![]() |
| Lễ hội Tây Yên Tử - Hoạt cảnh về con đường tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Ảnh: báo Bắc Ninh |
Đoàn xe chúng tôi đi một lèo chừng một tiếng rưỡi từ thành phố Bắc Giang lên tới ngã ba Bản Mậu. Mấy cô gái ở cửa hàng ăn ra mời chào đon đả làm ai nấy ngạc nhiên vì những nét đẹp nụ hoa sơn cước, má đỏ môi hồng tự nhiên. Thảo nào nơi đây nổi tiếng là bản nhiều người đẹp nổi tiếng ở Bắc Giang.
Ngã ba từ xã Tuấn Mậu (huyện Sơn Động) tới chân núi Yên Tử chừng bốn cây số. Ngàn lau trắng muốt xen kẽ hoa dong, hoa chuối đỏ chót làm chúng tôi mê mẩn. Nắng còn vương trên đỉnh núi le lói qua màn sương bay bên con suối chảy thật mơ màng. Cô giáo Triệu Thị Xoan là người dẫn chúng tôi vào cổng Tam quan Tây Yên Tử. Cô nói đây mới chính là con đường đầu tiên Phật hoàng Trần Nhân Tông (1279-1308) lên tu trên núi cao (1.068m). Con đường xưa ấy cách đây 727 năm ngài leo núi cực nhọc lắm. Người dân Dao truyền lại rằng vào năm 1299, vua Trần Nhân Tông quyết chí xuống tóc lên chùa. Đường xa quan ngại, gió chướng mây ngàn cùng cọp beo hổ dữ nhưng ngài vẫn cần mẫn lấy hoa làm vui lấy chim muông làm tâm trí bình an. Đói rét không sờn lòng. Ngài vui thú với cảnh xuân và ngẫu hứng trong thiền thi: “Ngủ dậy ngó song mây/ Xuân về vẫn chưa hay/ Song song đôi bướm trắng/ Phấp phới sấn hoa bay” (Sớm xuân - Ngô Tất Tố dịch).
Giọng đọc thơ của cô giáo trầm tĩnh và ảm ảnh với cảnh sắc núi rừng. Câu chuyện lưu truyền trong dân gian được cô kể tiếp về sự tán loạn tâm can của những cung tần mỹ nữ đi theo. Hơn nữa, con đường vạn lý thật hiểm nguy rình rập. Nhiều người không chịu được khí hậu khắc nghiệt của rừng núi. Họ ốm yếu trong đói khát nên vua đã cho phép mọi người xuống núi về quê sinh sống. Tuy nhiên, vì lo sợ triều đình biết chuyện, các cô gái chia làm hai ngả xuống núi phía đông và một nửa xuống núi phía tây. Họ tụ lại chân dãy núi Yên Tử sinh cơ lập nghiệp cùng với dân bản xứ người Dao. Vì thế, những lớp con trai con gái người Dao được sinh ra ở đây đều thanh tú và xinh đẹp. Cả hai làng dưới chân núi phía Đông Yên Tử (thôn Nam Mẫu, Uông Bí, Quảng Ninh) và Tây Yên Tử (Bản Mậu, Sơn Động, Bắc Giang) đều nức tiếng có nhiều người đẹp được tuyển vào cung vua, qua các triều đại sau này.
Đường vào chân núi Yên Tử Tây mỗi lúc một thông thoáng với những rặng cây đào e ấp đơm nụ. Con suối lùi xa phía sau nhưng hơi lạnh sương mờ vẫn bảng lảng bay vờn trên những mái nhà lưng núi. Đúng là mộng cảnh hồn tiên: “Bồng bềnh sương vườn dâu chon von/ Mênh mang xanh lam ôm rừng thơm/ Chim gù ru bay nghiêng cánh chuồn/ Giàng Sao vờn mây buông cô thôn” (Cảnh sắc thôn Mậu - Nguyễn Lưu). Bài thơ với nhạc điệu bâng khuâng dẫn chúng tôi tới quảng trường lễ hội Tây Yên Tử (tại chùa Hạ) lúc nào không hay. Nơi đây là trung tâm tổ chức các lễ hội, hoạt động tâm linh cùng du lịch hằng năm. Cổng tam quan tựa như bức trường thành tráng lệ với hàng tượng mô tả cuộc đời tu thiền đắc đạo của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Mỗi bức tượng là chân họa thi ca của thiền nhân lỗi lạc họ Trần được khắc ghi. Đó là những áng thơ xuân mà ngài đã để lại. Chúng tôi như hòa vào cảnh sắc xuân trên đỉnh núi Yên Tử. Thi thiền thung dung tự tại: “Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày/ Thảm hoa chiếu rợp, bóng mây bay/ Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế/ Cùng tựa lan can ngắm núi mây” (Xuân cảnh - Huệ Chi dịch).
Để chuẩn bị lễ hội bản làng, câu lạc bộ văn nghệ bản Mậu cùng nhiều thôn khác đã tập luyện nhiều lời ca mới. Vùng đất Sơn Động có nhiều đổi mới khi có tới hai khu đô thị được thành lập và hoạt động kinh tế tăng trưởng lớn mạnh. Hàng chục ngàn người từ khắp nơi đổ về vào dịp lễ hội xuân Tây Yên Tử. Không khí náo nức lạ thường. Nhân dịp này, chúng tôi được cô giáo Triệu Thị Xoan giới thiệu gặp anh Triệu Hữu Đoàn, trưởng thôn Mậu để trao đổi biết thêm về lễ hội xuân năm mới. Hương thơm thảo vùng đất này vẫn luôn giữ được vẻ đẹp hoang sơ với những âm thanh róc rách suối vắng cùng những trảng lau trắng đung đưa trong gió núi.
Khi nói tới bản Mậu có nhiều con gái đẹp, anh trưởng thôn Đoàn hồ hởi khoe hàng loạt thiếu nữ trong bản từng đoạt những danh hiệu hoa hậu và người đẹp toàn quốc. Anh còn cho biết Tuấn Mậu là xã có tên gốc Tuấn Mẫu (Người mẹ đẹp) nức tiếng gần xa. Hơn nữa, con gái Dao Thanh Ty ở đây nhiều người hát hay và thuộc nhiều làn điệu Páo Dung (hát giao duyên). Những đội văn nghệ trong thôn đều là lực lượng nòng cốt của Lễ hội Tây Yên Tử, anh còn nói các cụ truyền lại câu “Nếp làng gà - Đàn bà Tuấn Mậu” thì phải biết con gái bản Mậu đẹp đến mức nào. Con gái Dao bản Mậu có nước da như trứng gà bóc; Gương mặt tựa trăng rằm; Tóc thơm hương hoa bưởi, hoa hồng. Anh còn nhấn mạnh về sự đảm đang của con gái bản Mậu, vừa khéo tay thêu thùa lại thuộc nhiều bài hát dân tộc. Những chàng trai, cô gái mỗi lần vào lễ hội là say đắm hết mình. Lúc này cô giáo Triệu Thị Xoan, cũng là một thành viên trong đội văn nghệ bản Mậu cất tiếng hát sôi nổi: “Nào nhảy đi nhịp bước em tôi/ Vũ điệu tình ru mời ru gọi/ Tay trong tay ríu ran ngày hội/ Lòng thầm mơ Loan - Phượng thành đôi.” Sau đó, cô giáo nói đó chính là lời ca của các chàng trai bản mời con gái vào nhảy vòng tròn theo điệu vẽ cánh hoa ban.
Điều càng thú vị với chúng tôi khi trưởng thôn Triệu Hữu Đoàn cho biết những bài thơ xuân của Phật hoàng Trần Nhân Tông đã được trình bày trang trọng trên sân khấu. Đó là những thi phẩm thiền nổi tiếng của ông vua tài hoa và nhân hậu này. Dường như nhiều phật tử thuộc thơ thiền của vị sư tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử khi lên đây. Mỗi khắc ghi trên đá, thơ bày tỏ xúc tích thiền tự. Trưởng thôn Triệu Hữu Đoàn đã nhấn mạnh về tư tưởng “Tâm không” của thiền tự qua thơ Trần Nhân Tông. Những người dân bản Mậu đều nhận thấy rõ “Tâm” là cái bao trùm là cái chất của vạn pháp. Rồi anh đọc câu nói nổi tiếng trong tư tưởng của Phật Hoàng rằng: “Trong núi không có Phật - Phật tại tâm mình.” Có lẽ vậy chăng mà Trần Nhân Tông đã từng viết: “Ở đời vui đạo, hãy tùy duyên/ Đói cứ ăn đi, mệt ngủ liền/ Trong nhà có báu, thôi tìm kiếm/ Đôi cánh vô tâm, chớ hỏi thiền” (Lê Mạnh Thát dịch).
Thêm một lần may mắn khi chúng tôi còn được gặp nghệ nhân Bàn Thị Duyên ở gần nhà văn hóa bản Mậu. Theo trưởng thôn, những nghệ nhân thuộc nhiều lời ca cổ trong nghệ thuật Páo Dung của người Dao ở bản Mậu chỉ còn mấy người như Bàn Thị Duyên, Triệu Thị Xoan, Bàn Thị Sơn, ông Hoàng Minh Hòa. Nghệ nhân Bàn Thị Duyên kể, nhiều thanh niên bản địa không chịu bỏ tiền đi cáp treo nữa. Họ thích theo lối đi bộ mà Phật hoàng Trần Nhân Tông đã từng mở đường ban đầu. Họ thường hò hẹn nhau nơi đầu ngọn suối đi lên và quấn quýt hát Páo Dung. Đó là những lời ca tỏ tình thân thương bao đời nay mẹ cha họ vẫn hát. Những lời ca hẹn hò trong tình yêu làm chúng tôi thật xúc động, khi nghệ nhân cất tiếng hát: “Quay chân lui bước nước mắt rơi/ Chàng khi nào mới gặp gỡ/ Gặp gỡ một lần nhớ vạn lần/ Mong khi hội ngộ vẫn duyên này.” Nàng không ngờ chàng trai lại cất lời đáp: “Ước gì hóa thân thành chiếc lá dong/ Cho nàng gói muối, ngọt bốn mùa.”
Đường lên cổng trời ngỡ như xa lắc nhưng trước mặt chúng tôi là những người nghệ nhân đang tập dượt những tiết mục chuẩn bị vào lễ hội phật tử. Những cô gái cầm hoa đang như bay lên trong vũ điệu núi rừng say đắm cùng thác suối trắng xóa. Tiếng hát mang âm hưởng Bạch Đằng đâu đó vang lên trên vách núi: “Vó ngựa xa dồn dập lưng đồi/ Người chiến binh khuất mờ sau núi/ Ánh mắt mẹ ngày đêm mong đợi/ Chờ con về mái ấm bình yên.” Hình tượng Phật hoàng sừng sững trên đỉnh núi tạo nên ánh sáng huy hoàng trên bầu trời Yên Tử. Đó là biểu tượng gắn bó giữa đạo với đời mà lễ hội hằng năm thể hiện sâu sắc: “Làm vua chỉ chăm dân trăm họ/ Làm Phật cứu độ cả muôn loài.”