Vừa qua, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết của Quốc hội về Phát triển văn hóa Việt Nam với 477/489 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 95,4% tổng số đại biểu Quốc hội). Bà đánh giá như thế nào về vấn đề này?
![]() |
| Thượng tá, nhà văn Phạm Vân Anh. |
Tôi cho rằng đây là một tin vui và cũng là một nguồn động lực mới dành cho những người làm công tác văn hóa nói chung và các văn nghệ sĩ nói riêng. Qua nghiên cứu nghị quyết, tôi nhận thấy nghị quyết đã thể chế hóa cơ bản đầy đủ, kịp thời những chủ trương lớn và đồng thời góp phần thể chế hóa ba vấn đề đột phá tại Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị. Điểm chung là Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị hay Nghị quyết của Quốc hội về Phát triển văn hóa Việt Nam đã được xây dựng qua một quá trình tổng kết thực tiễn kĩ lưỡng và kế thừa, phát triển cả về lí luận lẫn thực tiễn của những nghị quyết trước đó. Nó có một bước phát triển cao hơn, đó là xác định yêu cầu phát triển đất nước trong kỉ nguyên mới, đòi hỏi phải có những chủ trương, quyết sách mang tính đột phá, chiến lược, đồng bộ nhằm khắc phục những hạn chế bất cập, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt lên thách thức, thúc đẩy phát triển văn hóa. Để chúng ta có thể vững tin khẳng định vị thế, tầm vóc của nền văn hóa Việt Nam xứng tầm là một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hóa, có văn hiến lâu đời và đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại.
Vậy theo bà, đâu là điểm mới của nghị quyết?
Nghị quyết không dừng lại ở khuyến nghị hay kêu gọi, mà đã cụ thể hóa bằng 10 nhóm chính sách có tính khả thi cao, đáp ứng những yêu cầu bức thiết, khách quan của lịch sử đối với văn hóa trong kỉ nguyên mới. Đồng thời, nghị quyết khẳng định rõ tầm vóc vĩ mô của văn hóa, đặt văn hóa ở vị trí bao trùm, thấm sâu vào các lĩnh vực như kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và khoa học - công nghệ.
Theo đó, văn hóa không còn được nhìn như một phạm trù riêng lẻ, mà trở thành yếu tố “vô sở bất tại” hiện diện trong mọi mặt đời sống, hữu hiệu trong dẫn dắt và điều chỉnh. Khi được thẩm thấu đồng bộ, văn hóa sẽ nâng cao tính chuẩn mực của xã hội, đồng thời đóng vai trò như một “hàng không mẫu hạm” - nền tảng có sức chuyên chở và kết nối, đưa toàn bộ các lĩnh vực phát triển cùng vươn xa.
Chủ trương “linh hoạt” dành 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho phát triển văn hóa mang lại cơ hội cụ thể gì cho văn học thưa bà?
Những ngày qua, giới văn nghệ sĩ cả nước đón nhận các chủ trương mới với sự hân hoan rõ rệt. Tuy nhiên, câu chuyện phân bổ nguồn lực cho phát triển văn hóa vẫn cần được nhìn nhận thấu đáo. Thực tế cho thấy, trong nhiều đề án, dự án đặt hàng sáng tác, văn học dường như vẫn “lép vế” so với các loại hình khác.
Năm 2025 và nửa đầu 2026 chứng kiến nhiều sự kiện, concert quy mô lớn với mức đầu tư hàng chục, hàng trăm tỉ đồng, tạo hiệu ứng xã hội mạnh mẽ, khơi dậy niềm tự hào và gắn kết cộng đồng - đó là điều rất đáng ghi nhận. Nhưng sau những cao trào cảm xúc ấy, khi đời sống trở lại nhịp thường nhật, chính văn học mới là lực tác động bền bỉ: âm thầm định hình nhân sinh quan, bồi đắp thẩm mĩ và dẫn dắt suy nghĩ về con người, xã hội, trách nhiệm cá nhân. Đọc sách là hành trình đối thoại nội tâm, nơi độc giả tự chiêm nghiệm và hình thành tư tưởng.
Vì vậy, khi ngân sách cho văn hóa được tăng cường, cần dành sự quan tâm tương xứng cho văn học - một loại hình đặc biệt góp phần kiến tạo hệ giá trị, nuôi dưỡng tư duy và diễn ngôn xã hội, tác động trực tiếp đến nhận thức và lương tri con người. Trong bối cảnh hướng tới xây dựng thế hệ người Việt Nam mới, việc đưa thanh thiếu niên tiếp cận sâu hơn với những tác phẩm giàu tinh thần dân tộc và khát vọng phát triển là yêu cầu cấp thiết ngay từ hôm nay.
Rõ ràng văn hóa nói chung, văn học nói riêng đã có thêm nguồn lực, tuy nhiên nếu đầu tư lớn mà vẫn không có tác phẩm lớn, trách nhiệm thuộc về chính sách hay người cầm bút, thưa bà?
Nếu quy hết trách nhiệm cho người cầm bút thì có lẽ là hơi thiên kiến nhưng cũng không thể đổ cho chính sách. Chúng ta thấy rằng với các loại hình khác, sáng tác là hoạt động mang tính tập thể, có sự “liên tài” giữa rất nhiều yếu tố khác nhau: từ biên kịch, đạo diễn, nhạc sĩ… đến người ca sĩ, nhạc công, diễn viên, quay phim cùng các yếu tố phụ đạo khác như sân khấu, ánh sáng, bối cảnh… để tạo nên một tác phẩm chung. Khi có một ê-kíp hùng hậu như vậy, thì việc tập trung trí tuệ, tập trung sức sáng tạo một tập thể sẽ có tác động bổ trợ cho nhau. Còn đối với văn học thì đó là một hành trình thầm lặng của người viết và thậm chí rất cô đơn bên trang giấy. Và khi tác phẩm ra đời thì sự hỗ trợ để đưa các tác phẩm văn học đến với công chúng chưa được đầu tư xác đáng.
Chúng ta đòi hỏi những tác phẩm văn học đỉnh cao, nhưng thế nào mới được coi là “đỉnh cao” thì “trăm người, nghìn ý”. Chúng ta cần nhìn nhận rằng: Văn học là loại hình thường được thẩm thấu và định ước giá trị chậm hơn, sâu hơn, thậm chí cần một độ lùi thời gian để chiêm nghiệm về tư duy, vốn sống, cảm xúc… của tác giả hoặc nhận ra tính dự báo thời cuộc mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm. Do đó, ảnh hưởng của văn học không thể tạo nên hiệu ứng tức thời hay trở thành hiện tượng ngay khi ra mắt mà sẽ là một dạng ảnh hưởng bền bỉ, thầm lặng qua quá trình người đọc tiếp cận với cấu trúc ngôn ngữ và sức lan tỏa, tầm ảnh hưởng mà tác phẩm đó mang lại. Giá trị của tác phẩm có lớn hay không, tầm tư tưởng cao và xa đến đâu… nằm ở chính khả năng tưởng tượng, sức sáng tạo, năng lực tổ chức ngôn ngữ, tính chuyên biệt trong thủ pháp xây dựng tác phẩm của nhà văn. Vì thế, trước khi đặt ra tham vọng có được những tác phẩm lớn, nhà văn cần thực hiện tốt những nét đặc thù của nghề viết và chính sách cũng nên nhìn nhận nhà văn là một chủ thể sáng tạo đặc biệt để có sự quan tâm, động viên sát thực hơn. Có được sự nỗ lực của cả hai phía, thì sẽ tạo được động lực sáng tạo, tranh thủ được tầm ảnh hưởng bền bỉ, thúc đẩy chuyển hóa nội sinh của văn chương đối với tư tưởng xã hội. Và chỉ khi đó, mới thực sự có được tác phẩm lớn như kì vọng.
Như vậy có thể thấy, ở góc độ hẹp hơn, Nghị quyết của Quốc hội về Phát triển văn hóa Việt Nam đã và đang đặt ra một tâm thế mới cho nhà văn, sống và viết có trách nhiệm, góp phần định hướng tư duy, bồi đắp nền tảng tinh thần của xã hội. Trân trọng cảm ơn bà đã trả lời phỏng vấn.
NGỌC SƠN thực hiện