![]() |
| Hai hồ sơ di sản tư liệu của Việt Nam được thông qua tại Kỳ họp lần thứ 11 MOWCAP ngày 5/11/2026. Ảnh CTTĐT |
Với kết quả này, tổng số di sản tư liệu của Việt Nam được UNESCO ghi danh nâng lên 13, gồm 4 di sản thuộc Danh mục thế giới và 9 di sản thuộc Danh mục khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
![]() |
| “Văn bia Phố Hiến” gồm 41 tấm bia bằng chữ Hán và chữ Nôm, có niên đại từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX, hiện được lưu giữ tại các di tích thuộc Di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên. |
“Văn bia Phố Hiến” và “Ma nhai trên núi Non Nước” được UNESCO ghi danh không chỉ bổ sung những dấu mốc mới trong hành trình bảo tồn di sản tư liệu của Việt Nam, mà còn đưa những lát cắt lịch sử, văn hóa và giao lưu khu vực được lưu giữ qua nhiều thế kỷ đến gần hơn với công chúng quốc tế.
Trong số 24 hồ sơ được đưa ra xem xét tại kỳ họp, có 21 hồ sơ được thông qua sau ba ngày làm việc. Hai hồ sơ của Việt Nam đáp ứng các tiêu chí về tính xác thực, toàn vẹn, tính độc bản, tầm quan trọng và ý nghĩa khu vực. Đây là sự ghi nhận đối với giá trị của những tư liệu lịch sử được lưu giữ tại các địa phương, đồng thời khẳng định vị trí của di sản tư liệu Việt Nam trong dòng chảy ký ức chung của khu vực.
“Văn bia Phố Hiến” gồm 41 tấm bia bằng chữ Hán và chữ Nôm, có niên đại từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX, hiện được lưu giữ tại các di tích thuộc Di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên. Giá trị của hệ thống văn bia không chỉ nằm ở những thông tin lịch sử được khắc ghi, mà còn ở khả năng tái hiện diện mạo một thương cảng từng giữ vai trò quan trọng trong mạng lưới giao thương quốc tế của Việt Nam.
Từ thế kỷ XVI, đặc biệt trong giai đoạn phát triển cực thịnh ở thế kỷ XVII, Phố Hiến là điểm gặp gỡ của nhiều cộng đồng thương nhân trong khu vực và quốc tế. Sự hiện diện của người Hoa, người Nhật, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Anh đã góp phần tạo nên một không gian giao lưu kinh tế, văn hóa đa dạng. Những dấu tích ấy không chỉ được nhận diện qua kiến trúc hay hiện vật, mà còn hiện diện trong hệ thống văn bia với những ghi chép về hoạt động thương mại, đời sống tín ngưỡng và tổ chức cộng đồng.
Đáng chú ý, chín tấm bia tại Văn Miếu Xích Đằng phản ánh truyền thống hiếu học, trọng dụng nhân tài của người dân Hưng Yên. Một số văn bia còn ghi nhận đóng góp của nữ giới trong đời sống tinh thần và tín ngưỡng. Những chi tiết tưởng như nhỏ bé ấy lại mở ra những góc nhìn rộng hơn về đời sống xã hội, vai trò của các cộng đồng cư dân và sự giao thoa văn hóa tại một thương cảng sầm uất trong lịch sử.
Nếu văn bia Phố Hiến giúp nhận diện một trung tâm giao thương quốc tế qua nhiều thế kỷ thì “Ma nhai trên núi Non Nước” lại mở ra những lớp trầm tích lịch sử, văn học và tư tưởng được lưu giữ trực tiếp trên vách đá. Tại Di tích quốc gia đặc biệt núi Non Nước, tỉnh Ninh Bình, hiện còn 43 bản văn khắc bằng chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, có niên đại từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XX.
Được thể hiện qua nhiều thể loại như ngự bút, bia ký, thơ văn, đề từ, các bản khắc gắn với dấu ấn của nhiều vị vua, quan lại, danh nhân và văn nhân trong lịch sử. Không đơn thuần là những tác phẩm điêu khắc đá, hệ thống Ma nhai còn là một dạng tư liệu đặc biệt, trong đó chữ viết, cảnh quan tự nhiên và dấu ấn lịch sử cùng tồn tại trong một không gian di sản.
Qua những văn khắc, người nghiên cứu có thể tìm hiểu thêm về lịch sử dựng nước, giữ nước, đời sống văn hóa và tư tưởng của người Việt qua các thời kỳ. Sự hiện diện đan xen của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và tín ngưỡng bản địa cho thấy quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa trong khu vực Đông Á. Một số văn bản còn góp phần làm sáng tỏ diện mạo văn học Việt Nam thời trung đại, cũng như ghi nhận vai trò của phụ nữ trong đời sống xã hội và tôn giáo.
![]() |
| Bia “Ma nhai trên núi Non Nước” tại Di tích quốc gia đặc biệt núi Non Nước, tỉnh Ninh Bình |
Điểm gặp gỡ giữa hai di sản là khả năng lưu giữ những câu chuyện lịch sử vượt ra ngoài phạm vi một địa phương. Một bên phản ánh sự vận động của thương mại và giao lưu quốc tế tại Phố Hiến; bên kia lưu giữ dấu ấn của các thế hệ qua những văn bản khắc trên núi đá Non Nước. Cả hai cùng cho thấy di sản tư liệu không chỉ là những văn bản cổ cần được bảo quản, mà còn là nguồn tri thức giúp các thế hệ hôm nay hiểu sâu hơn về lịch sử, bản sắc và sự kết nối văn hóa của dân tộc với khu vực.
Việc được UNESCO ghi danh vì thế không nên chỉ được nhìn nhận như một thành tích trong hoạt động đối ngoại văn hóa. Giá trị quan trọng hơn nằm ở cơ hội để các di sản được quan tâm đúng mức, có thêm điều kiện nghiên cứu, bảo quản và phát huy. Bởi một tấm bia hay một bản khắc chỉ thực sự tiếp tục sống trong đời sống đương đại khi những thông tin, câu chuyện và giá trị bên trong nó được giải mã, giới thiệu và chuyển tải đến công chúng.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với các địa phương sở hữu di sản. Bên cạnh việc bảo vệ nguyên trạng tư liệu trước tác động của thời gian và môi trường, cần chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa nội dung, hoàn thiện hồ sơ khoa học và mở rộng khả năng tiếp cận cho các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên cũng như du khách. Công nghệ có thể giúp những văn bản cổ vượt qua giới hạn không gian lưu trữ, nhưng việc diễn giải chính xác, có chiều sâu các giá trị lịch sử và văn hóa vẫn đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc về chuyên môn.
Với 13 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh, Việt Nam đang từng bước khẳng định sự phong phú của kho tàng tư liệu lịch sử, văn hóa dân tộc. Kết quả này cũng góp phần hiện thực hóa mục tiêu tại Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, phấn đấu có thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh vào năm 2030 và 10 di sản vào năm 2045.
Hai di sản mới được ghi danh là sự tiếp nối hành trình đưa những giá trị được lưu giữ qua nhiều thế kỷ đến với thế giới. Nhưng quan trọng hơn, đó cũng là lời nhắc về trách nhiệm bảo tồn và phát huy di sản ngay tại nơi chúng đang hiện diện, để ký ức của quá khứ không chỉ được lưu giữ trong đá, trên bia, mà tiếp tục trở thành nguồn tri thức và giá trị trong đời sống hôm nay.