![]() |
| Ông Thạch Dil - Phó Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Samaki (Vĩnh Châu, Sóc Trăng) trên cánh đồng hành đang vào mùa thu hoạch. Ảnh: Báo Lao động |
Những luống hành thẳng tắp, lá xanh dựng đứng, gốc phình ra lấp ló màu tím non. Trên ruộng, bóng bà con Khmer lom khom, chậm rãi, nhẫn nại như chính nhịp sống nơi đây.
Buổi sáng ở Vĩnh Châu bắt đầu bằng một thứ gió không nơi nào có được. Gió từ biển thổi sâu vào đất liền, mang theo lao xao của sóng, mùi mặn của cát ẩm và một thứ hăng hắc rất riêng - mùi hành tím. Tôi đứng trước trụ sở phường, còn chưa kịp làm quen với cái nắng mỏng đầu ngày thì chị Kim Thị Anh đã mỉm cười, kéo nhẹ tay tôi:
- Đi sớm chút cho mát anh ơi. Ra ruộng giờ này mới thấy hết cái đẹp của hành.
Chiếc xe máy nhỏ len qua những con đường bê tông hẹp, hai bên là phum sóc của đồng bào Khmer, những mái nhà thấp, tường vôi bạc màu nắng gió, thấp thoáng phía xa là ngọn tháp chùa vươn lên nền trời xanh nhạt. Tôi chợt nhận ra: Ở vùng đất này, Phật, biển và ruộng hành như ba trụ cột tinh thần, nâng đỡ cuộc sống con người.
Ra khỏi khu dân cư, cánh đồng hành mở ra trước mắt tôi như một tấm thảm tím khổng lồ. Màu tím không gắt, không sẫm, mà dịu và sâu, phủ lên nền cát mặn một vẻ đẹp vừa mong manh vừa bền bỉ. Những luống hành thẳng tắp, lá xanh dựng đứng, gốc phình ra lấp ló màu tím non. Trên ruộng, bóng bà con Khmer lom khom, chậm rãi, nhẫn nại như chính nhịp sống nơi đây.
Chị Kim Thị Anh nói chậm rãi, như sợ làm động cái yên bình đang trải ra trước mắt:
- Anh biết không, hành tím giờ nổi tiếng vậy chứ hồi xưa dân mình đâu có nghĩ tới chuyện thương hiệu, xuất khẩu gì đâu. Chỉ nghĩ sao trồng được, bán được, đủ gạo ăn qua mùa gió chướng là mừng rồi.
Câu nói ấy kéo tôi lùi về quá khứ của vùng đất này, một quá khứ không chỉ có hành tím, mà còn có muối, có cát, có những mùa đói và những giấc mơ rất nhỏ.
![]() |
| Ông Lý Bồ Rươl ở xã Vĩnh Hải (Vĩnh Châu, Sóc Trăng) cho biết, nhờ sản xuất theo hướng hữu cơ nên cây hành đỏ phát triển rất tốt, năng suất cao gấp nhiều lần so với canh tác truyền thống. Ảnh: Minh họa. Nguồn Báo Lao động |
Trước khi hành tím trở thành “đặc sản quốc gia”, Vĩnh Châu từng là vùng đất mà người ta gọi bằng cái tên rất buồn: đất mặn, đất nghèo. Đất cát pha muối, trồng lúa không được, trồng cây gì cũng khó. Đồng bào Khmer sống rải rác theo phum sóc, dựa vào biển, vào muối, vào vài luống khoai, dưa hấu cầm chừng qua ngày.
Chị Kim Thị Anh kể, giọng pha chút hoài niệm:
- Hồi đó người ta làm muối nhiều lắm. Nhưng muối thì bấp bênh, năm trúng năm thất. Có mấy hộ đem giống hành về trồng thử trên đất cát, ai dè nó lên tốt. Thế là cả xóm làm theo.
Tôi tìm gặp ông Lâm Sa Rên, một lão nông Khmer ngoài bảy mươi tuổi, người được bà con trong sóc gọi là “ông già hành tím”. Ông ngồi trước hiên nhà, chậm rãi vấn lại chiếc khăn rằn đã sờn mép, đôi mắt đục nhưng ánh nhìn còn tinh anh.
- Hồi đó cực lắm chú ơi.
Ông cười, để lộ hàm răng đã rụng quá nửa.
- Trồng hành toàn bằng tay không. Cuốc đất bằng cuốc gỗ, tưới nước bằng thùng vòi, bón phân tro, phân chuồng. Mỗi mùa là một canh bạc với trời.
Ông kể, những vụ hành đầu tiên không có giống tốt như bây giờ. Củ hành để dành từ mùa trước, nhỏ, dễ bệnh, trồng lên thì được mùa ít, mất mùa nhiều. Mưa trái mùa là coi như trắng tay. Có năm, cả sóc phải ăn cháo, khoai lang suốt mấy tháng liền.
- Nhưng mình không bỏ được đất này.
Ông nói giọng chùng xuống.
- Đất mặn vậy chứ nó quen tay mình rồi. Bỏ đi thì biết đi đâu.
Tôi hình dung ra những mùa gió chướng năm nào, cát bay mù mịt, những đứa trẻ Khmer chân trần chạy trên ruộng, tay tím bầm vì lột hành phụ cha mẹ. Đêm xuống, cả nhà quây quần bên ngọn đèn dầu, tiếng lách cách lột hành hòa với tiếng tụng kinh từ ngôi chùa gần đó. Củ hành khi ấy không chỉ là hàng hóa, mà là sự sống, là hy vọng mong manh cho ngày mai.
Bà Thạch Thị Pha, một phụ nữ Khmer ngoài sáu mươi, nhớ lại:
- Hồi trẻ tui lột hành nhiều tới nỗi nước mắt chảy hoài, cay mắt mà vẫn phải làm. Không làm thì lấy gì nuôi con. Củ hành nhỏ vậy mà nuôi được cả nhà đó chú.
Những năm trúng mùa, thương lái từ tận Cà Mau, Sài Gòn tìm về mua hành. Cả sóc rộn ràng như hội. Nhưng cũng có những năm được mùa thì rớt giá, hành chất đầy nhà, không bán được, phải đem phơi khô để ăn dần. Niềm vui và nỗi buồn cứ thế đan xen theo từng vụ hành, theo từng phận người Khmer bám đất mặn. Điều khiến tôi xúc động nhất là cách người Khmer gắn cây hành với đời sống tinh thần của họ. Trong những lễ cúng ở chùa, trong đám giỗ, đám cưới, hành tím luôn hiện diện, khi thì trong nồi cà ri, khi thì trong dĩa xào đơn sơ. Củ hành trở thành một phần của văn hóa ẩm thực, của ký ức cộng đồng.
- Cây hành nó như con mình vậy.
Ông Lâm Sa Rên nói, mắt nhìn xa xăm ra cánh đồng.
- Mình nuôi nó, rồi nó nuôi lại mình.
Tôi đứng giữa ruộng hành, nghe gió biển thổi qua những lá hành mảnh mai, chợt hiểu: Quá khứ của hành tím Vĩnh Châu không phải là một câu chuyện thành công rực rỡ, mà là một hành trình âm thầm, đầy mồ hôi và nước mắt. Một hành trình của những con người Khmer hiền lành, chịu thương chịu khó, không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ bám đất, bám nghề, bám lấy một màu tím bé nhỏ để đi qua những tháng năm khắc nghiệt.
Chị Kim Thị Anh quay sang tôi, khẽ nói:
- Giờ thì khác rồi anh. Hành mình đã đi ra thế giới. Nhưng muốn hiểu hết chuyện hôm nay, phải đi tiếp, gặp thêm nhiều người nữa.
Tôi gật đầu. Trước mắt tôi, cánh đồng hành tím vẫn trải dài, nhưng tôi biết: Câu chuyện của nó mới chỉ bắt đầu.
Nắng lên cao hơn một chút, cánh đồng hành tím bỗng đổi màu. Màu tím non lúc sớm chuyển dần sang tím sậm, ánh lên dưới nắng như một lớp sơn mỏng phủ trên nền cát. Gió biển thổi đều, làm những lá hành mảnh mai rung lên, xào xạc, nghe như tiếng thì thầm của ruộng đồng. Chị Kim Thị Anh dẫn tôi men theo bờ ruộng, dừng lại chỗ một nhóm phụ nữ Khmer đang lột hành. Họ ngồi thành vòng tròn trên tấm bạt xanh, giữa là một đống hành vừa nhổ còn dính cát. Những đôi tay thoăn thoắt, bẻ rễ, lột vỏ, chất hành thành từng đụn nhỏ. Mùi hành bốc lên hăng hắc, xộc thẳng vào mũi, làm mắt tôi cay xè chỉ sau vài phút đứng gần.
Một chị phụ nữ trạc bốn mươi, nước da sạm nắng, ngẩng lên nhìn tôi cười hiền:
- Chú mới đứng chút mà cay mắt vậy đó hả? Tụi tui làm riết quen rồi.
Tôi cười, dụi mắt:
- Quen sao được chị? Mắt cay vậy làm sao chịu nổi.
Chị tên Thạch Thị Sô Phia. Chị kể, mùa nào cũng vậy, lột hành là công đoạn cực nhất. Mỗi ngày ngồi sáu đến tám tiếng, mắt cay, nước mắt chảy ròng ròng, tối về nhức đầu, nhiều bữa không mở mắt ra nổi.
- Có bữa về tới nhà, con gái phải dắt vô giường ngủ. Sáng hôm sau mở mắt không lên, phải nhỏ thuốc hoài.
Chị nói, giọng đều đều như kể chuyện ai khác.
Bên cạnh, một bà lớn tuổi hơn tiếp lời:
- Tui bị viêm giác mạc mấy lần rồi. Bác sĩ nói do làm hành nhiều quá. Nhưng không làm thì lấy tiền đâu mua gạo, mua phân bón.
Những câu nói ấy rơi xuống ruộng hành nghe nhẹ tênh, nhưng trong tôi thì nặng trĩu. Tôi nhìn những đôi mắt đỏ hoe, những vành khăn rằn thấm mồ hôi, những bàn tay tím lại vì nhựa hành, mà thấy cái giá của một củ hành tím không hề rẻ như người ta vẫn tưởng.
Chị Kim Thị Anh đứng cạnh tôi, khẽ thở dài:
- Bệnh mắt là chuyện gần như nhà nào trồng hành cũng gặp. Có người phải nghỉ lột hành, chuyển qua làm việc khác. Nhưng nghề này nó ăn vô máu rồi anh ơi.
Chúng tôi tiếp tục đi sâu vào ruộng. Ở một góc khác, mấy người đàn ông Khmer đang nhổ hành. Họ cắm xuổng xuống cát, bẩy nhẹ từng bụi, kéo lên những chùm hành còn dính rễ. Cát khô bay mù mịt theo mỗi nhát xuổng. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo, chảy thành dòng trên những tấm lưng trần sạm nắng.
Ông Thạch Sa Môn, khoảng năm mươi tuổi, chống cuốc nghỉ tay, đưa tay quệt mồ hôi:
- Năm nay hành được đó chú, nhưng giá thì chưa biết sao. Tới lúc bán mà rớt giá là coi như công cốc.
Tôi hỏi:
- Trồng hành bây giờ có đỡ cực hơn hồi xưa không anh?
Ông cười buồn:
- Đỡ cái này thì nặng cái kia. Hồi xưa ít phân thuốc, giờ phải xài nhiều hơn. Hồi xưa trồng ít, giờ trồng nhiều, cạnh tranh dữ lắm. Nói chung là không có mùa nào yên tâm hết.
Ông kể, chi phí mỗi vụ hành bây giờ đội lên gấp mấy lần: giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tiền thuê nhân công. Chỉ cần một trận mưa trái mùa hay một đợt nắng gắt kéo dài là coi như mất trắng.
- Trồng hành giống như đánh bạc với trời. - Ông nói. - Mà mình thì lúc nào cũng là người thua thiệt nhiều hơn.
Câu nói ấy làm tôi nhớ đến lời ông Lâm Sa Rên lúc sáng: “mỗi mùa là một canh bạc với trời.” Dường như, mấy chục năm trôi qua, cái phận bấp bênh của người trồng hành vẫn chưa thay đổi bao nhiêu.
Chúng tôi ghé vào một căn nhà lợp tôn sát ruộng, nơi cả gia đình đang phơi hành. Trên sân, từng tấm bạt lớn phủ kín những củ hành tím, ánh lên dưới nắng như những viên ngọc thô. Trẻ con chạy quanh, thi thoảng dừng lại nhặt những củ hành rơi ra ngoài, bỏ vào rổ.
Bà Thạch Thị Pha, người tôi đã gặp buổi sáng đang ngồi lựa hành. Thấy tôi, bà cười:
- Chú coi nè, hành đẹp vậy mà không biết bán được bao nhiêu.
Tôi hỏi:
- Giờ thương lái tới mua chưa chị?
Chị lắc đầu:
- Chưa. Người ta chờ thêm mấy bữa coi giá xuống nữa không. Mình cần tiền gấp thì phải bán rẻ. Không bán thì hành hư.
Cái thế kẹt ấy, giữa cần tiền và sợ rớt giá, cứ lặp đi lặp lại qua từng vụ. Người trồng hành lúc nào cũng ở thế yếu, phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái và thị trường.
Chị Kim Thị Anh nói thêm:
- Phường cũng đang tìm cách kết nối doanh nghiệp, lập tổ hợp tác, hợp tác xã cho bà con. Nhưng thay đổi thói quen sản xuất nhỏ lẻ không dễ đâu anh.
Buổi trưa, nắng đứng bóng. Cánh đồng hành như bốc hơi. Tôi ngồi dưới bóng mát hiếm hoi của một tấm bạt dựng tạm, nghe mùi hành quyện với mùi mồ hôi, mùi cát nóng, mùi gió biển. Một cảm giác vừa thân thuộc vừa xót xa len trong lòng.
Một thanh niên Khmer khoảng hai mươi lăm tuổi, tên Danh Sô, ngồi cạnh tôi. Cậu vừa lột hành vừa nói:
- Em học xong lớp mười hai rồi về trồng hành với ba mẹ. Bạn bè đi Đồng Nai, Sài Gòn làm công ty hết. Em cũng tính đi, mà thương ba mẹ quá.
Tôi hỏi:
- Em có muốn theo nghề này lâu dài không?
Cậu im lặng một lúc rồi nói:
- Muốn chứ. Nhưng phải làm sao cho ổn định hơn. Chứ cứ bấp bênh hoài, tụi em không dám mơ lớn.
Câu nói ấy như một lát cắt rất thật của hiện tại: Thế hệ trẻ nơi đây đứng giữa hai con đường: ở lại với ruộng hành đầy rủi ro, hay rời quê đi làm thuê. Tôi nhìn cánh đồng hành tím trải dài trước mắt, nghe tiếng gió biển thổi đều, chợt thấy hiện tại hành tím Vĩnh Châu không chỉ có màu tím đẹp đẽ, mà còn có rất nhiều gam xám của lo toan.
Chị Kim Thị Anh khẽ nói, như tự nhủ:
- Muốn giữ được màu tím này, chắc phải thay đổi nhiều lắm anh ơi.
Tôi gật đầu. Tôi biết, câu chuyện chưa dừng lại ở đây. Bởi phía trước còn có một cánh cửa khác đang mở ra, cánh cửa của khoa học, của VietGAP, của xuất khẩu và thương hiệu.
Buổi chiều, nắng dịu xuống. Gió biển mát hơn, mang theo vị mặn lẫn mùi hành khô. Chị Kim Thị Anh nói với tôi:
- Giờ anh gặp thêm mấy hộ trồng theo VietGAP nữa là sẽ thấy hành mình đang đổi khác ra sao.
Chúng tôi ghé vào một khu ruộng được rào lưới thấp xung quanh. Trên bờ ruộng, một tấm bảng nhỏ cắm nghiêng, ghi rõ: Mô hình trồng hành tím theo tiêu chuẩn VietGAP. Nhìn tấm bảng ấy giữa cánh đồng cát mặn, tôi chợt có cảm giác như đang thấy một mầm non của tương lai.
Chủ ruộng là anh Danh Phươl, ngoài năm mươi, dáng người gầy nhưng nhanh nhẹn. Anh đưa cho tôi cuốn sổ tay đã nhàu:
- Trồng VietGAP là phải ghi chép hết đó chú. Ngày nào bón phân, ngày nào xịt thuốc, xài loại gì, liều lượng bao nhiêu, đều phải ghi.
Tôi lật giở từng trang sổ, thấy những dòng chữ nắn nót như học trò. Một việc tưởng nhỏ, nhưng với người nông dân quen làm theo kinh nghiệm, đây là cả một cuộc cách mạng trong tư duy sản xuất.
- Lúc đầu cực lắm. Anh Danh Phươl cười:
- Ghi hoài quên hoài, xịt thuốc cũng phải coi lịch, coi sâu bệnh. Nhưng làm riết rồi quen. Hành ít bệnh hơn, đất cũng đỡ bạc màu.
Tôi hỏi:
- Trồng vậy có lời hơn không anh?
Anh ngẫm nghĩ một chút:
- Lời thì chưa thấy nhưng bán dễ hơn. Có doanh nghiệp vô đặt vấn đề mua trước, giá ổn định hơn chút. Quan trọng là mình không sợ bị trả hàng vì dư thuốc.
Câu nói “bán dễ hơn” nghe qua tưởng nhẹ, nhưng với người trồng hành, đó gần như là một giấc mơ: không còn cảnh thấp thỏm chờ thương lái, không còn nỗi lo bị ép giá phút chót.
Ở một ruộng khác, tôi gặp kỹ sư Trần Minh Hòa - cán bộ Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ đang hướng dẫn nông dân pha chế dung dịch sinh học phòng trừ sâu bệnh. Anh Hòa cúi xuống bốc một nắm cát, vò nhẹ trong tay:
- Đất ở đây cát nhiều, mặn cao. Trồng hành mà không cải tạo đất thì vài vụ là kiệt quệ. Bây giờ tụi tôi hướng dẫn bà con dùng phân hữu cơ, vi sinh, luân canh cây trồng để đất phục hồi lại.
Tôi hỏi:
- Bệnh mắt do lột hành có cách nào giảm không anh?
Anh Hòa gật đầu:
- Có. Một là khuyến khích bà con dùng kính bảo hộ, găng tay. Hai là nghiên cứu giống hành ít tinh dầu hơn. Chúng tôi đang thử nghiệm mấy giống mới, hy vọng vài năm nữa sẽ đỡ cho bà con.
Những câu nói ấy khiến tôi thấy rõ hơn: Khoa học không phải là thứ gì xa vời, mà đang len từng bước chậm chạp vào từng thửa ruộng, từng đôi tay lột hành cay xè.
Chị Kim Thị Anh nói thêm:
- Phường cũng đang phối hợp với ngành nông nghiệp mở lớp tập huấn cho bà con Khmer, có phiên dịch tiếng Khmer luôn. Không có người hướng dẫn tận tay thì bà con khó làm theo lắm.
Tôi chợt nhận ra, phía sau mỗi ruộng hành VietGAP không chỉ có nỗ lực của người nông dân, mà còn có cả một mạng lưới âm thầm của cán bộ kỹ thuật, chính quyền địa phương và những người làm công tác văn hóa - xã hội như chị Kim Thị Anh.
Cuối buổi chiều, chúng tôi ghé trụ sở phường. Trong phòng làm việc nhỏ, bản đồ quy hoạch vùng trồng hành tím treo kín một bức tường. Ông Nguyễn Minh Chí - Phó Chủ tịch phường, rót trà mời tôi nói:
- Hành tím là cây trồng chủ lực của Vĩnh Châu. Không có nó, đời sống bà con khó lắm. Nên địa phương xác định phải làm cho bài bản, không thể để mạnh ai nấy làm hoài.
Ông cho biết, những năm gần đây, kể cả lúc chưa sáp nhập xã, phường, Vĩnh Châu cũng đã thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã hành tím, hỗ trợ bà con vay vốn ưu đãi, kết nối doanh nghiệp thu mua, xúc tiến thương mại, đưa hành tím tham gia hội chợ trong và ngoài nước.
- Quan trọng nhất là xây dựng thương hiệu và bảo hộ chỉ dẫn địa lý. - ông Chí nhấn mạnh. - Hành tím Vĩnh Châu đã được cấp chỉ dẫn địa lý rồi, nhưng mình còn phải làm mạnh hơn nữa để chống hàng giả, hàng nhái.
Tôi hỏi:
- Xuất khẩu bây giờ ra sao thưa anh?
Ông Tài trả lời:
- Hành tím mình đã xuất sang Thái Lan, Indonesia, Malaysia… Số lượng chưa lớn, nhưng là tín hiệu tốt. Vấn đề là phải ổn định chất lượng, đồng đều mẫu mã, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
Những con số ông nói ra không nhiều, nhưng trong giọng nói có một thứ ánh sáng lạc quan thận trọng - thứ ánh sáng của người hiểu rất rõ con đường phía trước còn dài và gập ghềnh.
Trên đường ra về, chị Kim Thị Anh chở tôi ngang qua một kho thu mua hành. Trước cửa, từng bao hành tím chất cao như những bức tường nhỏ. Công nhân đang cân hành, dán nhãn, đóng thùng.
- Từ ngày có kho này, bà con đỡ bị ép giá hơn chút. - Chị nói. - Nhưng vẫn chưa đủ. Còn thiếu kho lạnh, thiếu nhà máy chế biến sâu.
Tôi bước xuống, sờ tay lên một bao hành, thấy lạnh lạnh vì vừa được phun nước giữ ẩm. Trên bao có in dòng chữ: Hành tím Vĩnh Châu. Một dòng chữ giản dị, nhưng chứa trong đó cả một hành trình dài của mồ hôi, nước mắt và hy vọng.
Một công nhân trẻ nhìn tôi, cười:
- Mai mốt hành mình đi châu Âu chắc chú?
Tôi cười theo, nhưng trong lòng chợt dấy lên một câu hỏi nghiêm túc: Bao giờ thì giấc mơ ấy thành sự thật?
Chiều xuống, hoàng hôn nhuộm tím cả cánh đồng. Tôi đứng bên bờ ruộng, nhìn những luống hành im lìm trong gió, chợt thấy hiện tại của hành tím Vĩnh Châu đang đứng giữa hai bờ: Một bên là lối sản xuất cũ đầy rủi ro, một bên là con đường mới của khoa học, thị trường và thương hiệu.
Chị Kim Thị Anh khẽ nói:
- Bà con mình chịu cực quen rồi. Chỉ mong có đường đi rõ ràng hơn để tụi nhỏ còn dám ở lại quê.
Tôi không đáp. Trong đầu tôi lúc ấy, câu chuyện của hành tím đã không còn là câu chuyện của một loại nông sản nữa, mà là câu chuyện của một cộng đồng đang loay hoay tìm chỗ đứng trong thế giới hiện đại. Tôi biết, vẫn còn rất lo lắng cho tương lai. Nơi đó có ước mơ của người trẻ, có cam kết của chính quyền, có những giống hành mới, những kho lạnh mới và cả nỗi lo biến đổi khí hậu đang lặng lẽ gõ cửa vùng đất mặn này.
Sáng hôm sau, tôi trở lại cánh đồng hành một lần nữa, lần này không còn vội vã như ngày đầu. Mặt trời vừa nhú lên khỏi rặng dừa nước, sương mỏng còn đọng trên lá hành, lấp lánh như những giọt thủy tinh nhỏ. Màu tím của hành trong buổi sớm dịu hơn, trầm hơn, như đã lắng lại sau một ngày dài đầy câu chuyện.
Chị Kim Thị Anh đi bên cạnh tôi, chậm rãi:
- Hôm qua anh thấy hết nỗi cực của bà con rồi đó. Nhưng nếu chỉ có cực thôi thì bà con mình bỏ nghề hết lâu rồi.
Tôi hiểu ý chị. Phía sau cái hiện tại đầy mồ hôi, nước mắt và bấp bênh kia, vẫn còn một thứ níu giữ người ta ở lại: hy vọng.
Chúng tôi ghé lại ruộng của Danh Sô, chàng thanh niên mà tôi gặp hôm trước. Cậu đang cùng ba mình kiểm tra từng luống hành non mới xuống giống. Hai cha con nói chuyện bằng giọng nhỏ và chậm, nghe như một thứ thì thầm thân thuộc của đất.
Danh Sô quay sang tôi, cười:
- Hôm qua em suy nghĩ hoài lời anh hỏi. Em muốn ở lại trồng hành, nhưng em muốn làm kiểu mới. Không muốn cứ thấp thỏm hoài như ba mẹ.
Tôi hỏi:
- Kiểu mới là sao em?
Cậu nói, ánh mắt sáng lên:
- Là vô hợp tác xã, trồng theo VietGAP, ký hợp đồng bán trước với doanh nghiệp. Em còn muốn học thêm mấy lớp về thương mại điện tử, bán hành khô, hành bột trên mạng.
Một ước mơ rất “thời nay”, nhưng lại được ươm mầm từ chính cánh đồng cát mặn này. Tôi nhìn người cha đứng bên cạnh, ông Thạch Sa Môn. Ông không nói gì, chỉ khẽ gật đầu. Trong cái gật đầu ấy, tôi thấy cả sự lo lắng lẫn một niềm tin thầm lặng dành cho thế hệ sau.
- Miễn nó còn ở lại với ruộng này là tui mừng rồi. - Ông nói nhỏ. - Còn làm sao cho đỡ khổ hơn tụi tui hồi xưa thì… trời cho tới đâu hay tới đó.
Ở trụ sở hợp tác xã hành tím, tôi gặp lại kỹ sư Trần Minh Hòa. Anh đang bàn với mấy nông dân Khmer về kế hoạch thử nghiệm giống hành mới trong vụ tới.
- Giống này tinh dầu ít hơn, cay nhẹ hơn, giảm ảnh hưởng tới mắt khi lột vỏ. - Anh giải thích. - Quan trọng là nó chịu mặn tốt, ít sâu bệnh.
Một bác nông dân hỏi:
- Giống mới vậy có bán được giá cao hơn không kỹ sư?
Anh Hòa cười:
- Nếu chất lượng đồng đều, sạch bệnh, truy xuất nguồn gốc rõ ràng thì chắc chắn bán dễ hơn. Giá có thể không tăng nhiều, nhưng đầu ra ổn định hơn.
Tôi đứng nghe, chợt thấy rõ một tương lai đang được vẽ ra không bằng những khẩu hiệu lớn lao, mà bằng những câu nói rất thực tế: Ít cay hơn cho đôi mắt người lột hành, ít rủi ro hơn cho người trồng hành, ít bấp bênh hơn cho cả một vùng đất.
Buổi trưa, tôi có dịp trò chuyện lại với ông Nguyễn Minh Chí - Phó Chủ tịch phường. Lần này, ông nói nhiều hơn về tương lai:
- Phường đang đề xuất xây dựng kho lạnh bảo quản hành, nhà máy sơ chế - chế biến sâu. Không thể cứ bán hành tươi hoài được. Phải có hành sấy, hành bột, hành phi đóng gói thì giá trị mới cao.
Tôi hỏi:
- Còn chuyện biến đổi khí hậu thì sao thưa anh? Đất mặn, nước biển dâng, thời tiết thất thường…
Ông trầm ngâm:
- Đó là thách thức lớn nhất. Nên địa phương phải quy hoạch lại vùng trồng, chuyển dần sang mô hình tiết kiệm nước, trồng giống chịu mặn tốt hơn. Không làm từ bây giờ thì vài chục năm nữa khó giữ được nghề này.
Những câu nói ấy không mang màu hồng. Nó thẳng thắn, thực tế và vì thế mà đáng tin.
Trên đường rời Vĩnh Châu, tôi ngoái nhìn lần cuối cánh đồng hành tím đang lùi dần sau lưng. Gió biển vẫn thổi, cát vẫn bay, đất vẫn mặn như ngàn đời nay. Nhưng giữa cái khắc nghiệt ấy, màu tím vẫn ở lại, bền bỉ, lặng lẽ, không phô trương. Tôi nghĩ về những đôi mắt cay xè vì lột hành, những bàn tay tím vì nhựa hành, những ước mơ nhỏ nhoi của Danh Sô, những trang sổ VietGAP được ghi chép nắn nót của ông Danh Phươl, những toan tính đầy trách nhiệm của chính quyền địa phương, và cả tiếng chuông chùa ngân dài trong gió biển.
Nếu một ngày nào đó, hành tím Vĩnh Châu có mặt ở khắp thế giới, tôi tin trong vị cay nồng ấy, người ta sẽ nếm được không chỉ mùi đất mặn và gió biển, mà còn cả mồ hôi, nước mắt và lòng nhẫn nại của những người nông dân trên quê hương Vĩnh Châu chưa từng bỏ cuộc.
Màu tím ấy, suy cho cùng, không chỉ là màu của một loại nông sản. Nó là màu của phận người bám đất, là màu của ký ức, là màu của hy vọng. Và tôi tin, nó sẽ còn ở lại rất lâu trên vùng đất mặn này.