“Thấy mưa trong một câu mời/ Rớm phương mắt cũ bên trời thủy tinh” (Thấy mình trong ấy). Tôi ngạc nhiên với những câu thơ lục bát được viết mới lạ hẳn. Cho dù, Kiên đã từng nhận rằng: “Thơ tôi mang hộ khẩu làng/ Từng trang đồng ruộng thênh thang chuyện mùa” (Thơ tôi). Nhưng rồi thơ Kiên càng đột biến với từ ngữ tạo một giọng điệu riêng biệt.
|
Cuộc đời Kiên có sự phá cách khi bỏ nghề làm ruộng dấn thân vào con đường thi ca chuyên nghiệp. Kiên khoác “ba lô thơ lục bát” trên lưng ngạo nghễ ra Hà Nội cất lên tiếng ca của mình. Một chú sơn ca lạ trên đất khách quê người. Tôi đã từng được nghe Kiên cất tiếng hát trong ngôi nhà trọ nơi góc phố. Đó là một làn điệu hát Văn nơi quê anh ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình). Tôi yên lặng lắng nghe từng lời hát trong trẻo: “Ta từ rơm rạ hóa thân/ Vịn trong bóng chữ đường gần ngõ xa/ Dưới vầng trăng thuở ông cha/ Nâu sồi đất ngổn ngang qua đận này” (Trước vầng trăng cũ). Tiếng đàn nguyệt cứ réo rắt thở than. Thì ra người ta nói hồi còn ở quê Kiên có biệt tài làm MC đám cưới rồi còn tham gia đàn hát là có thật. Phải nói khi tuổi đã lom đom tứ tuần, Kiên bứt khỏi lũy tre và sông quê để tự bước những đoạn đời giang hồ quả là sự điên rồ. Anh cắp sách đi học trường văn, rồi tốt nghiệp đại học kinh tế và thành lập Công ty Đất Việt (truyền thông và xuất bản sách) tại Hà Nội. Kiên đánh đổi sứ mệnh để đi tìm ánh sáng cuộc đời mới: “Đêm say trong một kiếp tình/ Cốc nhân gian. Rót lại bình minh ta” (Đêm chuyện cõi ta). Không ngờ từ phố, lục bát của Kiên luôn đau đáu với con đê, giếng làng, gốc rạ, đống rơm, cùng cha mẹ, vợ con. Càng đi xa, Kiên càng thấy nhớ quê và đồng lúa xanh tươi. Tâm hồn thơ day dứt, trăn trở khi tốc độ đô thị hóa làng quê: “Bao lần trở lại quê nhà/ Chiều hun hút chả biết là về đâu/ Giếng làng trong ký ức nhàu/ Vọng lời làng kể đâu đâu những mùa…” (Vọng làng). Hay đây đó, lời than thầm thì từ nhịp đập con tim: “Nhà cao kín mắt đêm lành/ Hồn vía bãi đá đã thành mây xa” (Vọng làng).
Có lẽ “nguồn quê” đã biến Kiên trở thành một thi sĩ đích thực với những nỗi buồn tha hương: “Lòng mùa cũ cỏ thơm đê/ Rơm vàng vẫn thả nắng quê lên trời/ Phố người mắt lá đông phơi/ Ứa nguyên cuộng gió đầm nơi thị thành” (Gặp mùa cũ). Có lẽ thế, thơ Kiên không chỉ còn là một thứ lục bát thuần túy mà mỗi ngày một đậm yếu tố tượng trưng và có đôi phần siêu thực. Những biểu tượng như cuộng gió, vía lá, mắt nến, nụ gió… lần lượt xuất hiện, tạo nên sự hấp dẫn trong câu thơ cho dù không rõ nghĩa cụ thể. Kiên không chỉ miêu tả, so sánh, hay ẩn dụ dễ dàng qua trực cảm; mà gây sự bất ngờ với những phát hiện bằng trực giác tâm linh. Do vậy, thơ của Kiên có nhiều câu lôi kéo người đọc cùng suy ngẫm cùng sáng tạo thành thơ. Bạn đọc ắt hẳn rất hào hứng khi đọc những câu như: “Nghe tơ rút ánh trăng vàng/ Miền thơm thảo ấy vẫn đang vào mùa” (Gặp lại rạ rơm). Hoặc trong bài Ngưỡng xẩm, nhà thơ tạo sức lôi cuốn bởi những góc nhìn đầy phát hiện: “Này là căng sức đôi mươi/ Gió thơm mọng cả chỗ ngồi ngàn năm/ Mịn vuông cỏ mật bén rằm/ Đồng xanh lắng cả gió trăng hẹn người”. Hoặc có khi, thơ Kiên còn dựng hình ảnh cho mùi hương rất tượng trưng trong bài Sương Thị: “Lún một góc chiều hương thị chín/ Phòng vắng thơm về một tiếng rao/ Bần thần tóc lắng về thơ ấu/ Em - lẵng rơm thơm quảy phía nào…”. Chưa dừng, nhà thơ còn hút hồn người đọc sâu hơn nữa, rằng: “Môi thu văn vắt/ Heo may chín/ Trái thị luân chiều tố nữ…/ Sương…”. Rõ ràng, đây là bức tranh siêu thực kỳ thú được quan sát bằng con mắt thơ độc đáo. Thông qua ám thị, đó là nghệ thuật lựa chọn một vật thể hay biểu tượng mơ hồ để rút ra tình cảm. Bởi sự khêu gợi là ước mơ và mục đích của thi pháp thơ tượng trưng. Đó là những con chữ, hình ảnh chọn lọc đắt nhất làm say mê người đọc. Hẳn ai cũng rất thú vị khi Kiên viết về quê hương với sự sáng tạo: “Cúc trăng mở vạt sông trôi/ Phù sa ánh bạc căng đôi bầu mùa” (Về sông mơ). Rất tượng trưng là thế. Đó cũng là thi pháp của Nguyễn Thế Kiên trong vòng hai mươi năm qua, làm mới thơ lục bát của Kiên với những “nhãn tự” tâm linh là vậy.
Thơ lục bát được coi là thể loại thơ cổ truyền của Việt Nam. Đỉnh cao của thơ lục bát được định danh từ Nguyễn Du với tác phẩm Truyện Kiều (đầu thế kỉ XIX). Có thể nói đây là kho tàng nghệ thuật sáng tạo về thể loại thơ này với những “nhãn tự” và nhịp thơ uyển chuyển biến hóa. Nguyễn Thế Kiên đã tiếp thu được nhiều bài học sáng tạo từ tác phẩm kinh điển này. Kiên còn học trong ca dao nhiều ẩn dụ liên tưởng và nhập thần những nét tượng trưng và có đôi phần siêu thực trong văn học dân gian. Có lần tâm sự, Kiên bày tỏ từng ngưỡng mộ thơ Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm… Cả những tác giả hiện đại như Đồng Đức Bốn, Trần Mạnh Hảo… Nhưng cuối cùng, thơ Nguyễn Thế Kiên đã có một danh xưng Kienlucbat của riêng mình, trong suốt hơn ba mươi năm theo đuổi sự nghiệp thi ca. Có dịp, tôi đã nghe Kiên kéo nhị hát xẩm với lời thơ ngỡ như đã cũ cách đây chừng hơn hai mươi năm. Thơ anh đã gai góc trong cảm giác từ đó: “Chiều còn một nhúm trời xanh/ Ta ngồi với gã phỗng sành tỉ tê/ Kéo bao nhiêu nỗi bộn bề/ Nhịp lời im lặng vào tê tái chiều” (Với phỗng sành). Từ đó, liên tiếp những biểu tượng ra đời. Một rừng biểu tượng thông qua những từ ngữ, hình ảnh chọn lọc tràn ngập trong thơ Nguyễn Thế Kiên. Với gần hai mươi tập thơ được in trong ba mươi năm qua, cùng với nhiều giải thưởng lớn toàn quốc và địa phương, thơ Kiên đã ghi dấu ấn với nhiều tâm trạng và thế sự nhân gian.
Sự khám phá của thơ Nguyễn Thế Kiên dần dần được cởi mở sáng tạo theo thời gian. Nếu cách đây chừng hai mươi năm, Kiên đã từng viết: “Mây trắng độn thổ lên trời/ Trốn vào tóc/ Rối cả thời đương say” (Với mưa ngâu). Nhạc điệu thơ Kiên đã có sự biến ảo khác nhịp hai quen thuộc của thể lục bát. Liên tiếp sau đó, Kiên đã có “Đêm say ứa nỗi trăng vàng/ Bung biêng nụ gió ngậm ngang eo mùa” (Nỗi làng). Có lẽ chất tượng trưng qua những biểu tượng đã nhập vào thơ Kiên rất tự nhiên. Dường như Kiên viết bằng lối tự động của trực giác, của linh cảm không cưỡng nổi. Chính vì thế Kiên mới có dấu ấn khó quên với những câu thơ: “Gặp mình trong một xa xưa/ Mây lông ngỗng thả câu thơ nửa chiều” (Mùa thu, bên ấy, bên này). Hoặc câu thơ của Kiên có tính mộng mị như: “Gió thu lạc vía, ta ngồi thiếp xanh” (Có người tháng chín). Và cũng thật là thanh sắc vợi ảo: “Thấy mình trong một cơn mơ/ Một chiều rơi biếc, một hờ hững lam” (Thấy mình trong ấy). Rồi cũng không thể ngỡ rằng với những nét siêu thực: “Môi trời ngậm tuổi đôi mươi/ Căng đôi bầu nắng ngợp lời thơ anh” (Mở chiều trong bóng nguyên xuân). Điểm đáng kể, những câu thơ độc đáo của Kienlucbat hầu hết đều xuất hiện qua những tứ thơ gợi sáng tư tưởng chủ đề mới lạ. Ta có thể kể đến tên những bài thơ hay trong những tập thơ Nguyễn Thế Kiên như: Ngưỡng xẩm, Trong một căn chiều, Từ tuyết trăng, Chiều trầm hương; hay như: Ngúng nguẩy tháng ba, Những cánh đồng im lặng, hoặc những: Vọng làng, Về sông mơ, Selfie bên cổng làng…
Nhà thơ Nguyễn Thế Kiên luôn trăn trở với thơ. Kiên đã vẽ lên khung thơ và cuộc đời của mình rằng: “Mòn đêm mắt chữ mong lời biển xanh” hoặc đâu đó Kiên bày tỏ: “Cửa mùa cài dải trăng nghiêng/ Khóa thời gian giữa hai miền thơ anh”. Chính vì thế hơn ba mươi năm qua, kienlucbat dần khẳng định chân dung “hộ khẩu làng” của mình theo một cách riêng. Tính nghệ sĩ trong thơ Kiên ngày càng lộ rõ qua từng tứ thơ và câu chữ được chọn lọc tinh tế. Bởi lẽ nhà thơ luôn thấy mình “Còn nguyên ngọt mát đêm nay/ Giấc mơ sinh nhú lên đầy ban mai” (Tái sinh mùa hạ). Đó là những giấc mơ tái sinh luôn hiện hữu trong tâm hồn thi ca “Lỡ say làm ướt thu rồi/ Để chiều suông bão cuối trời mưa bay” (Lỡ này…).
Để giải tỏa được những tứ thơ với những nét ảo mộng sương khói, thơ Nguyễn Thế Kiên đã được mã hóa trong hai cõi âm dương trong ngũ hành. Vì thế những khổ cuối hay những câu kết Kiên đã định được hồn âm mang tính tâm linh ám ảnh, như: “Đốt vèo mấy cuộc chiêm bao/ Lửa trong mắt nến mọng vào thẳm xưa” (Thắp chiều soi lại ngày xa…). Người đọc cũng sẵn sàng ngộ cùng với những câu thơ như vậy, mà ta có thể luôn gặp trong thơ Nguyễn Thế Kiên. Đó là sắc màu của phong thủy huyền không mà bạn đọc nhập tâm với bố cục: “Lại vừa đón một cơn giông mùa hạ/ Tháng tư đi xanh vía lá mơ hồ” (Quan trọng). Tôi đồ rằng, những kiến thức kinh dịch khá thành thạo trong sự học của Nguyễn Thế Kiên đã đem lại con mắt thơ mà chính Kiên cũng không ngờ tới. Ngay chỉ với đề tài quê hương, sức tạo hình của thơ Kiên luôn biến ảo: “Này là đắng, này là cay/ Muối trong hố mắt quê gày chưa tan/ Làng từ thăm thẳm lo toan/ Lơ phơ rơm rạ lợp ngàn mùa xanh” (Selfie bên cổng làng). Và ngã tự mộng trong cõi âm dương đan xen cứ ám ảnh người đọc qua thơ Kiên không dứt và thật kỳ thú: “Trong ta/ Xuân vẫn tự rằm/ Em tin không?/ Cởi trăm năm mà vào!” (Rằm). Vẫn còn với Rằm, Kiên có kết rất âm dương, mộng rằng: “Đỉnh rằm còn dải hương đời/ Trăng vê áo mỏng đáy trời nguyên thai”. Sự thành công của Kienlucbat đáng khích lệ với sự sáng tạo với những biểu tượng dày đặc và độc đáo. Bởi đó là tiêu chí sáng tạo “Ta bầu câu chữ lên thơ” mà nhà thơ theo đuổi cho dù vẫn nghiệm ra: “Tôi là thật sự riêng tôi/ Trong câu thơ nháp muôn đời chưa xong” (Chuộc chữ).