Diễn đàn lý luận

Hình ảnh người mẹ trong thơ đương đại

Nguyễn Thị Thiện
Lý luận phê bình 14:38 | 11/02/2026
Baovannghe.vn - Mẹ là nguồn cảm hứng bất tận của nghệ thuật, nhất là thi ca. Thơ đương đại Việt Nam viết về mẹ phong phú, đa dạng về hình thức thể loại, nhịp điệu, hình ảnh, thi tứ, ngôn ngữ...
aa

Trong quá trình tìm hiểu đề tài này, người viết đã gặp hơn chục bài thơ có cùng chung một nhan đề duy nhất Mẹ của các tác giả: Chế Lan Viên, Viễn Phương, Nguyễn Ngọc Oánh, Bằng Việt, Phan Thị Thanh Nhàn, Trần Quốc Minh, Lê Thị Mây, Đỗ Trung Lai, Hoàng Đăng Khoa, Đoàn Thị Ngọc Thu và Hạnh Ngọc. Bên cạnh sự tương đồng về cảm xúc (đều nói lên tình yêu thương tha thiết và niềm biết ơn sâu sắc với mẹ) mỗi bài thơ còn có những điểm đặc sắc riêng, qua đó tạo nên một bức chân dung đa diện, đa màu, đa thanh về một trong những hình tượng vĩ đại nhất của thơ ca Việt đương đại.

Nhà thơ Chế Lan Viên sáng tác không ít thi phẩm viết về người mẹ, bên cạnh tuyệt phẩm Con cò, bài thơ Mẹ của ông rất cô đọng và xúc động. Do điều kiện, hoàn cảnh phải sống ở nhiều nơi trên đất nước, xa quê nhưng lòng thi nhân luôn hướng về quê nhà, nơi có mẹ: Xa mẹ mười năm đi khắp nước/ Trăm quê chưa dễ thực quê nhà/ Sáng nay mới thực về quê nhỉ/ Bóng mẹ già ai giống mẹ ta? Với bốn câu thơ bảy chữ hiện đại, người đọc hiểu rõ trong ký ức và thẳm sâu trái tim nhà thơ, người mang nặng đẻ đau, lam lũ, khó nhọc để nuôi con nên người luôn thường trực trong tim. Trở về quê, hít thở bầu sinh quyển nơi có mẹ, tâm hồn nhà thơ được an yên, thư thái lạ thường. Gặp bóng hình mẹ già ai đó, thi nhân lại liên tưởng nhớ tới mẫu thân. Mẹ trong ký ức nhà thơ quả là nguồn gió mát lành đưa hương kỷ niệm.

Hình ảnh người mẹ trong thơ đương đại
Tranh của Nguyễn Như Đức

Bài thơ Mẹ của nhà thơ Viễn Phương được sáng tác theo thể thơ lục ngôn, mang đến cho người đọc những rung động sâu sắc về người đã sinh dưỡng, che chở con suốt hành trình cuộc đời. Thương nhớ mẹ, nhà thơ nhớ về lời ru ngọt ngào chan chứa ân tình mẹ hát thuở nào. Trong lời ru ấy có “hoa sen lặng lẽ dưới đầm”, gợi cảm giác thanh tịnh, êm đềm, hàm chứa những bài học quý giá mẹ dành cho con và gia đình. Hay nhất trong bài là những câu kết giàu sức khái quát về nhân sinh: Sen đã tàn sau mùa hạ/ Mẹ cũng lìa xa cõi đời/ Sen tàn rồi sen lại nở/ Mẹ thành ngôi sao trên trời. Nhà thơ sử dụng đắc địa những từ láy “lặng lẽ”, “bát ngát” trước đó nói về sự hy sinh thầm lặng và ý nghĩa của tình mẹ. Tuy không gần con nhưng mẹ luôn dõi theo từng bước đường con đi trên hành trình cuộc đời. Giờ đây mẹ đã về miền mây trắng nhưng những hình ảnh và kỷ niệm đẹp khi còn được bên mẹ luôn bất tử trong con. Mẹ như ngôi sao trên trời cao sáng mãi. Với những giá trị phong phú, bài thơ được tuyển chọn vào sách giáo khoa lớp 7 bộ sách Cánh diềuChân trời sáng tạo.

Chân dung “Mẹ” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Oánh hiện lên trong thi phẩm thật sắc nét mà gần gũi: Cánh bàng thà lái heo may/ Mẹ gầy cái dáng khô gầy cành tre/ Gót chai nứt nẻ đông hè/ Ruộng sâu bấm mãi đã tòe ngón chân. Mấy câu thơ đã làm hiện lên rõ cuộc đời cơ cực của mẹ. Thơ quả như đã chạm khắc sống động hình ảnh người mẹ nghèo. Cách diễn đạt “tòe ngón chân” rất gợi cảm, chứng tỏ thi nhân am hiểu sâu sắc lời ăn tiếng nói của người nông dân. Mẹ không những chăm chỉ việc đồng áng, lo cái ăn; mẹ còn cần cù may vá, lo cái mặc cho cả nhà: Mẹ ngồi vá áo trước sân/ Vá bao mong ước tay sần mũi kim. Ngôn ngữ thơ tinh tế, gợi cảm chứng tỏ người con đã thấu hiểu nỗi đau thể chất và cả đời sống tinh thần với những khát khao của lòng mẹ. Mỗi bữa ăn giấc ngủ, mẹ luôn chăm lo, nhịn nhường cho con: Bát canh đắng lá chân chim/ Lẫn vài con tép mẹ tìm dành con. Để các con được ấm áo no cơm, mẹ chẳng quản ngại gì vất vả, gian nan.

Trong bài thơ Mẹ của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn - gương mặt thơ nữ tiêu biểu của nền thi ca đương đại, được tặng Giải thưởng Nhà nước về thành tựu thơ - ta gặp người mẹ trong một gia cảnh khác. Nhân vật trữ tình đã tâm sự với bạn đọc về hoàn cảnh: Lớn lên cha đã không còn/ Chỉ riêng mình mẹ sớm hôm tảo tần. Tuy thiếu đi bờ vai trụ cột, cha của nhà thơ không may về cõi vĩnh hằng, nhưng một mình mẹ vẫn làm đủ mọi việc để chăm lo cho gia đình đông đúc. Chẳng lo nghĩ hạnh phúc cho riêng mình, mẹ dành cả cuộc đời còn lại “nghiêng hết về các con”. Vừa làm mẹ lại làm cha, bao nhiêu khó nhọc chồng chất nhưng mẹ không chút phàn nàn. Mẹ làm lụng đến chai sạn tay chân “bàn tay mẹ đủ nếp nhăn” chỉ để chăm lo cho các con đủ ăn, đủ mặc, những mong các con mẹ từng ngày “dần dần lớn khôn”. Giờ đây các con đã “đôi lứa vuông tròn” còn riêng mẹ “bao nhiêu năm mẹ héo hon một mình”. Hình hài mẹ tàn tạ vì sương gió cuộc đời nhưng lòng mẹ rạng ngời hạnh phúc. Nhà thơ đã rất sáng tạo khi dùng hình ảnh so sánh đắt giá: Mẹ như mặt đất sâu xa/ Lặng im nuôi dưỡng lúa hoa ngàn đời. Mặt đất rộng lớn, với chỉ một màu nâu giản dị như sắc áo quen thuộc của các bà mẹ thường mặc đã tận dâng tận hiến cho người và muôn vật tất thảy. Nhờ đất mẹ nuôi dưỡng mà các con nên người có ích.

Đến với bài Mẹ của Trần Quốc Minh, người đọc cảm nhận được không gian yên tĩnh, nóng bức của buổi trưa hè. Nhờ lời ru của mẹ cùng với “kẽo cà tiếng võng” đưa êm và bàn tay mẹ không ngừng quạt mà bé có giấc ngủ say nồng. Ấn tượng nhất trong thi phẩm là những câu tuyệt hay: Lời ru có gió mùa thu/ Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về/ Những ngôi sao thức ngoài kia/ Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con/ Đêm nay con ngủ giấc tròn/ Mẹ là ngọn gió của con suốt đời. Bài thơ tái hiện không gian trưa hè, vạn vật chìm trong yên tĩnh, duy chỉ có lời ru của mẹ vẫn thức, bàn tay của mẹ vẫn quạt. Mẹ không chỉ quan tâm, chăm sóc con thơ về thể chất mà còn chăm lo nuôi dưỡng tâm hồn con trẻ bằng lời ru suối nguồn của tình yêu thương “sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn” (Nguyễn Duy). Cho dù đi hết cuộc đời, mỗi người chúng ta cũng không đi trọn, không thấu hiểu hết những triết lý nhân sinh ngàn đời được kết tinh trong lời ru của mẹ. Những kỷ niệm đẹp về mẹ và tình thương mẹ dành cho các con như một miền ký ức lung linh càng làm ngời sáng vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

Khác với nhiều nhà thơ thường viết về đấng sinh thành ra mình, bài Mẹ của nhà thơ Bằng Việt lại khắc họa người mẹ vùng hậu cứ giàu lòng yêu nước, yêu thương chiến sĩ như con đẻ. Tác giả hóa thân vào người lính chiến đấu bị thương nơi mặt trận, được mẹ đưa về “ân cần, lặng lẽ” chăm sóc. Dẫu cho cuộc sống của mẹ không ít khó khăn vì chồng của mẹ “mất lâu rồi”, mẹ có ba người con đều đã lên đường nhập ngũ và hiện tại đang “chiến đấu nơi xa”, nhưng mẹ vẫn dồn công dồn sức, dồn tình cảm chăm sóc người thương binh. Cảm động biết bao khi người lính trong cơn mê sảng: Con nói mớ những núi rừng xa lạ/ Tỉnh ra rồi, có mẹ hóa thành quê. Câu thơ có sức khái quát rất lớn bởi mẹ đâu chỉ là một cá nhân nữa, tấm lòng mẹ chính là tình cảm của bao bà mẹ Việt Nam khác, là hiện thân của quê hương yêu dấu. Mẹ thương lo cho chiến sĩ khi bị thương yếu mệt, mẹ vui mừng rạng rỡ thấy anh dần khỏe và “hể hả ngắm con hồng sắc mặt”. Mẹ muốn có con ở bên cho ấm cửa vui nhà nhưng vì nước còn giặc phải đánh đuổi chúng đi nên khi biết người lính muốn trở về đơn vị: Mẹ cười xòa nước mắt ứa hàng mi/ Đi đánh Mỹ khi nào tau có giữ. Mẹ đã vui lòng tiễn người con chiến sĩ trở lại mặt trận tiếp tục chiến đấu. Chúng ta thật sự biết ơn tấm lòng yêu thương, sự hy sinh và dâng hiến của mẹ vì các con bộ đội, vì đất nước nói chung.

Trở lại với bài thơ Mẹ của Nguyễn Ngọc Oánh, cho dù gia cảnh mẹ nghèo túng, ăn mặc chưa đủ no ấm, rất cần người lao động xốc vác nhưng chưa bao giờ mẹ thiếu đức hy sinh. Khi đất nước cần đến “Tất cả cho tiền tuyến tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, mẹ sẵn lòng tiễn đưa đứa con trai yêu quý của mình lên đường đánh giặc cứu nước. Để con mình yên tâm lúc đi xa, mẹ cố nén nỗi đau xa cách: Tiễn con ra chốn chiến trường/ Gạt thầm nước mắt mong đường con khô/ Hai tay hết sẻ lại cho/ Còn phần mẹ một thân cò qua sông. Chúng ta không chỉ thương yêu mà còn vô cùng kính phục những người mẹ vị tha, dâng hiến những đứa con ruột thịt - tài sản vô giá của mình - cho Tổ quốc. Tấm lòng hy sinh lặng thầm của những người mẹ cao cả biết bao.

Đỗ Trung Lai sáng tác bài thơ Mẹ theo thể đồng dao - mỗi câu bốn chữ - dễ nhớ, dễ thuộc với phong cách riêng giàu sức gợi. Cảm xúc thơ có sự đan cài giữa quá khứ và hiện tại. Thi tứ hấp dẫn người đọc bởi sự tương phản hình ảnh: Cau ngày càng cao/ Mẹ ngày một thấp/ Cau gần với giời/ Mẹ thì gần đất. Lời thơ dung dị thể hiện trong thế đối ngẫu giữa người và cây cau - mẹ và con gợi nhiều liên tưởng chạm tới trái tim người đọc. Ngoại hình người mẹ xuân sắc thuở nào đã không còn, giờ chỉ là khô gầy, lưng còng, tóc bạc khiến con trào lên nỗi xót thương. Nhớ thói quen mẹ ăn trầu, người con lặng lẽ quan sát: xưa cau mẹ bổ tư ăn vừa miếng: Giờ cau bổ tám/ Mẹ còn ngại to. Nhà thơ đã phát hiện ra sự tương đồng giữa miếng cau khô và hình hài mẹ, lòng bật lên câu hỏi Sao mẹ ta già/ Không một lời đáp/ Mây bay về xa. Bài thơ đúng là khúc ca về tình mẫu tử và hàm chứa tình ý sâu xa, minh triết, gợi cho người đọc những suy tư sâu lắng về sự mong manh, hữu hạn của kiếp người trước quy luật khắc nghiệt của tạo hóa. Với những ý nghĩa, giá trị sâu sắc, thi phẩm được tuyển chọn trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7 (tập 1, bộ Cánh diều và tập 2 bộ Chân trời sáng tạo).

Đến với áng thơ Mẹ của nhà thơ Lê Thị Mây - nhà thơ nữ từng vinh dự được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2017 - ta hiểu sâu sắc thêm về người mẹ vùng biển. Ngay mở đầu bài thơ theo thể lục bát này, tác giả đã có sự sáng tạo khi vận dụng thi liệu tục ngữ, ca dao dân gian Mẹ già như chuối ba hương/ Thơm xôi nếp mật thơm đường mía lau để nói mẹ lúc này đã già yếu như chuối chín, mong manh nhưng quý giá. Chỉ một từ “thơm” thay cho từ “như” trong ca dao đã nâng tầm ý nghĩa biểu đạt của ngôn ngữ thơ lên rất nhiều. Nhà thơ nhớ công việc thường nhật mẹ mưu sinh từ biển: Mẹ nuôi con lớn với cây buồm làng Cấm chèo mơ ngọn gió khơi/ Thương bàn tay mẹ chưa ngơi nhọc nhằn. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, hàm súc tỏ rõ tình cảm yêu quý và tri ân sâu sắc của người con: Mẹ già ơi mái tóc tiên/ Mẹ là vầng sáng dịu hiền trên cao. Tình thương và đức hy sinh cao cả của mẹ đã tiếp thêm sức mạnh cho con trong suốt hành trình cuộc sống để người con sống thiện lương, có ích với cuộc đời.

Bài Mẹ của nhà thơ - nhà phê bình Hoàng Đăng Khoa gồm 20 câu thơ tự do - thể hiện tình cảm tha thiết yêu thương và biết ơn mẹ rất chân thành. Người con tâm tình với mẹ nhưng lại như độc thoại với mình: Trải chơ vơ xứ lạ quê người/ Con mới thấm thía hơi ấm gia đình bình dị/ Trải thật giả sâu nông tình thiên hạ/ Con mới cảm thấu lòng mẹ mênh mông… Tác giả rất sáng tạo khi dùng các tính từ kết hợp với thành ngữ “xứ lạ quê người”, nói lên sự chiêm nghiệm qua bao tháng năm mới thấy giá trị của tình cảm gia đình bình dị mà thiêng liêng và tình mẹ là không biên giới. Những hình ảnh gợi cảm về mẹ được dùng thật sáng tạo: Như con tằm rút ruột nhả tơ/ Như cánh phượng cháy nồng nàn trong nắng/ Như ngọn nến tan chảy tràn đêm trắng. Ba hình ảnh so sánh kết hợp phép điệp cú pháp nhấn mạnh lòng biết ơn trước những hy sinh thầm lặng của mẹ: Quên phía mình, đau đáu phía đời con. Trải qua bao nhiêu cay đắng và nỗi buồn lữ thứ, người con mới ngộ ra được sự bất biến, trường tồn của tình mẫu tử.

Khác với các tác giả trên, bài thơ Mẹ của Đoàn Thị Ngọc Thu lại viết theo thể thơ tự do, rất hợp với sự đa dạng, phóng khoáng của cảm xúc. Đoạn mở đầu như một thước phim sống động kể hoàn cảnh của mẹ giống như hàng vạn phụ nữ Việt Nam khác: Cả cuộc đời cha đi bộ đội/ Quà về cho mẹ là mái tóc pha sương/ Và trên ngực là những vết thương/ Cứ trở gió lại đau nhức nhối/ Chiếc ba lô gió sương đã gội/ Gia tài cha tặng mẹ... chỉ thế thôi. Cha của chủ thể trữ tình ra trận chiến đấu, mẹ ở lại gánh vác hết thảy: chăm lo nuôi dạy các con và gánh vác đủ mọi công việc của gia đình, xã hội và hậu phương kháng chiến. Giặc tan rồi, người cha trở lại quê nhà, “quà về cho mẹ” là mái tóc đã bạc vì gian lao, cả những vết thương trên mình “nhức nhối” cùng chiếc ba lô “gió sương đã gội” bạc màu, sờn rách. Song với mẹ và người thân, sự trở về của cha đúng là món quà vô giá nhất. Hưởng niềm vui hội ngộ, mẹ chỉ “lặng lẽ”, “mắt rạng ngời” hạnh phúc nhưng xót đau không nhỏ vì tuổi xuân của mẹ đã vuột qua: Hai mươi năm ngày cưới/ Đến hôm nay đời chồng vợ bắt đầu. Đọc đoạn thơ, ai cũng rưng rưng xúc động vì thương xót và cảm phục mẹ cùng những lứa đôi khác Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau (Nguyễn Mỹ). Thương và phục mẹ hơn nữa bởi Hai mươi năm lấy nhau/ Mẹ đẻ con và nuôi con một mình. “Hai mươi năm” là hơn bảy ngàn ngày, “một mình” mẹ vật lộn mưu sinh, vượt cạn sinh nở, “một mình” mẹ nuôi con lớn khôn. Để làm nên điều ấy là cả “núi của non công”, biết bao mồ hôi và nước mắt đã đổ... Nhờ những người như mẹ, Tổ quốc mới có được lớp lớp đứa con lớn ra đi cứu nước tiếp bước ông cha.

“Mẹ” trong bài thơ của Hạnh Ngọc lại khiến bạn đọc ấn tượng bởi những hình ảnh ẩn dụ và so sánh gần gũi: Gió sương ngang bạc màu tóc mẹ/ Tháng năm dài trăng khuyết lưng cong. Giống như bao người, mẹ từng có một thời thanh xuân đẹp đẽ nhưng thực hiện thiên chức cao cả, mẹ chẳng quản mang nặng đẻ đau, cho con được đến với thế giới này, dưỡng dục con trưởng thành. Con càng lớn lên và thành đạt bao nhiêu, hình hài mẹ dần tàn tạ, lưng còng xuống và mái tóc bạc theo năm tháng bấy nhiêu. Niềm biết ơn công lao vô giá ấy được thể hiện: Chữ cù lao chưa tròn ân trả/… Nghĩa một đời nguyện khắc tim con. Người con tâm niệm với mình và cũng muốn nhắn nhủ tới mọi người hãy ứng xử hiếu nghĩa với cha mẹ ngay khi còn có thể.

Có thể nói người Mẹ trong hơn chục bài thơ trên nói riêng và thơ viết về người mẹ Việt Nam nói chung đều tha thiết yêu thương, cần cù, đảm đang và giàu đức hy sinh đã sinh dưỡng được lớp lớp con cháu sống có lý tưởng và hành động cao đẹp, để cả dân tộc có được ngày “toàn thắng về ta”, thống nhất đất nước, hòa bình và no ấm như ngày nay. Qua chùm thơ, chúng ta thấy thơ về mẹ vừa có những tương đồng vừa có sự khác biệt, người mẹ vừa mang vẻ đẹp của truyền thống vừa hàm chứa vẻ đẹp của con người thời đại. Mỗi bài thơ là một mảnh ghép cùng góp phần tạo nên bức tranh người mẹ Việt Nam - “những trái tim như ngọc sáng ngời”.

Nhà hát Tuổi trẻ Việt Nam: Những nỗ lực trong lan tỏa văn hóa bền vững

Nhà hát Tuổi trẻ Việt Nam: Những nỗ lực trong lan tỏa văn hóa bền vững

Baovannghe.vn - Báo cáo tổng kết của Nhà hát Tuổi trẻ Việt Nam cho biết, năm 2025 nhà hát có 186 buổi diễn, hơn 56 nghìn lượt khán giả, doanh thu hơn 13,7 tỷ đồng và loạt giải thưởng chuyên môn.
Sống lại ký ức qua những hiện vật thời bao cấp

Sống lại ký ức qua những hiện vật thời bao cấp

Baovannghe.vn - Nhân dịp đón Xuân Bính Ngọ 2026, ngày 10/2, Sở VHTT&DL tỉnh Gia Lai phối hợp với Bảo tàng Pleiku đã tổ chức triển lãm chuyên đề Bao cấp - Một thời để nhớ. Triển lãm trưng bày hơn 220 ảnh, tài liệu, hiện vật được Bảo tàng Pleiku sưu tầm trong nhiều năm qua, cùng một số hiện vật của các nhà sưu tập tư nhân.
Hạt đậu nhỏ của Na. Truyện ngắn của CẨM ANH (Truyện thiếu nhi)

Hạt đậu nhỏ của Na. Truyện ngắn của CẨM ANH (Truyện thiếu nhi)

Baovannghe.vn- Cuối tuần, trời trong veo. Mẹ dắt Na ra chợ. Chợ đông vui lắm, ai cũng nói cười, mua bán đông như hội. Trong lúc chọn rau, mẹ ghé qua sạp hạt giống. Na tò mò nhìn những gói hạt giống đủ loại. Mẹ bảo:
Vẫn mơ thấy hoa đào. Tản văn của Lê Hà Ngân

Vẫn mơ thấy hoa đào. Tản văn của Lê Hà Ngân

Baovannghe.vn - Có bao nhiêu loài hoa lên ngôi khi Tết về nhưng người xứ Bắc yêu chuộng hoa đào. Các cụ xưa đã bảo: hoa đào đuổi được gió độc, đuổi được tà khí.
Thưởng thức nghệ thuật ca trù tại phố cổ Hà Nội

Thưởng thức nghệ thuật ca trù tại phố cổ Hà Nội

Baovannghe.vn - Nằm trong khuôn khổ chuỗi sự kiện thường niên Tết Việt – Tết Phố 2026, vào 20h ngày 12/2 (ngày 25 tháng Chạp năm Ất Tỵ) sẽ diễn ra đêm Hàn Lạp Nhã Ca. Chương trình do Ban Quản lý Hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội cùng CLB Đình làng Việt kết hợp tổ chức.