![]() |
| Nhà văn Hoàng Minh Tường cùng du khách tại vịnh Hạ Long. Ảnh: TGCC |
Tôi ngủ một giấc rất sâu. Và chợt tỉnh dậy, bàng hoàng. Đây là đâu? Một căn phòng gỗ nâu trầm, giường đệm trắng muốt, chiếc điện thoại cổ, chiếc giường cổ, cây đèn ngủ như của thế kỷ XVII, tỏa thứ ánh sáng liêu trai. Chỉ khi quay lại, nhìn bức tranh sơn mài với cánh buồm nâu, tôi mới biết chắc mình đang ngủ giữa vịnh Hạ Long, trên con tàu gỗ mang tên Heritage (Di sản) vừa được trùng tu, tân trang hiện đại. Đây là con tàu gỗ hình thuyền rồng hạng sang “cổ nhất” của vịnh Hạ Long, từng được khách nước ngoài rất ưa thích. Hình như chỉ còn con tàu gỗ khổng lồ này được giữ lại khi những con tàu khác đã lỗi mốt, phải hoán cải bằng tàu sắt.
Tôi mở tấm rèm trắng. Trời nước Hạ Long ùa vào tôi. Biển phẳng lặng và huyền ảo như trong cõi mơ. Tôi hoang mang, như trước mắt mình, đích thị là một con rồng khổng lồ đang nằm ngủ trên mặt biển mờ sương. Chưa bao giờ hình tượng rồng lại hiện hữu trước tôi rõ ràng như thế. Bóng đêm nhòe mờ những hòn đảo, tạo thành một dải liền mạch, nhấp nhô uốn lượn như những đoạn thân rồng. Phía ấy là Gia Luận và Cát Bà, một thiên đường du lịch không kém gì Hạ Long bên này. Nhìn sang phía hang Đầu Gỗ, mấy chục con tàu, với ánh đèn xanh đỏ mờ ảo cũng buông neo nằm ngủ. Đó là những con tàu du lịch khổng lồ hai, ba tầng được phép ngủ ở vùng nước nông trong vịnh. Chúng giống như những chú rồng con trong truyền thuyết Hạ Long, đang quần tụ quanh rồng mẹ.
Mở cửa phòng, tôi nhẹ nhàng đi lên boong. Ngoài những nhân viên và lái tàu trên cabin túc trực làm nhiệm vụ, cả con tàu đang trong giấc say. Dường như chỉ có mình tôi thức với 1.969 hòn đảo lớn nhỏ có tuổi đời đến 300 triệu năm. Làm sao trên đời, có được một đêm giữa biển Hạ Long như đêm nay.
Câu thơ của Ức Trai tiên sinh bỗng vang ngân, như từ sóng biển, từ gió biển, từ xa xưa ào đến:
“Lộ nhập Vân Đồn san phục san
Thiên khôi địa thiết phó kỳ quan
Nhất bàn lam bích trừng minh kính
Vạn hộc nha thanh đỏa thúy hoàn...”
Dịch thơ:
“Đường đến Vân Đồn lắm núi sao
Kỳ quan đất dựng giữa trời cao
Một vùng biếc sẫm gương lồng bóng
Muôn hộc xanh om tóc mượt màu...”
(Đào Duy Anh dịch).
Có lẽ từ ánh sáng của bài thơ Đường đến Vân Đồn của Ức Trai ấy, mà năm Quang Thuận thứ 9 (1468), tức là đúng 26 năm sau vụ án Lệ Chi Viên thảm khốc (1442), vua Lê Thánh Tông, trong lần tuần du Hạ Long, đã hứng khởi cho khắc thơ mình lên núi Bài Thơ:
“Cự tẩm uông dương triều bách xuyên
Loạn sơn kỳ bố bích liên thiên
Tráng tâm sơ cảm Hàm tam cổ
Tín thủ dao đề Tốn nhị quyền
Thần bắc khu cơ sâm hổ lữ
Hải đông phong toại tức lang yên
Thiên Nam vạn cổ sơn hà tại
Chính thị tu văn yển vũ niên”.
Dịch thơ:
“Nhận nước trăm năm sóng cuộn đầy
Núi bày cờ thế, biếc liền mây
Xưa theo người khác luôn bền chí
Giờ đã tung hoành một chớp tay
Đế chủ điệp trùng quân hổ mạnh
Hải Đông đã tắt khói lang bay
Trời Nam muôn thuở non sông vững
Yển vũ tu văn dựng nước này”
(Trần Nhuận Minh dịch).
Nhận nước trăm năm sóng cuộn đầy. Có lẽ vua Lê Thánh Tông thuở ấy chưa được học địa lý, địa chất. Nếu ngài biết quần thể đá vôi karst Hạ Long có niên đại từ kỷ Carbon, Pecmi 340 đến 250 triệu năm trước (chứ đâu phải trăm năm); Nếu vua Lê Thánh Tông biết được rằng, vào kỷ Trias, cách ngài hơn 200 triệu năm trước, cả vùng Hạ Long mà diện tích bằng hai nước Singapore này là những đầm lầy ẩm ướt với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ nhiều thế hệ, để rồi qua những cuộc biển tiến, biển thoái, những khối đá vôi được nâng lên, rồi quá trình xâm thực, bào mòn, mới hình thành nên các hang động kì vĩ, mới tạo ra, hòn Đũa, hòn Cóc, đảo Bồ Hòn, đôi gà Trống Mái thần tiên… Để có đàn rồng mẹ rồng con ngự ở Hạ Long này, trời đất nước Việt phải qua những triệu năm quặn đau sinh nở.
Thực là diễm phúc lớn mà thiên nhiên đã ban tặng cho con dân nước Việt, để đến bây giờ, thế hệ cháu con hôm nay mới được tọa hưởng kỳ thành. Ngành du lịch Quảng Ninh, trong đó chủ yếu là tour thăm vịnh Hạ Long, mỗi ngày hàng ngàn xe nối đuôi nhau vào Tuần Châu, Hòn Gai. Âu tàu Tuần Châu giờ đã chật chội, tàu lớn tàu nhỏ chen nhau đón khách. Mỗi năm Quảng Ninh đón tới vài triệu du khách từ năm châu bốn biển đến chiêm ngưỡng giá trị địa chất địa mạo toàn cầu của Hạ Long mà UNESCO đã hai lần trao tặng cho đại kỳ quan thiên nhiên này.
*
Tảng sáng, khi bình minh chói rực, như mặt trời đang đội biển trồi lên ở dãy đảo phía đông, tàu Heritage cũng nhổ neo tiến về phía đảo Titop. Nhìn ra bốn phía, hàng chục con tàu trắng, sau giấc mơ tiên giữa vịnh biển, cùng hàng trăm tàu nhỏ ca nô từ các cảng Bãi Cháy, Tuần Châu cũng đang tiến về hòn đảo hình chóp nón, có dải cát vàng hình trăng, có lầu ngắm biển trên đỉnh, rất dễ nhận ra. Trước năm 1962, dân chài quen gọi là đảo Cát Nàng. Chuyến thăm vịnh ngày 22/1/1962 của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phi công vũ trụ Liên Xô Gherman Titop, đã ghi một dấu ấn lịch sử giữa vịnh Hạ Long. Tên đảo Titop, do Bác Hồ đặt, có từ đó. Nếu như động Thiên Cung, hang Sửng Sốt, hang Luồn… hấp dẫn, mê hoặc du khách bởi những hang động karst quanh co, kỳ ảo, những nhũ đá muôn hình vạn trạng, những hang luồn rợn ngợp, thì Titop lại yên ả với núi phủ cây xanh, bãi cát vàng và nước biếc mời gọi. Lý thú nhất là đường lên đỉnh cao hơn trăm mét với 400 bậc đá hầu như dốc đứng. Có người ao ước, giá như có một thang máy từ chân đảo lên đỉnh cho người cao tuổi, để ai cũng được lên đỉnh Titop, phóng tầm mắt nhìn bốn phương tám hướng vịnh Hạ Long thần tiên.
Cùng đi với tôi có chú em thúc bá Hoàng Hội, kém tôi năm tuổi. Hội là chiến sĩ lái xe Trường Sơn những năm 1970, nhân vật trong tiểu thuyết Những người ở khác cung đường của tôi (Giải thưởng hạng A Văn học Công nhân, 1989). Hoàng Hội từng bị bom Mỹ đánh cháy sáu chiếc Zin ba cầu, nhưng lại tiếp tục nhận xe mới, đưa hàng vào mặt trận. Giờ trước đỉnh Titop, Hoàng Hội bóp chân, lắc đầu: “Anh lên đi, em không leo được.”
Tôi để người chiến sĩ Trường Sơn năm xưa ngồi nghỉ cạnh tượng Titop, xăm xăm bước lên những bậc đá. Thật quá hạnh phúc vì qua một đêm ngủ giữa vịnh Hạ Long, rồng thiêng đã cho lão nhân U80 sức mạnh leo lên tận đỉnh Titop và rồi lát nữa sẽ bơi dăm vòng trên bãi cát vàng chân đảo. Thú nhất là tôi gặp một bà đầm, chắc kém tôi chục tuổi, mà tôi cứ ngỡ đã gặp ở Sydney, ở Melbourne tám tháng trước, khi tôi sang chơi Australia. Gặp nhau giữa chặng nghỉ, cách đỉnh núi hơn 40 mét, không biết bà còn đủ sức leo tiếp không, nhưng tôi nhìn bà như một nữ vận động viên leo núi thượng thặng. Bà mỉm cười thân thiện, cùng chụp với tôi một bức ảnh và bảo: “Hạ Long, Việt Nam tuyệt vời. Tôi tin, rồi con cháu, bạn bè và cả nước Australia của tôi sẽ đến với Hạ Long thơ mộng và kỳ vĩ.”