Vậy nên khi ra đời, cuốn sách Ma cà rồng - Ma quỷ, tưởng tượng và bản sắc, xã hội Thái của nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến đã khiến không ít bạn đọc thấy thắc mắc vì nội dung (có thể hình dung một phần từ nhan đề) đã vượt ra khỏi khung tri thức quen thuộc đến mức trở thành mặc định xưa nay về loài quái vật có tần suất xuất hiện dày đặc trong văn học nghệ thuật phương Tây kể trên. Ý thức được điều này, nên ngay trang đầu cuốn sách, tác giả đã viết: “Sách được viết, trước tiên, để chú giải cho hiện tượng phi phống và sa ngạn (ma cà rồng) tồn tại ở vùng Thái Đen Sơn La và Yên Bái (Việt Nam).” Thế là rõ, đây là sách nói về “ma ta”, một thứ ma bản địa đích thực, có thực, cái thực trong hình dung của cộng đồng người Thái, trước hết là Thái Đen ở những nơi mà nhà nghiên cứu đặt chân.
|
Để tìm được cách giải nút thắt đầu tiên và cũng là thắc mắc của đa số những người chỉ mới nghe cái tên ma cà rồng qua vô tuyến truyền hình - phim ảnh, internet hoặc qua... “truyền miệng”, chúng ta có thể hoàn toàn tin cậy mà cùng tác giả Thử lần theo một cái tên. Trước hết, Nguyễn Mạnh Tiến chỉ ra dấu tích loài ma này đã được lưu lại trong ghi chép của các học giả trung đại không chỉ bằng một danh xưng. Có thể gặp những chữ “cà rồng quỷ”, “cà rồng ma”, “cả lằng quỷ”, “càn sùng quỷ”. Tất nhiên những tên gọi này không thể đến từ hư không. Chúng có nguồn gốc từ đâu? Trước hết, trên cơ sở vận dụng những hiểu biết cá nhân, tổng hợp các tư liệu ghi chép thời cận đại ở Thái Lan về thứ ma có các biến âm tên gọi là “phi krasu”, “phi krahang”, “phi phoang”, tác giả đem kiểm chứng ở vùng Tây Bắc Việt Nam và bất ngờ nhận lại được phản hồi về việc chính lớp nghĩa về thứ ma có hình dạng và hành trạng như thế lại tồn tại ở vùng Tây Bắc. Tiếp đấy, tác giả đi đến giả thiết “về một sự biến chuyển âm tiết từ ‘krahang’ đến ‘cà hang’, ‘cà ràng’, ‘cà rằng’ và cuối cùng là ‘cà rồng’”. Bên cạnh đó, khi khảo sát ở vùng thượng du Thái Thanh Hóa, tác giả ghi nhận trong các tài liệu và niềm tin dân gian về một thứ “phi kờ dầng” và khẳng định “chính tên gọi kờ dầng này là dấu chỉ trực tiếp, không cần phải lòng vòng suy diễn, liên hệ mà đi thẳng vào cái tên ma cà rồng mà chúng ta đang tìm kiếm”. Phải nói thêm rằng, trong tiếng Thái, phi nghĩa là ma. “Phi kờ dầng” tức ma cà rồng vậy. Vẫn chưa dừng lại ở đó, để lí giải về sự xuất hiện của danh xưng ma cà rồng, tác giả còn trình bày giả thiết rằng cà rồng là từ có nguồn gốc trực tiếp trong tiếng nói và văn hóa Tày - Nùng, những tộc người có nền văn hóa gần gũi hơn với Kinh/Việt và cùng chịu ảnh hưởng Hán hóa. Từ “phi ca rong” trong ngôn ngữ Tày cùng những mô tả về loài ma này sớm được các học giả người Pháp ghi chép có nhiều trùng khớp với ghi chép của học giả trung đại Việt Nam như Lê Quý Đôn cho thấy thêm một cơ sở vững chắc để khẳng định, cà rồng “đầu tiên là ma của người miền núi, sau đó, chuyển đến lớp nghĩa hút máu, hiện hữu như con người, sống giữa con người, là di sản riêng tạo thành bản sắc của những người nói tiếng Tai”. Và như thế, sự tồn tại của sự kiện ma cà rồng là có thực trong tâm thức tộc người, được người Việt/Kinh ghi chép từ thời trung đại và xuất hiện dày đặc trong xã hội Việt Nam vào những năm 30 thế kỉ XX, được phát tán theo các từ điển như của hội Khai trí Tiến đức, theo báo chí và theo các loại truyện đường rừng, để rồi cuối cùng, khi cần dịch từ Vampire, từ này được trưng dụng dẫn đến sự hiểu mập mờ về “ma Tây” - “ma ta” như đã nói ở trên.
Khi đã phần nào “yên tâm” với xuất xứ của con ma, độc giả lại có thể theo chân nhà nghiên cứu về những không gian xa xưa qua các thư tịch trung đại để thấy những hình dung cơ bản về hành trạng của ma cà rồng, bên cạnh tên gọi đã phần nào nói ở trên. Điều thú vị là, quá trình đọc lại ấy cho thấy các trí thức trung đại không phải chỉ là những người ghi chép đơn thuần dưới sự chỉ đạo của một thế giới quan bị Hán hóa hoặc một cái nhìn khinh khi đối với các tộc người thiểu số mà theo đánh giá của tác giả cuốn sách, có những người trong số họ - như Phạm Thuận Duật - đã “đưa ra được một chương trình phân loại tộc người có độ chính xác cao và rất gần với cái nhìn hiện đại, và đồng thời, ở nhiều điểm còn đi trước cả học thuật dân tộc học của các sĩ quan Pháp về sau”.
Theo dòng thời gian, hiện tượng ma cà rồng tiếp tục được tác giả trình bày qua những hình dung đầu thế kỉ XX. Bằng việc khảo sát kĩ các nguồn tư liệu như báo chí, tiểu thuyết của các tác giả đương thời, tác giả chỉ ra cách mà bóng ma này được vẽ vời thêm hành trạng, diện mạo, đặc điểm… thậm chí còn bị đẩy lên thành một một “giống người mới mà có lẽ nhân loại chưa từng biết đến”. Qua đó, người đọc thấy được phần nào hình ảnh của miền ngược trong con mắt của người dưới đồng bằng. Phần tiếp theo của cuốn sách trình bày một số nhận xét, thống kê về hiện tượng ma cà rồng ở nước Thái thế kỉ XX cùng một chương về ma cà rồng của thời hiện tại qua những ghi chép trên thực địa. Trong chương này, tác giả trước hết trình ra một “hồ sơ ma cà rồng vùng Thái Tây Bắc” với những vùng Thái Đen (thuộc Điện Biên, Sơn La, Yên Bái cũ), Thái Đỏ (Mai Châu - Hòa Bình cũ), tiếp đến là hình dung về giống ma này ở các vùng Thái xứ Thanh - Nghệ và ở cộng đồng người Thái đã di cư vào đất mới Tây Nguyên. Như thế, cùng với trục thời gian, sách cũng cho độc giả một hình dung theo chiều kích không gian khi được nghe đến giống ma này qua nhiều tên gọi khác nhau tùy theo từng vùng Thái và theo độ “hiểm”, tỉ như còn “non” thì chúng được gọi là “phi phống”, “phỉ phông”, “phí phông” hay “phỉ phóng” nhưng một khi đã thành giống ma “cứng đầu” thì được gọi là “sa ngạn”. Cách trừ ma ở mỗi nơi mỗi vùng và đối với mỗi “cấp độ ma” vì thế cũng ít nhiều khác biệt và phụ thuộc vào “trình độ bắt ma” của ông thầy sa man.
Cuốn sách có phần chính văn chỉ ngót 160 trang song không vì thế mà kém phần bề thế bởi nguồn tư liệu hết sức dồi dào cũng chiếm ngần ấy dung lượng tập hợp trong các chú giải, phụ lục, và lại càng trở nên quý giá, đáng tin hơn khi được xử lí trong thế đối sánh với các kết quả điều tra trên thực địa. Dù sau lời tạm kết, cả độc giả lẫn bản thân tác giả đều chưa thỏa mãn với những gì hiện biết, song những câu hỏi còn bỏ ngỏ cũng chính là thứ để người đọc chờ đợi và là điều mà tác giả Nguyễn Mạnh Tiến cam kết ở những nghiên cứu tiếp theo.