Tôi khích lệ ủng hộ và cũng mong chờ tác phẩm này của chị. Thế rồi rất lâu sau đó, tôi mới nhận được Hoa của nước, in song ngữ rất công phu. Tôi đọc và ghi nhận, Trầm Hương là một nhà thơ trầm tỉnh, chị không những sắp xếp cho sự ra đời của trường ca, mà còn nghĩ đến tương lai tác phẩm của mình sẽ bay xa. Ý thức bay xa không phải dành cho tác giả, mà dành cho những người phụ nữ anh hùng được lan tỏa khắp thế giới, vì sự hi sinh vô bờ bến để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc. Bởi chị quan niệm: “thơ không bắc cầu danh lợi/ thơ ca là để hiến dâng đời...”
|
Hoa là biểu tượng cho cái đẹp, cho người phụ nữ. Nước là biểu tượng của đất nước, của Tổ quốc. Hoa của nước viết về những người phụ nữ anh hùng trong chiến tranh Việt Nam. Có thể nói không ngoa rằng, Hoa của nước là bản trường ca bi tráng của hành trình đi xuyên qua nỗi đau của: “trùng trùng linh hồn/ trùng trùng nước mắt/ bến và thuyền cùng đau...” Nhịp điệu “trùng trùng” chồng lấp lên nhau tạo thành bề dày lịch sử. Bến và thuyền là hai đầu của cơn đau, một cơn đau tàn nhẫn đeo đẳng suốt một thời thiếu nữ của bao người con gái lấy “máu trộn bùn”, lấy đau thương làm hành trang đánh giặc.
Trước đây tôi có ngộ đa số đàn bà làm thơ là để tìm thấy bản thể của mình, tìm thấy tình yêu ở đâu đó trong nỗi đau phụ bạc, trong tình tội éo le và chia li. Nhưng Trầm Hương thì khác, thơ chị nén vào nỗi đau của dân tộc mình, vào những người phụ nữ nhỏ bé, dễ chìm vào lãng quên. Từ đó chị cất công tìm kiếm, vực dậy những người bà, người mẹ, người chị... bị dòng thời gian vô tình cuốn phăng đi. Chúng ta hiểu rằng lịch sử không bao giờ mất đi, nó luôn còn đó, nhưng thời gian không thể không rêu phong. Trường ca Hoa của nước hiện ra như một lưỡi kiếm sáng lóe, bóc tách những khoảng trống mờ nhòe, đưa ra ánh sáng những chùm hoa li ti mà có sức lan tỏa sâu sắc. Điều đó nói lên tấm lòng biết ơn của thế hệ đi sau đối với thế hệ đi trước đã hi sinh xương máu của mình, góp phần vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc.
Những người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến “anh hùng, bất khuất”, nhưng ở chiều nơi sâu thẳm của tâm hồn, họ vẫn là những người mang thiên tính nữ, vẫn luôn đa cảm và lãng mạn. Trong Hoa Cồn dù Trầm Hương đã viết: “của nước/ không chỉ là những bông hoa thủy sinh/ khí nắng trời/ tinh của đất/ hoa cồn dù mong manh/ hôn lên mái dầm của những người con gái...” Tôi cho rằng, hành động “hôn lên mái dầm của những người con gái” trong ngữ cảnh ấy, thật đẹp và lãng mạn. Điều đó nói lên rằng, những người phụ nữ Việt Nam vô cùng dịu dàng và lạc quan, mặc dù hằng ngày phải đối mặt với quân thù xâm lược. Một đoạn thơ khiến cho không khí ngỡ “sặc mùi thuốc súng” đã trở nên thấm đẫm chất người hơn, mở ra lối thoát cho ngôn từ không vì đạn bom mà bế tắc trong vỏ bọc hận thù khô cứng. Đó là cách viết của Trầm Hương, một tư duy thơ khá độc đáo. Xuyên qua các loài hoa biểu tượng, đa số chị mở đầu bằng “của nước”. Của là một giới từ sở hữu rất đặc biệt trong trường ca này. Nó cho thấy các loài hoa đều thuộc về “nước”, gợi lên một trường liên tưởng về những người con gái của đất nước chúng ta. Và bằng phép nhân hóa, câu thơ luôn mang tính gợi. Ví như: “hoa li ti không dễ gì nhìn thấy/ mà biến ảo thần kì/ những người con gái tắm bằng lửa và gội đầu bằng bùn non/ những người con gái thả trôi mình trên sóng…” Đó không những là chiến thuật đánh trận, mà còn là những thi ảnh bạo liệt, giàu sức gợi và giàu cảm xúc. Sự bay bổng và trôi dạt của những phận đời mỏng manh đã mở ra chân trời nghệ thuật bao la, làm xúc động và cuốn hút bạn đọc Việt Nam và bạn đọc nước ngoài. Các bà, các mẹ, các chị đã hóa thân vào những bông hoa, và linh hồn của họ là những làn hương ám ảnh người còn sống: “những người con gái giấu nhan sắc dưới tấm khăn nâu/ giấu khát khao trong bịt bùng cây lá/ những khuôn mặt riêng tư hòa lẫn màu muối mặn/ hồn nhiên thanh xuân trôi...”
Nam Ba - một người con của Trầm Hương sống ở nước ngoài đã viết rằng, đây là tác phẩm để đời của mẹ anh, kết tinh từ nhiều thập kỉ. Nếu vậy, thì đúng là bao tâm huyết Trầm Hương đã dồn hết vào đây. Tất cả gom tụ lại trong một từ: “Thơ”. Tôi đọc được câu nói rất hay của nhà văn lớn Nguyễn Tuân rằng “thơ là mở ra được cái gì mà trước câu thơ đó, trước nhà thơ đó, vẫn như là bị phong kín”. Điều này đặc biệt đúng với Hoa của nước, trước câu thơ đó, tôi chưa biết linh hồn của những nữ liệt sĩ ấy đã hóa thân vào các loài hoa; trước nhà thơ đó, chưa có nữ thi sĩ nào hiểu “máu trộn bùn có màu gì?”. Đây là một khám phá của quá trình lao động sáng tạo, mang đậm “vân chữ” rất riêng của Trầm Hương. Nó đòi hỏi người viết không chỉ giàu lòng từ bi, biết yêu thương chân thật những thân phận bèo bọt lục bình, mà còn phải biết dấn thân trên đường thiên lí. Nhất là biết tri ân sự hóa thân của họ vào từng ẩn mật của thiên nhiên. Tuy mong manh mà lưu đọng. Tuy mất mát mà luôn tái sinh. Ảo và thực hòa trộn vào nhau. Tràn vào thơ...
Những “hoa dây chiều”, những “đào, mai, chuối, tre”... vụt đứng dậy như Phù Đổng, khi đất nước lâm nguy. Thế nên: “đừng hỏi vì sao Tổ quốc lại là mẹ/ đừng hỏi vì sao hồn nước thấm vào tre.” Và cũng đừng hỏi vì sao thơ thấm vào căn tính của dân tộc Việt, để hình thành nên tiếng nói bền chặt, sâu thẳm và thiết tha...
Quả thật, các loài hoa đều có tiếng nói, có năng lượng riêng để hình thành nên tính cách. Nhà thơ là người thấu hiểu điều đó, nên thơ cũng là tiếng nói của loài thảo mộc khi con người gắn vào cây cỏ một cái tên. Có khi mĩ miều như mai như cúc, có khi dân dã như bần, như dừa... Và những nữ liệt sĩ đã nương vào đó, dâng hết thanh xuân của mình cho cây cỏ hoa lá.
Nhà thơ Trầm Hương bộc bạch về cuộc tìm kiếm kì công, nhưng cũng đầy kịch tính rằng: “tôi viết về hoa/ không phải bằng những ngôn từ lóng lánh kiêu sa/ tôi đi tìm hoa/ bằng xuyên không xới tìm cây khô lá mục...” Để rồi khi vấp ngã, chị mới tỉnh ngộ nhận ra: “tôi đã giẵm lên những bông hoa đẹp nhất/ dưới chân mình...” Thì đó, một nhận diện có sự cộng hưởng của trắc ẩn và tâm linh, đã chỉ ra con người và thiên nhiên không thể rời nhau, mà tựa nương nhau làm thành cuộc sống. Sự diệu kì sẽ xuất hiện để cứu rỗi từng nỗi đau...
Hoa của nước là nỗi đau xuyên thấu. Suốt 3 chương của trường ca này, nó đã khắc họa nên vẻ đẹp trường cửu của người con gái Việt Nam. Với tài hoa thiên bẩm, Trầm Hường đã dày công viết nên một khúc ca vừa trầm hùng vừa lãng mạn. Đó là mĩ cảm văn chương của người từng trải, từng nếm mùi khổ đau, và vượt qua khổ đau. Nhà thơ không dùng thể thơ truyền thống, mà chọn phong cách tự do, để khỏa hết những góc cạnh, như dòng sông cuộn trào ra biển, va đập vào rào cản của những định kiến. Điều đó đem lại một góc nhìn thú vị hơn là những điệu hồn miên man mà trơn tuột. Chính vì thế, Hoa của nước không phải là mĩ học của vàng son, mà đã được cách tân theo sự vận động của lịch sử để thấu suốt, để hiện diện, và để thức tỉnh lương tri con người.
Phải chăng có một thứ tình yêu cao cả, vô điều kiện và sự hiến dâng mãnh liệt trong tác phẩm này? Có phải vì thế, mà cả một kí ức ngỡ chìm sâu trong quên nhớ vô thường, đã được nhà thơ Trầm Hương tái hiện lại?