Hành trình ấy đặt ra yêu cầu mới: Nâng chất lượng sản phẩm, linh hoạt trong cách kể và đáp ứng thị hiếu từng nhóm công chúng, để những giá trị truyền thống có thể vươn xa mà vẫn giữ được bản sắc Việt.
Từ thủy đình làng quê, những con rối Việt đã đi qua hành trình dài để hiện diện tại hơn 70 quốc gia, vùng lãnh thổ. Tại Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc..., rối Việt nhiều lần trở lại, dần trở thành những “vị khách quen” trên sân khấu quốc tế. Riêng năm 2025, Nhà hát Múa rối Việt Nam thực hiện hơn 650 buổi biểu diễn phục vụ công tác đối ngoại, góp mặt tại EXPO ở Nhật Bản, Lễ hội Văn hóa Việt Nam tại Liên bang Nga, chương trình giới thiệu du lịch Việt Nam tại Hoa Kỳ...
Sức hấp dẫn của rối nước trước hết nằm ở tính “độc bản”, khán giả quốc tế có thể thưởng thức rối dây, rối bóng hay nhiều hình thức rối khác ở các nền văn hóa khác, nhưng nghệ thuật điều khiển những con rối trên mặt nước với sân khấu thủy đình lại gắn chặt với nền văn hóa Việt Nam. Hình thành khoảng thế kỷ XI từ đời sống cư dân nông nghiệp, rối nước mang theo hơi thở của nền văn minh lúa nước: cánh đồng, con trâu, cảnh cày cấy, bắt cá, lễ hội, rồng phượng... Từ những trò diễn dân gian giữa không gian làng quê, người Việt đã bồi đắp thành một loại hình nghệ thuật đặc sắc, lưu giữ trong đó ký ức và tâm hồn cộng đồng. Bước ra thế giới, rối nước mang theo cả miền quê Việt trên mặt nước. Những chuyển động của con rối, tiếng trống, tiếng sáo, âm nhạc dân tộc cùng đôi tay tài hoa của nghệ sĩ tạo nên thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh, dễ dàng vượt qua khoảng cách địa lý và khác biệt ngôn ngữ. Khán giả quốc tế có thể chưa hiểu hết câu chuyện, song vẫn cảm nhận được vẻ đẹp của một nền văn hóa gắn bó với đất, nước, thiên nhiên và cộng đồng.
NsƯt Chu Lượng (nguyên Phó Giám đốc Nhà hát Múa rối Thăng Long) cho rằng, từ một trò diễn dân gian giản dị, rối nước dần được bồi đắp bằng câu chuyện, cảm xúc và sáng tạo của người Việt, trở thành loại hình nghệ thuật giàu giá trị thẩm mỹ, phản ánh sinh động đời sống. Sinh ra từ nền văn minh lúa nước, rối nước lưu giữ cả một “kho ký ức” về làng quê Việt qua cảnh cày cấy, chăn trâu, bắt cá, lễ hội, rồng phượng cùng những đạo cụ thân thuộc như chum vại, thúng mủng… Qua đó, nghệ thuật truyền tải tinh thần lạc quan, tình cảm cộng đồng và lối sống hài hòa với thiên nhiên. Chính vốn văn hóa ấy tạo nên sức hấp dẫn riêng, giúp rối nước trở thành “đại sứ” văn hóa, đưa hình ảnh Việt Nam đến với thế giới bằng ngôn ngữ của hình thể, âm nhạc và những “đôi tay biết nói” của nghệ sĩ.
Còn theo NSND Nguyễn Tiến Dũng (Giám đốc Nhà hát Múa rối Việt Nam), năm 1984 là dấu mốc mở đầu hành trình Nhà hát Múa rối Việt Nam đem chương trình rối nước với thủy đình hoàn chỉnh cùng những trò rối cổ lần đầu tiên xuất ngoại biểu diễn tại Tây Âu (Pháp, Italy, Hà Lan) và gây tiếng vang lớn. Từ chuyến đi ấy, rối nước từng bước khẳng định vị thế, trở thành dấu ấn riêng của nghệ thuật múa rối Việt Nam trên sân khấu quốc tế. Hành trình ấy ngày càng được mở rộng khi các nghệ sĩ đưa cả rối cạn đến với những sự kiện, liên hoan nghệ thuật quốc tế. Qua các chuyến lưu diễn và giao lưu, một diện mạo rối Việt phong phú, đa dạng dần được nhận diện rõ hơn. NSND Nguyễn Tiến Dũng nhấn mạnh, bạn bè quốc tế đánh giá Việt Nam thuộc số ít quốc gia sở hữu nghệ thuật múa rối phát triển với nhiều loại hình, đặc biệt ấn tượng trước lực lượng nghệ sĩ trẻ. Trong khi nghệ thuật truyền thống ở nhiều quốc gia thường gắn với thế hệ lớn tuổi, sự hiện diện của những nghệ sĩ trẻ Việt Nam cho thấy sức sống và khả năng tiếp nối của một di sản lâu đời.
![]() |
| Qua những “đôi tay biết nói” của các nghệ sĩ rối, du khách được hòa vào dòng chảy của văn hóa Việt. |
Để rối Việt đi xa, giữ bản sắc là điều kiện cần, song chất lượng và khả năng thích ứng của sản phẩm mới quyết định sức sống trên sân khấu quốc tế. Mỗi không gian biểu diễn, mỗi nhóm công chúng lại có “ngôn ngữ” thưởng thức riêng. Vì thế, từ những tích trò quen thuộc, các nghệ sĩ Việt phải chủ động làm mới cách kể, kết cấu, âm nhạc và nhịp điệu sân khấu, tạo nên những chương trình vừa đậm chất Việt, vừa có khả năng kết nối với khán giả nhiều nền văn hóa.
Thực tế lưu diễn của Nhà hát Múa rối Việt Nam cho thấy, một chương trình mang từ Việt Nam ra nước ngoài khó có thể giữ nguyên cách biểu diễn như trên sân khấu trong nước. Theo NSND Nguyễn Tiến Dũng, các nghệ sĩ phải quan sát, lắng nghe và điều chỉnh ngay trong quá trình chuẩn bị diễn. Với những khán giả ưa sự tinh tế, tiết tấu được tiết chế, chú trọng chiều sâu của âm nhạc và hình ảnh; ở những sân khấu đường phố hay các chương trình có không khí sôi động, tiết mục được đẩy nhanh nhịp độ, tăng tính trực quan và năng lượng để tạo sự cuốn hút từ những phút đầu. Cách kể có thể thay đổi theo công chúng, nhưng “căn cước” của câu chuyện vẫn phải được giữ nguyên.
Từ yêu cầu ấy, nhiều thử nghiệm cũng được đặt ra trong quá trình nâng chất lượng sản phẩm. Bên cạnh làm mới các tích trò cổ, Nhà hát nghiên cứu kỹ thuật điều khiển, kết hợp rối nước với rối cạn, thử nghiệm “bung mành”, đưa nghệ sĩ từ phía sau sân khấu ra trước mắt khán giả. Khi ấy, phía sau những chuyển động tưởng như nhẹ nhàng của con rối là sự phối hợp nhịp nhàng của các nghệ sĩ cùng kỹ thuật biểu diễn được rèn luyện công phu. Âm nhạc cũng được làm mới trên nền tảng truyền thống. Những chất liệu như đàn tranh, sáo, nhị, bầu tiếp tục tạo nên màu sắc Việt, đồng thời có thể được phối khí đương đại, kết hợp với âm nhạc phương Tây để tạo tiết tấu phù hợp hơn với công chúng hôm nay. Lợi thế của rối nằm ở ngôn ngữ hình thể, hình ảnh và âm nhạc; ít phụ thuộc vào lời thoại, sân khấu rối có khả năng vượt qua rào cản ngôn ngữ để chạm tới cảm xúc của khán giả.
Theo NSND Nguyễn Tiến Dũng, mục tiêu cuối cùng của những đổi mới ấy là tìm được điểm cân bằng giữa truyền thống và hiện đại: Làm mới để khán giả dễ tiếp cận hơn, nhưng khi màn diễn khép lại, họ vẫn nhận ra là “rối nước của Việt Nam”. Với người Việt xa quê, khi thưởng thức múa rối còn là khoảnh khắc tìm thấy hình bóng quê hương trong một sân khấu nơi xứ người. Với công chúng quốc tế, đó là cơ hội tiếp cận Việt Nam qua một thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh, âm nhạc và cảm xúc.
![]() |
| Chất liệu âm nhạc dân tộc và các nhạc cụ truyền thống được làm mới mang nét độc đáo và thú vị trong từng phân cảnh rối. |