![]() |
| Nhà văn - dịch giả Lê Bá Thự. |
Phóng viên Văn nghệ đã có cuộc trao đổi với dịch giả - nhà văn Lê Bá Thự, nguyên Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan về vai trò và sứ mệnh kiến tạo của văn học dịch hiện nay.
- Thưa ông, là một dịch giả nổi tiếng trên văn đàn hiện nay, ông có “chạnh lòng” khi có quan điểm văn học Việt Nam giàu bản sắc, nhưng thế giới lại chưa biết đến nhiều tác phẩm văn học Việt?
Văn học Việt Nam giàu bản sắc là điều không cần phải bàn. Toàn bộ nền văn học nước ta từ xưa đến nay, văn thơ, lí luận phê bình, đã chứng tỏ điều này. Tuy nhiên chúng ta đang còn thiếu và còn yếu ở khâu đưa văn học Việt Nam ra nước ngoài và đang tìm cách khắc phục.
Công bằng mà nói, cho đến nay sự xuất hiện của văn học Việt Nam trên văn đàn thế giới chưa tương xứng với tầm cỡ của một đất nước có trên 100 triệu dân. Tại sao lại có hiện trạng này? Theo tôi vì đang tồn tại những điểm nghẽn lớn nhất sau đây:
- Chúng ta chưa có một đội ngũ, hay lực lượng dịch giả đủ về số lượng và tốt về chất lượng để đảm đương công việc dịch thuật này.
- Chúng ta chưa có một chiến lược dài hơi, một kế hoạch thật sự bài bản đủ sức huy động nhân tài vật lực cho việc quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài.
- Sự liên kết giữa các nhà xuất bản trong nước và nước ngoài trong việc dịch và ấn hành các tác phẩm văn học Việt Nam còn thiếu và yếu. Chúng ta chưa có những biện pháp hữu hiệu nhằm lôi kéo các nhà xuất bản nước ngoài vào cuộc, để họ kề vai sát cánh với chúng ta. Ngay cả đối với các nhà xuất bản trong nước chúng ta cũng chưa có những biện pháp khuyến khích, kích cầu.
Tôi đã nhiều lần nhấn mạnh có ba lực lượng dịch giả có thể đảm đương nhiệm vụ giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài, đó là: các dịch giả Việt Nam ở trong nước, các dịch giả Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài và các dịch giả là người nước ngoài thông thạo tiếng Việt.
Để đưa các tác phẩm văn học Việt Nam ra nước ngoài chúng ta phải biết tổ chức và sử dụng có hiệu quả ba lực lượng dịch giả nói trên, phải có những biện pháp cụ thể nhằm tăng số lượng và chất lượng của đội ngũ này. Chế độ nhuận bút và các chế độ đãi ngộ khác phải tương xứng với công sức mà họ phải bỏ ra, phải “đáng đồng tiền bát gạo” thì mới khuyến khích họ. Hằng năm, nhà nước nên dành một khoản tiền thích hợp (tạm gọi Quĩ đầu tư) cho mục đích giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài, như nhiều nước đã và đang làm. Đây là một hình thức đầu tư chiều sâu có hiệu quả thiết thực và mang lại lợi ích lâu dài.
Ngoài thành lập Quĩ, cũng cần chiến lược và những chính sách hữu hiệu phục vụ đắc lực cho chiến lược giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài. Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức đóng vai trò nòng cốt trong việc thực hiện chiến lược và những chính sách nói trên.
Tôi hi vọng sẽ đến ngày văn học Việt Nam ồ ạt ra nước ngoài, như văn học nước ngoài đang ồ ạt vào Việt Nam, đầu vào và đầu ra của văn học nước ta sẽ được cân đối.
Trong hành trình đưa văn học ra quốc tế, theo ông, điều quyết định là tác phẩm hay bản dịch?
Theo tôi, cả hai. Tác phẩm và bản dịch, đều là những yếu tố quyết định sự thành công này.
Tác phẩm văn học Việt Nam đưa ra quốc tế phải đáp ứng tiêu chí: là tác phẩm hay, hay về nội dung, hay về hình thức, hay về văn phong, đáp ứng mong mỏi của bạn đọc năm châu. Tất nhiên người đọc mỗi nước, mỗi châu lục, mỗi vùng miền có thể có những thị hiếu, yêu cầu khác nhau và ta phải tính tới điều này khi muốn quảng bá tác phẩm văn học nào đó. Vấn đề là phải nhằm đúng và nhằm trúng đối tượng quảng bá. Nhằm đúng và nhằm trúng là những yếu tố mang lại hiệu quả cao cho hành trình đưa văn học Việt Nam ra quốc tế. Ở tầm vi mô của mình tôi vẫn thường nói: Tác phẩm tôi chọn dịch phải là tác phẩm hay, tôi thích, và tôi cảm nhận bạn đọc của tôi cũng sẽ thích.
Bản dịch tác phẩm là yếu tố quyết định thành công. Tôi vẫn thường nói: Dịch văn học là tái tạo một cách nhuần nhuyễn nguyên tác bằng ngôn ngữ khác. Theo tôi, tiêu chí của dịch văn học là đúng và hay. Đúng với nội dung, đúng với hình thức, đúng với văn phong của bản gốc (hoặc của tác giả). Bản dịch đúng là bản dịch truyền tải trung thành hồn cốt của tác phẩm gốc, cho người đọc cảm giác họ đang đọc bản gốc chứ không phải bản dịch. Nói cách khác, bản dịch đã được bản địa hóa một cách nhuần nhuyễn tới mức là một bản dịch hay. Đúng và hay là yêu cầu và cũng là thước đo thành công của một bản dịch.
- Theo ông, Việt Nam có cần một chiến lược quốc gia về dịch thuật và quảng bá văn học ra thế giới hay không? Nếu có, trọng tâm nên bắt đầu từ đâu?
Ở trên tôi đã nói rõ, về lâu dài nhà nước ta cần phải có chiến lược và những chính sách hữu hiệu phục vụ đắc lực cho việc giới thiệu, quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài. Tôi hoàn toàn ủng hộ đề xuất của nhà văn Nguyễn Bình Phương về việc xây dựng Viện dịch thuật Văn học để nâng cao chất lượng và hiệu quả dịch thuật. Từ lâu nhiều quốc gia trên thế giới họ đã xây dựng, thực hiện mô hình này. Ba Lan, là một trong những quốc gia như vậy. Tôi xin cung cấp một số thông tin về Viện sách Ba Lan để chúng ta tham khảo:
Viện sách Ba Lan (Instytut Książki - Bookinstitute.pl) là cơ quan văn hóa quốc gia thuộc Bộ Văn hóa và Di sản quốc gia Ba Lan. Có trụ sở tại thành phố Krakow và văn phòng tại Warszawa, được thành lập năm 2004. Nhiệm vụ trọng tâm của Viện là quảng bá văn học Ba Lan ra thế giới và thúc đẩy văn hóa đọc trong nước
Vai trò và hoạt động chính: Quảng bá quốc tế; Thực hiện Chương trình dịch thuật Văn học Ba Lan - Program Translatorski ©Poland; Hỗ trợ dịch giả; Tổ chức Hội nghị dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới (Hội nghị tổ chức 4 năm/lần); Tổ chức xét duyệt và trao giải thưởng Transatlantyk (Con tàu xuyên Đại Tây Dương) - giải thưởng Văn học dịch hằng năm danh giá nhất Ba Lan, dành cho các đại sứ xuất sắc có công lớn trong việc quảng bá văn học Ba Lan ở nước ngoài. Mô hình hoạt động của Viện sách Ba Lan hiện được đánh giá rất cao.
Từng là nhà ngoại giao và gắn bó với văn học dịch, ông có đồng tình với quan điểm “văn học dịch là một phần trong chiến dịch xây dựng hình ảnh và sức mạnh mềm văn hóa của Việt Nam trên trường quốc tế” không thưa ông?
Tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm cho rằng văn học dịch là một phần trong chiến dịch xây dựng hình ảnh và sức mạnh mềm văn hóa của Việt Nam trên trường quốc tế. Tại sao như vậy? Tại vì, sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là khả năng tạo ra sức hấp dẫn, lan tỏa các giá trị tinh thần và bản sắc dân tộc để đạt được các mục tiêu quốc gia mà không cần đến các biện pháp cứng rắn. Các tác phẩm văn học dịch của chúng ta đã, đang và sẽ hướng tới mục tiêu này. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nhân ái, nghĩa tình, sự cần cù và sáng tạo được biểu đạt, mô tả trong các tác phẩm văn học dịch là những cốt lõi tạo nên thiện cảm của bạn bè quốc tế. Di sản văn hóa phong phú, sự hòa quyện giữa văn hóa của 54 dân tộc tạo nên một bản sắc riêng biệt, hấp dẫn du khách và các nhà nghiên cứu nước ngoài. Ngoại giao văn hóa, khát vọng vươn mình trong giai đoạn hiện nay, sự tin cậy chính trị và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế cũng là những yếu tố cấu thành sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam. Việc phát huy những sức mạnh này tập trung vào việc biến văn hóa thành nguồn lực kinh tế (công nghiệp văn hóa) và công cụ quan trọng trong công tác đối ngoại.
Với những lập luận nói trên tôi tin rằng, văn học dịch Việt Nam sẽ thực thi tròn vai sứ mạng cao cả của mình.
-Xin trân trọng cảm ơn ông đã trả lời phỏng vấn của báo Văn nghệ!
NGỌC SƠN thực hiện