Sự kiện & Bình luận

Trường xưa bạn cũ. Bút ký của Phạm Quang Tân

Phạm Quang Tân
Bút ký phóng sự 13:44 | 22/08/2026
Baovannghe.vn- Những năm 1979-1982, tôi may mắn học ba năm trung học dưới mái trường rất đặc biệt của tỉnh An Giang, học sinh một buổi học văn hóa, một buổi tham gia lao động sản xuất và được lãnh gạo, nhu yếu phẩm, lương như giáo viên cấp I.
aa
Trường xưa bạn cũ. Bút ký của Phạm Quang Tân
Trường xưa bạn cũ. Ảnh: TL

Đó là Trường Phổ thông Trung học Vừa học vừa làm tỉnh An Giang. Trường được thành lập vào năm học 1977-1980, tại xã Cần Đăng nên còn có tên gọi khác là Trường Vừa học vừa làm Cần Đăng…

Cần Đăng là một xã vùng xa, vùng sâu. Những năm lũ lớn, nước tràn về ngập cả sân trường, nền nhà tập thể, nền lớp học. Thầy trò phải lõm bõm suốt mấy tháng trời để giành giật con chữ.

Thầy cô của chúng tôi là những giáo viên trẻ đến từ các thị xã, các thành phố như Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Thanh Hóa... Thầy cô đã mang cả thanh xuân của mình về miền quê heo hút, lam lũ ấy, dạy dỗ chúng tôi vô cùng vất vả.

Thầy không quản công sức thường xuyên phụ đạo cho trò dưới ánh sáng leo lét của những ngọn đèn dầu. Cô cẩn thận cho trò mượn những quyển sách Học làm người từ tủ sách gia đình, mong trò được chí cao, tâm lớn. Thầy dúi vào tay trò mấy đồng từ tiền lương khiêm tốn, giúp trò làm lộ phí đi thi học sinh giỏi. Cô luôn sớt nửa tô canh, nửa khúc cá mang sang cho trò khi nhà bếp ngưng phục vụ thức ăn... Kể về những kỷ niệm đẹp của thầy trò chúng tôi trong những năm gian khó, dạt dào yêu thương ấy phải mất nhiều cuốn sách.

Trường Vừa học vừa làm Cần Đăng chỉ tồn tại sáu năm học, nhưng nó giúp rất nhiều con em của những gia đình nghèo học hết cấp 3, tạo tiền đề học cao hơn nữa, giúp nhiều người thành đạt, thay đổi được cuộc sống khó khăn cố hữu. Riêng tôi, Trường Cần Đăng “ân trọng như núi”. Không có Trường Cần Đăng tôi không học được lớp 10. Vào trường, tôi được hai bữa ăn tập thể do nhà nước bao cấp, đỡ một khẩu phần cho một gia đình thiếu ăn trong những năm khó khăn nhất ở An Giang, sau mùa lũ năm 1978.

Học sinh chúng tôi đến từ khắp nơi trong và ngoài tỉnh. Chúng tôi có một đặc điểm chung là những đứa trẻ “đói cơm, khát chữ, cháy bỏng ước mơ”, thương yêu, giúp đỡ nhau như ruột rà.

Bạn bè cùng học, cùng làm, cùng ăn, cùng ở như anh em một nhà. Người lớn đỡ đần cho người nhỏ. Người có học lực khá kèm cặp người có học lực kém. Người khỏe làm luôn việc của người yếu. Bạn nam làm “vệ sĩ cho bạn nữ”, phải nhận vài nắm đấm ganh tị của thanh niên địa phương nhưng chẳng chút phiền lòng. Bạn bè sẻ chia nhau sách vở, dụng cụ học tập, san sẻ nhau chai nước tương, hũ mắm, chung nhau cái mền mỏng dính khi gió bấc đêm đông,…

Ba năm học trôi qua, ba năm học đầy ắp nghĩa tình. Biết bao câu chuyện vui buồn đậm đà tình nghĩa, dào dạt yêu thương đã hơn bốn mươi năm rồi vẫn vẹn nguyên trong ký ức.

Năm lớp 11 (1980-1981), lớp tôi được phân làm ruộng đồng xa. Đến đợt mùa thu hoạch vụ đông xuân vào tháng ba, nhà trường cho nghỉ học và tập trung thu hoạch lúa. Lần đầu tiên phải cơm nước trên ruộng, thầy chủ nhiệm và chúng tôi rất lo lắng. Lớp phó lao động phân công bốn bạn nữ lo hậu cần, nấu cơm ba buổi. Buổi sáng, buổi tối ăn ở trường, buổi trưa ăn trên ruộng.

Cơm sáng tại trường xong, chúng tôi theo thầy lên ruộng gặt lúa. Nắng mỗi lúc mỗi chang chang, gay gắt, không chút gió, ngồi không đã ngợp thở. Tôi và các bạn gặt một chút lại nghỉ mệt. Chỉ có bạn lớp phó lao động luôn tay với chiếc lưỡi hái nhà nghề.

Một bạn hỏi bạn lớp phó:

- Bộ không mệt sao mà cắt hoài vậy.

Bạn hổn hển:

- Mệt chớ! Nhưng phải cố gắng mới xong được.

Đến trưa, bạn lớp phó cùng tôi và hai bạn nữa ra bờ kinh lấy cơm do hai bạn nữ mang lên bằng xuồng. Tôi bàng hoàng khi thấy dưới kinh không có nước. Bạn lớp phó quát to:

- Chết rồi! Nước ròng! Ông thầy là người thành phố, ổng không biết chuyện này, tao với mày phải biết chớ? Tại sao vậy?

Tôi chưa kịp trả lời, chưa kịp suy tính gì cả, bạn đã vụt chạy dọc theo bờ kinh, ba đứa chúng tôi chạy theo. Chạy khoảng hai cây số, bạn hô to:

- Thôi! Thôi! lên bờ nghỉ đi.

Chúng tôi từ từ tiến đến hai bạn nữ đang vắt vẻo dưới mé kinh. Bạn lớp phó lầm bầm:

- Hai con nhỏ này nó là thánh thần hay quỷ sứ mà giỏi vậy trời. Tụi nó đi hồi mấy giờ mà đẩy xuồng cơm trên kinh khô queo hơn hai cây số vầy nè…

Đến tối, ai cũng mệt, ngủ sớm. Dù đã có cách ngày mai đưa cơm lên ruộng, nhưng tôi và bạn không ngủ được. Bạn khều tôi, chỉ ra ngoài.

Lúc này đã hết giờ tự học buổi tối. Trăng hai mươi đã chênh chếch trên mái trường. Trăng len vào các lớp học thách thức những ngọn đèn dầu của các bạn chưa làm xong bài tập. Ngoài sân và dọc hành lang đã có nhiều nhóm trò chuyện, có nhóm quây quần trên sân cỏ, có nhóm ngồi trên băng ghế, có nhóm đứng tựa vào vách, vào các cây cột hành lang.

Tiếng ghita của “bốn ngự lâm pháo thủ” ở trước hiên thư viện đang rỉ rả: “...Tôi ca không hay tôi đàn nghe cũng dở...” bỗng im bặt, nhường lại không gian cho tiếng đàn mandolin vang lên rộn ràng, lảnh lót từ khu tập thể của giáo viên nam độc thân. Thời gian như đứng lại, yên tĩnh, cô tịch, chỉ còn tiếng đàn đùa giỡn với trăng sao.

Chúng tôi quên bẵng lý do ra đây trước khung cảnh, âm thanh hữu tình thơ mộng đó. Hồi lâu, bạn chậm rãi:

- Sao mày không ngủ, mày ám ảnh vụ kinh không nước hồi trưa à?

- Ừ.

- Tao thì, tao thấy tao có lỗi với tụi nó và tao phục tụi nó, tao thương tụi nó lắm... Mày cũng vậy phải không?

Tôi lại:

- Ừ.

Hồi lâu, sau một tiếng thở dài, bạn khẽ khàng.

- Ước… gì...

Bốn mươi lăm năm trôi qua, tôi luôn thắc mắc và vẫn không biết đằng sau hai tiếng “ước gì” của bạn là điều gì, mặc dù hình ảnh hai bạn nữ đạp bùn đẩy xuồng cơm trên kinh cạn nước và hành động, thái độ đầy vị tha, tránh nhiệm của bạn lớp phó vẫn rõ ràng, sâu đậm trong tâm trí tôi.

Mỗi lần gặp nhau, những câu chuyện ở khu nội trú nối tiếp nhau được kể lại không có hồi kết. Nào là chuyện thầy trò vất vả mang gỗ đi xẻ và dựng nhà ở tập thể. Nào là chuyện thách đố ăn hai mươi trứng hột vịt, lúc “biểu diễn” ăn hột vịt, cả khu tập thể đều tập trung đến xem, đông vui như xem xiếc. Nào là chuyện mười hai giờ khuya kéo nhau qua nghĩa địa cầu cơ, khi cơ vừa nhập thì thầy Hiệu phó lao động xuất hiện trong bộ blouse màu trắng của phòng thí nghiệm. Đám học trò tinh quái phải một phen “hồn phi phách tán”. Chuyện được kể lại nhiều lần nhất là chuyện trộm nước tương tập thể.

Khu nội trú của chúng tôi được chính thầy trò chúng tôi dựng lên bằng gỗ tạp, nền đất, mái tole, vách đất. Vách ngăn hai phòng chỉ cao chừng 2,5m. Trên đầu vách là một cái kệ rộng khoảng 0,5m, chỗ để vật dụng tư trang. Ở phòng bên này có thể thấy đồ đạc phòng bên kia.

Thời điểm ấy, không rõ vì lý do gì, mà nhà bếp không còn phục vụ thức ăn, chỉ có nấu cơm, chúng tôi nhận cơm về ăn tại phòng. Vào những ngày cuối tuần, các bạn nam phòng tôi thường ăn cơm trắng với muối cục.

Một hôm, trong lúc ăn cơm, một bạn phát hiện bên kệ của phòng nữ có chai nước tương. Vậy là cuộc trộm tập thể giữa ban ngày được thực hiện hoàn hảo. Bạn nhí nhất trèo lên vai bạn cao to. Các bạn còn lại hỗ trợ bạn cao to đứng lên. Bạn nhí được nâng lên cao, đưa tay qua kệ phòng nữ, nhẹ nhàng lấy chai nước tương. Hồi hộp lắm, mà vui lắm...

Nhanh chóng, cơm trắng đã biến thành cơm nâu. Bạn nhí lại leo lên vai bạn cao to, trả lại chai nước tương. Bạn cao to vừa nhổm dậy thì có tiếng: “Khoan, khoan, chừa chiều, chừa chiều...” và bạn ấy đưa cho bạn nhí đang ngồi trên vai bạn kia một cái chén. Bạn nhí chưa cầm được chén, thì giọng nữ phát ra từ phía cửa phòng: “Mấy ông lấy chai đó luôn đi. Tôi còn chai nữa, má tôi gửi cho tôi hai chai lận.” Chuyện đã bốn mươi lăm năm rồi vẫn còn mới tinh trong ký ức, mỗi lần nhắc lại đều cảm thấy rưng rưng.

Có những câu chuyện kết thúc sau khi bắt đầu mấy chục phút, nhưng khắc sâu trong tâm tưởng nhiều người, mỗi khi nhớ lại luôn phát sinh những tình cảm tích cực, những việc làm nghĩa tình. Cũng có những chuyện chưa phải là câu chuyện. Nhưng mỗi lần nhớ đến, tôi luôn bồi hồi xúc động, yêu quý và nể trọng bạn tôi. Đó là chuyện hai cái mền của tôi và bạn đội trưởng đội bóng chuyền.

Mùa lũ bất thường năm 1978 đã nhấn chìm gần hết vụ hè thu và vụ mùa của vùng tứ giác Long Xuyên trong biển nước. Gia đình tôi mất trắng cả hai vụ lúa ấy. Để nuôi sống một gia đình có sáu đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn, ba mẹ tôi đã lần lượt bán hết đàn bò để mua gạo. Sang năm 1979, gia tài của gia đình tôi chỉ còn cái chuồng bò trống trơn và cái mùng bò làm bằng bao cát công sự của quân đội chế độ cũ. Cái mùng bò được cắt ra thay cho cái màn đã cũ rách và những cái mền cho anh em chúng tôi. Tôi mang theo cái mền bao cát ấy vào ở nội trú.

Cái mền của bạn cũng rất đặc biệt nó được khâu lại từ những tấm vải vụn có màu sắc và chất liệu khác nhau, trông rất lạ mắt. Nó khá dày và mềm mại, đắp rất ấm khi trời trở sang đông.

Mùa hè năm 1981, tôi và bạn mang theo hai cái mền đó đi học khóa “Cán bộ đoàn Trường học” do Tỉnh Đoàn tổ chức ở Long Xuyên. Các bạn cán bộ đoàn trường học có mặt trong khóa học thấy hai cái mền của chúng tôi, ai cũng há hốc, ngạc nhiên.

“Trường ta đó nóc tung bay khi gió lộng.

Bụi mịt mù khi cơn lốc xoáy ngang.

Rét căm căm khi mỗi độ đông về.

Nắng rát bỏng khi trưa hè đổ xuống...”

Đó là mấy câu thơ nói về trường chúng tôi của một giáo viên rất trẻ đến từ Nghệ An.

Một “cơn lốc” đầu đông năm Tân Dậu 1981, đã cuốn mất cái mền của tôi đang phơi phía sau khu nhà ở tập thể. Mấy tháng sau, tôi biết được nó không mất mà nó nằm ở dưới đáy ao cá tra của trường.

Mùa đông năm Tân Dậu ấy rất lạnh, y như lời thầy: “Rét căm căm khi mỗi độ đông về.” Tôi không có mền, quần áo bấy nhiêu mặc vào hết nhưng vẫn lạnh run, nhất là bàn chân, bàn tay. Mấy đêm liền không ngủ được. Bạn nhiều lần gọi tôi đến đắp chung mền cùng bạn. Tôi ngại. Một hôm, trời lạnh hơn, mọi người đã vào giấc ngủ, bạn trùm mền đến chỗ tôi. Bạn choàng mền qua người tôi rồi nằm xuống. Từ tối hôm đó, tôi trải qua một mùa đông thật ấm áp cả thể xác lẫn tâm hồn.

Ba mươi năm sau.

Trong thời gian bạn học tập ở Học viện Hành chính Quốc gia - số 10 đường 3/2 thành phố Hồ Chí Minh - chúng tôi được tin thầy chủ nhiệm định cư ở Canada về nước và đang ở gần học viện. Chúng tôi hẹn cùng đến thăm thầy. Tôi đến đón bạn tại nơi bạn lưu trú sớm hơn, lên thẳng phòng nghỉ của bạn. Tôi sững sờ khi thấy ở đầu giường, cạnh bên cái mền trắng muốt là cái mền cũ kỹ nhiều màu năm xưa.

Tôi không dằn được xúc động, tiến đến sờ tay lên cái mền. Cái mền vẫn mềm mại, vẫn ấp áp như thuở nào. Tự dưng, những giọt nước mắt của cái đêm bạn choàng mền lên người tôi rồi nằm cạnh, một lần nữa chảy dài.

Bạn cũng rất xúc động. Hồi lâu, bạn từ tốn:

- Tôi không ngờ Tân còn nhận ra cái mền này và xúc động như vậy.

- Nó đã gợi lại biết bao kỷ niệm, biết bao tình nghĩa, biết bao yêu thương hồi đó mà.

- À. Cũng đúng vậy.

- Ba mươi năm qua, bạn luôn mang theo bên mình khi xa nhà thế này à?

- Đối với tôi nó là bảo vật, tôi phải bảo quản cho nó còn nguyên vẹn đến cuối đời. Cho nên, tôi chỉ mang nó theo khi đi học thôi. Nó đã theo tôi ra nước ngoài một lần rồi đó.

- Bạn có thể cho tôi biết tại sao bạn làm như vậy không?

- Vì trên cái mền này có mồ hôi của ba tôi khi nhặt những tấm vải vụn mà một xưởng may đã bỏ đi và máu của mẹ tôi khi kim khâu lỡ mũi. Nó còn là tình là nghĩa của anh em, bạn bè khi tôi còn thơ dại, nghèo khó. Tôi luôn mang nó theo mỗi khi đi học để nhắc nhở mình là ai và học để làm gì...

Với tôi, bạn chỉ giải thích như thế là đủ rồi. Tôi hiểu bạn học để làm gì và làm gì cho ai. Tôi không có đủ dữ liệu để kể những gì bạn đã làm cho quê hương, cho người dân An Giang với những trọng trách được giao phó. Chỉ những việc bạn đã làm cho trường, cho thầy cô, cho bạn bè bấy lâu nay tôi được biết, cũng đủ làm cho tôi tin tưởng, quý mến và nể trọng bạn rồi. Đời này, tôi thật may mắn được làm bằng hữu với người có chí, có tài, có tâm... như bạn.

Những việc làm tình nghĩa của bạn học thời bao cấp chúng tôi không dừng lại khi không còn chung trường, chung lớp, nó luôn tiếp diễn. Mặc dù trường không còn, chúng tôi mỗi đứa một nơi, mỗi người một hoàn cảnh, vẫn luôn tìm nhau gắn kết yêu thương, chia vui sẻ buồn, hỗ trợ giúp đỡ nhau kịp thời, hiệu quả.

Những năm gần đây, từ sự khởi xướng và chủ trì của bạn có cái mền vải vụn vừa kể trên, chúng tôi đã cùng nhau về Cần Đăng làm những việc rất ý nghĩa, tạo được hiệu ứng xã hội tích cực. Chúng tôi xây dựng được Phòng truyền thống ngay trên mảnh đất của trường năm xưa. Chúng tôi mời và đón được tất cả thầy cô về thăm và làm lễ chúc thọ. Chúng tôi đã tổ chức được quỹ học bổng “Học sinh nghèo đậu đại học”, hỗ trợ cơ sở vật chất cho trường sở tại, hầu mong đền đáp ơn nghĩa bà con xứ Cần Đăng đã cưu mang chúng tôi.

Cảm ơn một thời bao cấp đã qua, nhờ chính sách bao cấp của nhà nước mà tôi có được chén cơm, tấm áo để tiếp tục đến trường. Cảm ơn Trường Vừa học vừa làm Cần Đăng đã cho tôi môi trường thật tốt để học tập và rèn luyện. Cảm ơn thầy cô đã tận tâm tận lực, đem tấm lòng người cha, người mẹ dạy bảo, chở che. Cảm ơn những người bạn hiền lành, giỏi giang, trách nhiệm, vị tha, nghĩa tình đã xem nhau như ruột rà, luôn san sẻ, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau. Cảm ơn tất cả đã cho tôi kiến thức, lẽ sống, tình thương... giúp tôi vững bước vào đời, xây dựng cuộc sống ngày một tốt hơn.

Chuẩn hóa hình thức, nghi thức hát Quốc ca, bảo đảm tính trang nghiêm, chính xác

Chuẩn hóa hình thức, nghi thức hát Quốc ca, bảo đảm tính trang nghiêm, chính xác

Baovannghe.vn - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang dự thảo Nghị định quy định về việc sử dụng Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm chuẩn hóa các trường hợp, hình thức thể hiện, nghi thức hát Quốc ca và việc sử dụng Quốc thiều; bảo đảm tính trang nghiêm, chính xác, thống nhất trong tổ chức thực hiện.
Nghị quyết phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8 năm 2026

Nghị quyết phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8 năm 2026

Baovannghe.vn - Chính phủ ban hành Nghị quyết số 247/NQ-CP phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8 năm 2026.
Kẻ lạ trong rừng cây. Truyện ngắn của Tamikio L. Dooley

Kẻ lạ trong rừng cây. Truyện ngắn của Tamikio L. Dooley

Baovannghe.vn - Tommy Henderson và Jermaine Galloway rời khỏi căn hộ sinh viên Sigma Gamma Tau. Chiếc BMW đen bóng của Tommy lao vun vút trên đường Russell Drive.
Nghĩ về thơ - Thơ Huy Trụ

Nghĩ về thơ - Thơ Huy Trụ

Baovannghe.vn- Chỉ còn thương nhớ cho nhau/ Anh không tiền bạc sang giàu như ai
Thông cáo báo chí số 14, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội Khóa XVI

Thông cáo báo chí số 14, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội Khóa XVI

Baovannghe.vn - Thứ Sáu, ngày 21/8/2026, ngày làm việc thứ mười bốn, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI diễn ra tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.