1. Vào cuối năm 2024, đại hội cơ sở Hội Nhà văn Việt Nam ba khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ dự kiến diễn ra tại Bạc Liêu nhưng sau đó chuyển về Trường Đại học Cửu Long ở Vĩnh Long. Vì sao? Vì phải xã hội hóa kinh phí một trăm phần trăm. Và vì nhờ... Lương Minh Cừ. Ông và nhà trường đã hỗ trợ tổ chức một đại hội cơ sở thành công ngoài mong đợi cho hơn 150 nhà văn về tham dự.
Những năm gần đây Lương Minh Cừ là một trong những nhân vật nổi tiếng, nhất là trong ngành giáo dục. Tuy vậy không phải ai cũng biết về ông, trong đó có không ít bạn văn ngay đất chín rồng có ngôi trường đại học tư thục lớn nhất cả vùng mà ông là hiệu trưởng. Có những đồng nghiệp hỏi tôi rằng Lương Minh Cừ từ đâu về đây làm lãnh đạo, trường này làm ăn ra sao, có khó khăn như một số trường đại học các tỉnh lẻ khác không mà hỗ trợ đại hội nhà văn và nhiều hoạt động xã hội từ thiện khác. Có người lại hỏi thơ của tiến sĩ triết học họ Lương thế nào, vân vân và vân vân.
|
Tất nhiên, ở thời đại số hóa, tìm từ khóa “Lương Minh Cừ” trên mạng khá dễ dàng. Nhưng để hiểu về con người ông, về thơ ông và cuộc đời thăng trầm của ông thì cần phải có thời gian và mỗi người nhìn nhận một cách khác nhau. Tôi thường xuyên gặp gỡ trò chuyện với ông song cũng khó mà hiểu hết về con người và sự nghiệp của nhân vật thuộc hàng “quái kiệt” này.
Có thể nói, Lương Minh Cừ là một trong những gương mặt vừa quen vừa lạ tạo nên sự khác biệt của đời sống văn học và văn hóa, giáo dục Việt Nam đương đại. Quen, bởi ông như nhiều chàng trai khác ở miền Bắc đã dấn thân vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, đất nước hòa bình thống nhất trở về học tập, dạy học và sáng tác. Lạ, bởi ông vượt qua những gian khó để vươn lên không ngừng, trở thành một nhà khoa học, giáo dục, quản lý uy tín, với học hàm học vị là phó giáo sư, tiến sĩ, vực dậy và đứng đầu một trong những trung tâm giáo dục đại học quan trọng hàng đầu ở Đồng bằng sông Cửu Long sau bao sóng gió cam go thử thách.
Lạ hơn nữa, với tư cách thi sĩ, kể từ tập thơ đầu tay Chân trời vùng sâu (1976) được giải thưởng Hội liên hiệp văn học nghệ thuật TPHCM năm 1976 - 1977, vì công việc khoa học và giáo dục mà có lúc Lương Minh Cừ phải rời xa “nàng thơ” tới hơn ba mươi năm, để rồi khi “tái hợp” trở lại thì lửa tình bùng cháy, cảm hứng cuồn cuộn dâng trào, ẩn ức dồn nén bung ra và ông sáng tác không ngừng, lần lượt trình làng các tập thơ mang vẻ đẹp riêng của một giọng điệu “quen mà lạ”: Bất chợt mùa xuân (2007), Nụ tầm xuân (2015), Anh đi giữa mùa hoa tam giác mạch (2023) và mới đây là Dọc trời hoa lửa (2025).
2. Bước ra từ chìm nổi hoa lửa nóng bỏng chiến trường và đi tới những con đường trầm bổng hoa xuân tỏa hương hòa bình, để rồi khi tâm hồn tĩnh tại sau những lênh đênh lận đận ngọt bùi xen lẫn đắng cay, Lương Minh Cừ cùng “nàng thơ” lại ngược lối trở về một thời dọc trời hoa lửa bi thương và kiêu hãnh. Tự tin dấn bước hướng vào tương lai rồi lặng lẽ trở về trân trọng quá khứ là lẽ sống và cũng là nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ ông.
Một trong những nét độc đáo trong thơ Lương Minh Cừ cả thời chiến lẫn thời bình là khám phá vẻ đẹp thư thái, bình yên của thiên nhiên lẫn tâm hồn con người. Một vẻ đẹp kỳ diệu chênh vênh giữa lằn ranh vui buồn, sinh tử. Như trong bài thơ Bình minh biên giới ông viết:
Bình minh ở đây yên ả vô cùng
Cây thốt nốt cứ nghiêng mình trầm lặng
Vùng giải phóng, lâu rồi không còn nghe
pháo bắn
Chợt tiếng chim gù làm xao động phum xưa.
Gió lắc rừng tre, đường nhỏ rải hoa dừa
Em gái Khmer, váy xoè đơm cá
Bình minh ở đây sao quen thuộc quá
Một chân trời đỏ một niềm tin?
Bài thơ được viết ở Svayrieng từ tháng 7.1972. Đó là lúc Lương Minh Cừ đang là Lính đặc công cởi trần, chân đất/ Chỉ đôi mắt là biết nói, mà thôi. Một bình minh cũng vừa quen vừa lạ mang vẻ đẹp khác thường ở miền biên cương thời hoa lửa. Có thể nói đây là một trong những tác phẩm khá hay của nền thơ chống Mỹ, ra đời ngay trên chiến trường, cụ thể là vùng biên giới Tây Nam, với cảm xúc tươi nguyên. Bài thơ này mở đầu cho tập thơ Dọc trời hoa lửa, cũng là mở đầu cho cả hành trình thi ca thời mưa bom bão đạn của Lương Minh Cừ.
Cũng với tâm thế ấy của thời hoa lửa, trong bài Khoảng trời bình yên ông lại viết những câu thơ bay bổng: Mặt trận bây giờ, cũng có lúc bình yên/ Trời rất xanh, và mây bay lãng mạn/ Lối anh sang em, tắt con suối cạn/ Có tiếng em cười bên ấy vói sang đây. Nếu không yêu đời yêu người thì làm sao ngay trên chiến trận có thể viết được những câu thơ “mây bay lãng mạn” đẹp như vậy. Vẻ đẹp ấy càng tinh tế hơn khi nhà thơ chia sẻ trong bài Hoàng hôn muộn với bối cảnh khá đặc biệt:
Giặc tháo chạy rồi trận địa lặng yên
Chúng tôi gọi nhau, xem ai còn ai mất
Và thu dọn chiến trường, để tiến về phía trước
Chợt nhận ra có mùi thơm của cỏ giữa
hoàng hôn
Mùi cỏ khét giữa chiến trường rất ngộ
Mùi cỏ ấy không phải ở nơi nào cũng có!
Thật bất ngờ và xúc động. Cái mùi cỏ cháy khét rất bình thường ấy lại trở thành mùi thơm rất ngộ khi trận địa lặng yên. Nhà thơ còn xác tín rằng “mùi cỏ ấy không phải ở nơi nào cũng có”. Mùi cỏ không còn là mùi cỏ nữa. Đó là mùi của tình yêu thiên nhiên và cao hơn là tình yêu sự sống trên thế gian này. Nếu chỉ là người lính cầm súng bình thường thì khó có thể phát hiện mùi thơm kỳ diệu ấy, mùi thơm của cỏ khét mà cũng là mùi thơm toát ra từ trái tim nhân văn thi sĩ. Trái tim cùng khẩu súng đã “nở bùng ra kết những mùa hoa” (Tản mạn thơ về thế hệ chúng tôi) làm nên hào khí của một thế hệ chống Mỹ cứu nước.
3.
Hoa mai rừng mang lửa
Dẫn lối vào mùa xuân
Nghe đất trời chuyển động
Chiến trường xa, đã gần…
(Giai điệu mùa xuân)
Không chỉ đạn bom mà ở chiến trường hoa của thiên nhiên đất trời cũng thành hoa lửa mang sứ mệnh riêng mình. Và đến mùa xuân đất nước hòa bình thống nhất, Lương Minh Cừ cùng bao đồng đội may mắn sống sót trở về đã tiếp tục học tập, làm việc và cống hiến. Con đường hoa xuân mở ra trăm ngả. Với riêng ông, đó là con đường văn hóa và giáo dục. Vừa dạy học, quản lý ông vừa lặng lẽ sáng tác. Đặc biệt, xuân về tết đến mang lại cho ông nhiều cảm hứng tươi trẻ:
Hoa đào vương nụ đương chờ Tết
Trời giăng mưa bụi đón xuân về
Tháng chạp mong manh làn nắng nhẹ
Đường làng thơm thoảng sắc hương quê
(Đường xuân)
Hoa đỏ đất trời ký ức. Nỗi niềm chênh chao giữa hiện tại và quá khứ là một nét đẹp riêng trong thơ Lương Minh Cừ. Quá khứ xót xa khi nhớ về sự hy sinh mất mát lẫn những kỷ niệm tuổi xuân vụt qua: Khoảng trời anh đi là khoảng trời đầy lửa/ Khoảng trời em miền đất nhớ âm thầm (Một miền đất hai khoảng trời). Nhưng quá khứ cũng có lúc ấm êm như “đường xuân rực rỡ mắt em cười”, với những hoài niệm nên thơ:
Tháng giêng, nắng ướt cánh đào
Em đi dát lúa sắc vào trời xanh,
Vườn xưa hương bưởi hương chanh
Tiếng chim ríu rít rung cành, còn không?
(Tôi sinh ra ở làng Đông)
Đó là ký ức đẹp khi chàng trai Lương Minh Cừ chưa ra trận. Với tâm thức hiện sinh ấy, lúc đã vào tuổi trung niên, thi sĩ họ Lương vẫn luôn thổn thức như thời trai trẻ trước vẻ đẹp bất ngờ của thiên nhiên lẫn con người, trong bài Hoa mận nở trắng trời xuân Tây Bắc:
Không tin được có mùa xuân tuyệt đẹp
Giữa núi rừng Tây Bắc trập trùng xa
Hoa đào đỏ chen màu hoa mận trắng
Có sắc bốn mùa trong thổ cẩm em pha.
Lương Minh Cừ không tin có mùa xuân tuyệt đẹp. Còn tôi đôi khi không tin có một Lương Minh Cừ tay súng tay bút bước ra từ hoa lửa đến với đường hoa xuân với những ước mơ nung nấu dần trở thành sự thật. Ước mơ của chính ông và đồng đội ông. Ước mơ của chính ông và thế hệ ông, trong đó có rất nhiều người đã ngã xuống để Hoa mai rừng mang lửa/ Dẫn lối vào mùa xuân bình yên mãi mãi cho đất nước dòng giống tiên rồng.