Nhưng cụm từ “Văn học giải phóng miền Nam” lâu nay được mặc định trong văn học cách mạng miền Nam 1954-1975, khiến bộ phận văn học đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh hai miền chia cắt và nhất là sau khi văn học giải phóng “sáp nhập” vào bản đồ văn học Việt Nam năm 1975, dường như bị “lãng quên”. Trước tình hình ấy, là những người cùng thời, nhà văn Lê Quang Trang và Trần Thị Thắng đã ấp ủ dự định nghiên cứu và biên soạn về giai đoạn văn học này và đến cuối năm 2025, cuốn Văn học giải phóng miền Nam Việt Nam (1954-1975) - Một tiến trình độc đáo, gần 1.000 trang đã trình hiện, góp phần phục diện văn học giải phóng, một bộ phận không tách rời trong sinh thể văn chương Việt Nam thế kỉ XX đến nay.
Cuốn sách được cấu trúc thành hai phần: Phần thứ nhất: Văn nghệ giải phóng một tiến trình độc đáo gồm bảy chương được trình bày hệ thống: Từ khái niệm, lịch sử vấn đề, bối cảnh xã hội đến hiện tượng ra đời Hội Văn nghệ Giải phóng năm 1961. Từ những bước “dò đường” đầy gian nan, thử thách đến sự lớn mạnh và phát triển của một nền văn nghệ gắn với những “huyền thoại” về sự dấn thân và nhập cuộc của đông đảo văn nghệ sĩ là những chiến sĩ từ trong hiểm địa, nguy nan sáng tác nên những lời ca tiếng hát, những điệu múa, vở kịch, những bài thơ, những áng văn xuôi ánh xạ trong đó những thông điệp nghệ thuật không chỉ có giá trị với đời sống đương thời mà với cả hôm nay.
|
Có thể nói, các tác giả biên soạn đã tham bác nhiều tư liệu, xâu chuỗi các hiện tượng, sự kiện, thậm chí không ngại ngần tranh luận, đối thoại với quan điểm cho rằng Văn học giải phóng/Văn nghệ giải phóng không phải là hiện tượng có thực trong đời sống, hoặc chỉ có hai nền văn học của hai chế độ khác nhau ở hai miền. Một là của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ở miền Bắc) và hai là của Việt Nam Cộng hòa (ở miền Nam). Dựa vào thực tiễn, vào hoàn cảnh phức tạp, có một không hai ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, với cái nhìn “xuyên văn bản” các tác giả cho thấy trước đó, khi nói đến văn học giải phóng/văn nghệ giải phóng, trong giới nghiên cứu, đều biết đó là hình thức dùng văn học nghệ thuật để thể hiện tinh thần giải phóng dân tộc trong thời kì 1954-1975 ở miền Nam, cụ thể hơn là từ 1960 khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Đó chính là nền tảng giúp “chúng ta hiểu Văn học giải phóng miền Nam theo nghĩa một giai đoạn cụ thể - hình thành chính thức ngày 20/7/1961, ngày thành lập Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam” (tr.12). Năm 1975, chiến tranh kết thúc, non sông liền một dải cũng là lúc văn học/văn nghệ giải phóng hòa nhập vào nền văn học Việt Nam hiện đại, như các tác giả cuốn sách ghi nhận: “Văn học/Văn nghệ giải phóng khép lại một chặng hành trình nhưng không phải kết thúc, đóng lại, mà là góp phần cho việc mở ra những ngả đường mới trên một hành trình mới.” Đây cũng là lúc người nghiên cứu có điều kiện lưu giữ những kí ức hào hùng và bi tráng của đời sống văn học nghệ thuật thời kháng chiến chống Mĩ ở miền Nam “thông qua những chứng nhân trực tiếp của lịch sử cụ thể hơn, cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá của người trong cuộc giúp ta có thể tìm thấy giá trị riêng, mà những khảo sát và suy luận gián tiếp khó hoặc không thể khám phá được”. Từ những trải nghiệm của những người làm văn nghệ cùng thời, chuyên luận Văn học giải phóng miền Nam (1954-1975) - Một tiến trình độc đáo đã có dư địa triển khai kĩ lưỡng, sâu sắc và thuyết phục sau hơn nửa thế kỉ nhìn lại “đối tượng nghiên cứu” một cách khách quan và khoa học, cụ thể và sống động.
Các tác giả cuốn sách đã cho thấy một trong những chiến lược quan trọng của văn học giải phóng là củng cố và gây dựng đội ngũ, lực lượng sáng tác. Dù ở các địa bàn khác nhau nhưng vấn đề có ý nghĩa, tạo nên sức mạnh và thành tựu của văn học giải phóng là “nối vòng tay lớn”, rút ngắn khoảng cách địa lí các vùng miền từ trung ương cục kết hợp giữa lực lượng dân chính: Hội Văn nghệ giải phóng, Tiểu ban văn nghệ của ban tuyên huấn với Phòng văn hóa văn nghệ thuộc Tổng cục Chính trị Quân giải phóng. Trải qua thời gian cùng thực tiễn sống và sáng tác, đội ngũ những người cầm bút ngày càng hùng hậu và chuyên nghiệp từ các nẻo đường, địa bàn kết nối và hợp lưu dưới ngọn cờ văn nghệ giải phóng. Ở Khu V với Phan Tứ, Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Liên Nam, Lưu Trùng Dương, Dương Hương Ly, Dương Thị Xuân Quý, Chu Cẩm Phong… Ở Trị Thiên Huế, ngoài Thanh Hải trưởng thành từ cơ sở có thêm Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vỹ, Trần Phương Trà, Nguyễn Quang Hà... cùng những cây bút trưởng thành từ phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên như Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hà Khánh Linh, Võ Quê... Ở trung tâm Hội quy tụ các nhà văn Trần Hiếu Minh, Lý Văn Sâm, Giang Nam, Viễn Phương, Hưởng Triều, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Trang Thế Hy, Hoài Vũ, Lê Văn Thảo, Chim Trắng, Diệp Minh Tuyền, Lê Anh Xuân…. Có thể nói, với tính đặc thù văn học giải phóng còn là sự hòa nhập “chung dòng máu anh hùng” không chỉ được tiếp sức bởi các cây bút từ miền Bắc vào như Triệu Bôn, Lê Điệp, Phan An, Hà Phương, Đỗ Nam Cao, Cao Xuân Phách, Nguyễn Khắc Thuần, Vũ Thị Hồng, Bùi Thị Chiến… mà còn “hòa mạng” với sáng tác của những người yêu nước, tham gia tranh đấu bị giam cầm trong ngục tù Mĩ ngụy, luôn mang trong mình niềm tin vào chiến thắng và khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc.
Ở phần thứ hai, Tác giả và tác phẩm tiêu biểu, hai tác giả biên soạn với nỗ lực lớn đã giới thiệu và tuyển chọn những tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn đã từng “sống và viết ở chiến trường”. Những tác phẩm giờ đọc lại vẫn khiến ta cảm động đến từng câu chữ, lan truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là những tác phẩm đã tái hiện thực tiễn sáng tác dồi dào sinh lực, cùng khả năng truyền cảm hứng tranh đấu và chiến thắng còn mãi với thời gian: Bóng cây Kơ nia (Ngọc Anh), Bài ca chim Chơ rao (Thu Bồn), Mồ anh hoa nở (Thanh Hải), Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm), Bài thơ hạnh phúc (Dương Hương Ly), Quê hương (Giang Nam), Bài thơ của một người yêu nước mình (Trần Vàng Sao), Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Đêm Tháp mười (Lê Văn Thảo), Mẹ vắng nhà (Nguyễn Thi), Về làng (Phan Tứ), Sống như anh (Trần Đình Vân), Bức thư làng mực (Nguyễn Chí Trung), Những người tham gia trận đánh (Tô Nhuận Vỹ)… Trong cuốn sách nặng kí này có đến 119 tác giả hiện diện với lí lịch trích ngang và sáng tác tiêu biểu hoạt động trên các chiến trường, địa bàn ở nông thôn, ở rừng hay đô thị. Song với bài viết này, tôi không thể điểm xuyết tất cả, chỉ có thể dẫn chứng một vài gương mặt trong tổng số kể trên.
Hai tác giả Lê Quang Trang và Trần Thị Thắng “bên nhau trong đời và bên nhau trong nghề nên chuyện đời chuyện nghề như được nhân đôi”. Là người trong cuộc, ở họ có sự kết hợp hài hòa giữa nghiên cứu và sáng tác, giữa kinh nghiệm và vốn sống, giữa tư duy khoa học và cảm thụ đã minh chứng một cách thuyết phục: “Văn học giải phóng hay rộng hơn là văn nghệ giải phóng là hiện tượng, một thực thể tồn tại trong đời sống, một tiến trình độc đáo, đặc sắc của văn học Việt Nam trong thời gian 1954-1975 của thế kỉ XX” đồng hành với lịch sử dân tộc. Cuốn sách đã và sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến văn học giải phóng nói riêng và rộng ra văn học chiến tranh và cách mạng, không chỉ có chức năng “bảo lưu kí ức” mà còn khơi nguồn cảm hứng cho hậu thế tiếp nhận và ứng dụng từ “di sản văn học” góp phần tạo nên sự đa dạng trong quá trình vận động và phát triển văn học nghệ thuật nước nhà.