cán bộ bảo vệ quân đội thấy lạ, đã báo cáo thì được Trần Tử Bình giải thích: Các cụ là giáo dân Ca-tô-lic, ở trong họ có những niềm tin bất tận vào đức Chúa; tôi cũng từng là chủng sinh, nếu không có chiến tranh thì cũng sẽ là linh mục, là cha đi giảng đạo...
Tới đầu thế kỉ 21, do nhà thờ không còn đủ chỗ làm lễ cho giáo dân mà năm 2006, bề trên cho phép hạ giải, xây Thánh đường mới. Xây cất trong 6 năm 3 tháng, tới 5/2/2014 mới làm lễ khánh thành. Khi sắp hoàn thành phần thô, tuy gia đình giáo dân Phạm Văn Phu tuy không còn ai đi nhà thờ nhưng vì những việc làm thành tâm với giáo xứ mà được nhà thờ dành cho vinh dự: hiến bộ cửa chính ra vào nhà thờ – nơi con em giáo dân mới sinh ra được bế qua để vào nhà thờ làm lễ đặt tên Thánh và cũng là nơi tiễn một giáo dân đã hoàn thành bổn phận với cuộc đời, về với Chúa. Ngày bàn giao bộ cửa, 27/10/2010, con cháu giáo dân Phạm Văn Phu có mặt ở quê. Đúng dịp này, nhà thờ mời cha Được từ Hà Nội về, chủ trì lễ “trả lại phép thông công” cho Phêrô Phạm Văn Cống, Maria Nguyễn Thị Quế, Phêrô Phạm Văn Phu, Maria Phạm Thị Hiền và gia đình.
*
Tháng 11 hàng năm với giáo dân được coi là Tháng Linh hồn. Họ không quên những ai đã ra đi, mong người thân của mình sẽ được chia sẻ hạnh phúc với Thiên Chúa Tình Yêu. Chúng tôi được gia đình mời về thăm quê dịp này. Sau khi thắp hương ở Nhà tưởng niệm Thiếu tướng Trần Tử Bình xây dựng bằng đóng góp của con cháu, bạn bè và công sức của bà con giáo dân; được khánh thành vào 5/5/2007, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh và 40 năm ngày mất của ông; chúng tôi được cha Hiệp mời sang thăm nhà thờ. Và tại đây, câu chuyện về người Công giáo cộng sản kính Chúa, yêu nước như một thước phim chầm chậm trở về…
__________
1. Đầu năm 1948, Cụ Hồ kí sắc lệnh tấn phong Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Nguyễn Bình và 9 thiếu tướng đầu tiên của QĐNDVN.
2. Ngày 25/1/1946, Cụ Hồ đến thăm Phát Diệm và mời giám mục Lê Hữu Từ đảm nhận chức Cố vấn tối cao cho chính phủ.. Ông thường thư từ với Hồ Chủ tịch.
Nguồn Văn nghệ số 52/2020