Từ đá Ninh Vân, thêu ren Văn Lâm, cói Kim Sơn, gốm Bồ Bát đến chạm gỗ La Xuyên, ươm tơ Cổ Chất, dệt lụa Nha Xá, hoa cây cảnh Vị Khê, nước mắm Sa Châu…, mỗi làng nghề giữ một phần ký ức của vùng đất Ninh Bình. Trong hành trình du lịch hôm nay, những ngôi làng ấy đang trở thành một con đường khác để du khách tìm hiểu văn hóa địa phương, không phải qua những gì đã nằm yên trong quá khứ mà qua chính đời sống và công việc thường ngày của người dân.
Nhắc đến Ninh Bình, người ta thường nghĩ trước hết đến Tràng An, Tam Cốc - Bích Động, Cố đô Hoa Lư hay những dãy núi đá vôi trùng điệp. Nhưng nếu rời những tuyến tham quan quen thuộc để đi sâu hơn vào các làng quê, một Ninh Bình khác dần hiện ra, ít ngoạn mục hơn nhưng có nhiều thứ để xem và để nhớ: những xưởng đá ở Ninh Vân, khung thêu ở Văn Lâm, những sản phẩm cói của Kim Sơn, gốm Bồ Bát, đồ gỗ La Xuyên, lụa Nha Xá, tơ Cổ Chất, hoa cây cảnh Vị Khê...
Đó là một vốn liếng đáng kể để Ninh Bình phát triển du lịch làng nghề, nhất là khi nhu cầu của du khách đang thay đổi. Người ta không chỉ muốn đứng trước một thắng cảnh, chụp vài bức ảnh rồi đi, mà ngày càng muốn biết người dân ở vùng đất ấy sống thế nào, làm gì, ăn gì, những món đồ họ sử dụng được làm ra ở đâu. Làng nghề, nếu giữ được đời sống thật của nó, chính là nơi có thể trả lời những câu hỏi ấy.
![]() |
| Đình làng chạm khắc gỗ La Xuyên thuộc xã Vũ Dương có lịch sử ngàn năm tuổi, nổi tiếng với các sản phẩm chạm khắc trên chất liệu gỗ |
Ở Văn Lâm, nghề thêu ren đã tồn tại lâu đời bên vùng Tam Cốc - Bích Động. Vị trí ấy tạo cho làng một lợi thế hiếm có: khách vừa đi thuyền trên sông Ngô Đồng, qua Tam Cốc, có thể tiếp tục tìm hiểu một nghề thủ công ngay trong cùng một không gian văn hóa.
Điều đáng xem ở Văn Lâm không chỉ là những bức tranh thêu đã hoàn thiện. Nếu được vào nơi người dân làm nghề, ngồi cạnh một người thợ đang căng vải, chọn chỉ, lên màu rồi đưa từng mũi kim, du khách mới hình dung được vì sao một sản phẩm thủ công có thể mất nhiều ngày, thậm chí lâu hơn để hoàn thành. Những cảnh núi non, hoa lá, chim muông hay phong cảnh quê hương vốn quen thuộc qua bàn tay người thợ lại có một đời sống khác trên mặt vải.
Từ Văn Lâm đi về Ninh Vân, vật liệu thay đổi hẳn. Thay cho chỉ và vải là đá, búa và đục. Nghề đá mỹ nghệ Ninh Vân gắn với vùng đất có truyền thống chế tác đá lâu đời; sản phẩm của những người thợ nơi đây có mặt trong nhiều công trình kiến trúc, tín ngưỡng và dân dụng.
Một pho tượng hay một bức phù điêu khi đặt trong công trình thường chỉ cho người xem thấy hình hài sau cùng. Đến xưởng nghề mới thấy phần công việc nằm phía sau nó: từ chọn đá, lấy dáng, tạo khối đến chạm những chi tiết nhỏ. Tiếng máy cắt xen tiếng đục, bụi đá bám vào quần áo, những khối đá còn dang dở nằm cạnh sản phẩm đã hoàn thiện – chính khung cảnh lao động ấy mới là thứ tạo nên sức hấp dẫn riêng của một chuyến đi đến làng nghề.
Cũng từ đất và lửa, nhưng Bồ Bát lại kể một câu chuyện khác. Làng gốm Bồ Bát là một địa chỉ đang được Ninh Bình chú ý trong việc phục hồi nghề truyền thống và kết hợp trải nghiệm du lịch. Ở đây, khách có thể nhìn từ đất nguyên liệu đến khâu tạo hình, trang trí, nung gốm; nếu được trực tiếp ngồi trước bàn xoay, tự tay làm một sản phẩm, câu chuyện về nghề sẽ dễ nhớ hơn nhiều so với việc chỉ nghe giới thiệu.
Nếu nghề đá gắn với miền núi thì cói lại đưa người ta về phía Kim Sơn, vùng đất được hình thành và mở rộng qua nhiều thế hệ khai hoang, lấn biển.
Cói Kim Sơn từ lâu đã là nguyên liệu để làm chiếu và nhiều đồ dùng trong đời sống. Ngày nay, sản phẩm của nghề không dừng ở chiếc chiếu truyền thống mà đã mở rộng sang túi, hộp, khay, giỏ và nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Sự thay đổi ấy đáng chú ý, bởi nó cho thấy một nghề cũ chỉ có thể sống tiếp khi sản phẩm của nó tìm được chỗ đứng trong đời sống mới.
Một hành trình làng nghề ở vùng này cũng không nhất thiết chỉ dừng ở nơi đan cói. Đi sâu xuống miền biển còn có thể gặp nghề làm nước mắm Sa Châu, một nghề mà sản phẩm gắn chặt với nguồn nguyên liệu và kinh nghiệm của cư dân ven biển. Khác với những nghề mà khách có thể nhìn thấy sản phẩm thành hình ngay trước mắt, nước mắm cần thời gian; câu chuyện của nghề vì thế nằm ở cách chọn cá, làm chượp, ủ và chờ đợi qua nắng gió.
Nếu tổ chức được những tuyến đi hợp lý, chính sự khác nhau giữa vùng núi đá, đồng bằng và miền biển sẽ làm nên nét riêng của du lịch làng nghề Ninh Bình. Người khách không chỉ đi từ điểm A đến điểm B mà đi qua những sinh kế khác nhau của cư dân trên cùng một vùng đất.
La Xuyên, Cổ Chất, Nha Xá, Vị Khê...
Bản đồ làng nghề Ninh Bình hiện nay còn có nhiều cái tên đáng để du khách tìm đến.
La Xuyên nổi tiếng với nghề chạm khắc gỗ. Ở một làng nghề như La Xuyên, điều thú vị là được nhìn người thợ làm việc ngay trên vật liệu: từ một tấm gỗ còn thô, các lớp hoa văn dần hiện lên sau từng đường đục. Những người biết nghề chỉ cần nhìn cách cầm đục, đi nét cũng có thể nhận ra tay nghề của người thợ. Với khách bình thường, đứng một lúc trong xưởng cũng đủ hiểu một bộ đồ gỗ chạm cầu kỳ đã ngốn bao nhiêu công sức.
Cổ Chất lại gắn với nghề ươm tơ. Những nong kén vàng óng, công đoạn kéo tơ từ kén và những sợi tơ mảnh là một cảnh tượng ngày càng ít gặp trong đời sống hiện đại. Từ Cổ Chất có thể nối câu chuyện sang Nha Xá, làng dệt lụa có tiếng, nơi những sợi tơ tiếp tục một hành trình khác để trở thành tấm vải.
Ở Vị Khê, nghề truyền thống lại không nằm trong xưởng. Đây là làng hoa, cây cảnh lâu đời, nơi cây được uốn, sửa và chăm sóc qua nhiều năm. Một cây cảnh đẹp không thể làm gấp trong vài ngày, bởi người trồng phải tính từng thế cây, cành, tán rồi chờ cây lớn lên theo ý định của mình. Vì thế, đi giữa Vị Khê cũng là đi giữa những khu vườn mà công việc của người làm nghề được tính bằng mùa, bằng năm.
Còn ở Báo Đáp là nghề làm hoa; Xuân Dục có nghề dệt chiếu; làng Rạch lưu giữ nghệ thuật rối nước. Mỗi nơi một nghề, một sản phẩm, thậm chí một cách hoàn toàn khác nhau để con người sống với nghề. Nếu chỉ gom tất cả dưới một cái tên chung “làng nghề truyền thống”, những khác biệt ấy rất dễ bị che khuất.
Ninh Bình có một thuận lợi lớn là lượng khách đến với các khu, điểm du lịch đã rất đông. Vấn đề còn lại là làm thế nào để một phần dòng khách ấy bước sâu hơn vào đời sống địa phương.
Một chiếc túi cói Kim Sơn hay một sản phẩm thêu Văn Lâm được đặt trong quầy lưu niệm ở khu du lịch vẫn chỉ là một món hàng. Nhưng nếu người mua đã từng nhìn cây cói được phơi, từng ngồi xem người thợ đan; hoặc từng thấy người phụ nữ Văn Lâm đưa kim trên mặt vải, món đồ mang về sẽ có thêm câu chuyện của nơi nó được làm ra.
Vì vậy, phát triển du lịch làng nghề không nhất thiết phải bắt đầu bằng những dự án quá lớn. Điều cần trước hết là đường vào làng thuận tiện, nơi đón khách vừa phải, một vài gia đình hoặc cơ sở còn làm nghề thật và có thể mở cửa cho khách xem, người giới thiệu hiểu lịch sử làng, cùng những sản phẩm có chất lượng, giá cả rõ ràng. Với một số nghề, có thể bố trí cho khách thử làm một công đoạn đơn giản; với những nghề khác, chỉ cần để họ được xem người thợ làm việc trong không gian vốn có.
Điều nên tránh là sửa sang cả làng thành một khu trình diễn. Một xưởng đá Ninh Vân đang làm việc, một sân phơi cói ở Kim Sơn, khung cửi còn chạy ở Nha Xá hay người thợ đang chạm gỗ tại La Xuyên tự nó đã có sức hấp dẫn. Khách tìm đến làng nghề chính vì muốn nhìn thấy những thứ như vậy, chứ không phải để xem một phiên bản được dựng lên cho khách du lịch.
Trong những năm gần đây, Ninh Bình đã đưa làng nghề vào các hoạt động quảng bá và xây dựng sản phẩm du lịch. Không gian Làng nghề truyền thống tại Tuần Du lịch Ninh Bình năm 2025 chẳng hạn, đã giới thiệu nghề và sản phẩm thủ công tới đông đảo du khách. Đây là một cách đưa làng nghề đến gần khách hơn, nhưng về lâu dài, chiều ngược lại cũng quan trọng không kém: đưa khách trở về chính những ngôi làng.
Bởi Văn Lâm đẹp nhất vẫn là khi còn người ngồi thêu ở Văn Lâm; Ninh Vân đáng đến khi tiếng đục đá vẫn vang trong xưởng; Cổ Chất còn những nong kén, Nha Xá còn tiếng khung cửi, Kim Sơn còn những người làm cói, Sa Châu còn những gia đình giữ nghề nước mắm, La Xuyên còn những người thợ cầm đục trên gỗ.
Du lịch làng nghề, xét cho cùng, không cần tạo ra thêm một Ninh Bình khác để phục vụ du khách. Điều đáng làm hơn là giúp người khách tìm được đường đến với Ninh Bình vốn đang có: những ngôi làng còn nghề, những người còn làm nghề và những sản phẩm vẫn được làm ra từ đất, đá, gỗ, tơ, cói và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều đời.
Nếu giữ được những điều ấy, mỗi làng nghề đã là một điểm đến.