Diễn đàn lý luận

Quan niệm thơ qua di sản thơ ca miền Nam 1954-1975

Mai Bá Ẩn
Lý luận phê bình 09:24 | 09/06/2026
Baovannghe.vn - Trong những tháng năm đất nước chia cắt (1954-1975), văn học ở hai miền cũng có những khác biệt trong quan niệm về các chức năng. Ở miền Bắc, nền văn học về cơ bản nhất quán sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa.
aa

Trong khi đó ở miền Nam tình hình văn học lại phức tạp và đa dạng hơn với nhiều bộ phận khác nhau: Bộ phận văn học cách mạng dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (một chi lưu của nền văn học miền Bắc với chức năng, nhiệm vụ riêng để phù hợp với tính chất của tổ chức Mặt trận, tập hợp các giai cấp, tầng lớp và quần chúng nhân dân đấu tranh cách mạng); bộ phận văn học tiến bộ của tầng lớp văn nghệ sĩ yêu nước, có tinh thần dân tộc, chống chiến tranh xâm lược, lên án tội ác của ngoại xâm, tay sai trong vùng bị tạm chiếm, bảo vệ truyền thống văn hóa dân tộc và bộ phận văn học của chính quyền tay sai... Trên tinh thần hòa giải và không khí hòa hợp dân tộc, hiện nay, văn học nghệ thuật trong vùng đô thị bị tạm chiếm ở miền Nam được chính thức gọi là “Di sản văn học, nghệ thuật miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975”. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào những “di sản thơ ca” với những quan niệm về thơ được thể hiện trong thơ của các nhà thơ. Còn những quan niệm thơ ca trong lí luận, phê bình của những “di sản này” thì đã được nhiều người bàn đến.

Có thể nói, không nặng lí luận mà chỉ bằng thực hành, thơ chính là nơi để nhà thơ bộc lộ quan niệm thơ của mình một cách dân chủ, tự nhiên, cụ thể và đầy hình tượng. So với những quan niệm thơ cùng thời lúc này ở miền Bắc vốn chịu sự chi phối của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, quan niệm thơ của thơ ca miền Nam có “độ mở” hơn, nhất là về bản chất, cội nguồn cũng như quan điểm cách tân.

Quan niệm về bản chất của thơ

Thơ là công cụ để kết nối tâm hồn, phụng hiến cho tình yêu thương, cứu rỗi con người ra khỏi những nỗi tuyệt vọng, ban phát niềm tin yêu cuộc sống: “Ta gửi lại đây những lời ảo não/ Những lời yêu thương phụng hiến cho em/ Rồi ta gục đầu trên trang giấy hão/ Em bảo rằng/ - Đừng tuyệt vọng nghe không/ Còn trang thơ thắm lại với trời hồng…” (Bùi Giáng - Phụng hiến). Thơ nối kết tình bằng hữu, anh em bằng sức trẻ và tình yêu: “Những phượng đỏ nắng vàng/ Cài ngòi phẫn nộ bén cháy/ để mặt trời mọc lên/ thi ca sẽ tràn đầy/ những bằng hữu anh em/ tình yêu căng ngực thở/ những mắt xanh thủy tinh…” (Vương Tân - Đoạn khởi đầu của một bản tình ca).

Thơ là tiếng nói riêng tư không phù hợp với chỗ đông người; là lời tự tình đắm đuối của người thơ với thiên nhiên diễm tuyệt cùng “những lời tình ái say mê”:

“Mỗi lần làm xong một bài thơ

Tôi đều muốn dứt bỏ chỗ đông người

Trở về nơi sum họp của trăng sao

Mà đọc lên những lời tình ái say mê

Mà đọc lên những lời đắm đuối”

(Nguyên Sa - Tâm sự).

Thơ là khúc tâm ca, lời thiền ca trong sáng giúp con người tìm đến an nhiên sau những trận bão lòng: “Đôi mày/ lá phượng cất cao/ Đôi môi chín/ ửng khóe đào rừng mơ/ Tiếng nàng vỡ bạc thành thơ/ Tụng dòng kinh tuệ/ trên tờ khói mây…” (Phạm Thiên Thư - Động hoa vàng). Thơ bắt đầu từ những khổ đau, khốn nạn của cuộc đời, và cũng khởi từ tình yêu thương chân thật nhất. Thơ nói hộ lòng người bằng thứ ngôn ngữ của tương lai, là những khúc tình ca trong trẻo chứ không nói bằng chiến ca máu lửa, súng đạn hận thù: “Khởi từ sự sống những khổ đau khốn nạn/ Khởi từ cuộc đời bằng những bước tình yêu/ Làm lại ngôn ngữ cho ngày mai/ Để chúng nói với nhau/ Không bằng súng đạn” (Vương Tân - Đoạn khởi đầu của một bản tình ca). Thơ góp nhặt tin yêu để xây nên tình yêu đôi lứa:

Quan niệm thơ qua di sản thơ ca miền Nam 1954-1975
Nhà thơ Du Tử Lê.

“Thủa đón đưa em bướm bay đầy ngõ

Hoa nở lưng hồn thắm đọng môi son

Bước đêm về êm ái gọi thơ sang

Đê mê đến chẳng bao giờ ngờ vực”

(Du Tử Lê - Thơ phố nhỏ).

Vì tình yêu, nhà thơ cũng có thể chết một cách “hăng hái” tự nguyện “như loài thiêu thân mê ngọn lửa” để tận hiến cho tình yêu: “Như loài thiêu thân mê lửa ngọn/ Buổi yêu em, tôi hăng hái lìa trần” (Nguyễn Tất Nhiên - Như những hoàng hôn đỏ mặt trời).

Thơ đau với nỗi đau đồng loại, gắn bó máu thịt với cuộc đời, với tình người và xót xa khi đất nước, quê hương bị chiến tranh giày xéo, hoang tàn: “rồi mai kia con sẽ biết/ vì sao bố mãi làm thơ với những lời van vỉ/ với những lời xót xa/ với những lời không diễn thành lời/ về quê hương tổ quốc chúng ta/ rồi mai kia lớn khôn/ con sẽ biết vì sao bố mãi làm thơ về cuộc đời/ nói về tình người” (Du Tử Lê - Thơ cho Mai Tú). Thơ trầm luân trong nỗi đau khi thời cuộc loạn li, nước non chia cắt, ngoại bang gieo rắc chiến tranh. Thơ lắng nghe được những đổ vỡ, tàn phai trong chính thân phận tuổi trẻ đang thanh xuân bỗng xào xạc rụng lá vàng: “còn đắng cay ở lại với mình/ chiều dĩ vãng chở đầy khoang thổ mộ/ xe đi hết quãng đường hầm hố/ chuỗi ngày xanh xào xạc theo nhau/ chiếc lá vàng mang nặng âm sầu/ đêm trở dậy khép vòng tay ác quỷ…” (Ngô Kha - Bài thơ hôm nay). Thơ đau cảnh chiến tranh giày xéo, xác chết ngổn ngang, biến dạng; quê hương nghèo đói, lầm than:

“Những tử thi ngổn ngang

Không còn nhìn ra mặt

Cũng không có áo quần

Nằm chung một dải đất

Nghèo đói và lầm than”

(Trần Quang Long - Hồi kết cuộc).

Trong quan niệm về sức sống của thơ ca, thơ miền Nam 1954-1975 cho rằng dù có bị bụi thời gian trôi qua phủ lấp, dù người thơ đã vĩnh viễn không còn, nhưng thơ mãi tồn tại, vẫn luôn tươi mới, sống mãi đến tận cùng “mấy thế kỉ sau”: “Em về mấy thế kỉ sau/ Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không/ Ta đi còn gửi đôi dòng/ Lá rơi có dội ở trong sương mù?” (Bùi Giáng - Mai sau em về).

Quan niệm thơ qua di sản thơ ca miền Nam 1954-1975
Thi sĩ Bùi Giáng.

Thơ gắn liền với cái đẹp. Sóng thơ lung linh như bảy sắc cầu vồng, rung rinh như những khúc nghê thường từ cõi tiên vọng về trần thế: “sóng thơ bảy sắc hồng nghê/ mỗi đêm trăng tỏ rung về trần gian” (Vũ Hoàng Chương - Biển câm nổi sóng). Thơ tráng lệ trong mắt nhìn, thơm ngát bởi mùi hương. Sáng lên trong bóng tối, chia sẻ nỗi cảm thông. Đó là những tuyệt tác dâng lên nữ thần nhan sắc: “Thế giới của Tôi - Nàng/ Đẹp đúng một bài thơ: Lầu tráng lệ và cỏ hoa thơm ngát/ Trong đêm tối để những vần thơ tuyệt tác/ Dâng nữ thần, ồ biết mấy cảm thông!” (Chế Vũ - polymnie). Đọc đến đây, ta lại nhớ “thi sĩ thần linh” Bích Khê thời Thơ Mới với quan niệm “duy tân” thơ, để thơ không chỉ đơn giản là hiện thực hay lãng mạn, mà vươn tới cái đẹp của thuần túy, tượng trưng và siêu thực, mỗi câu thơ là một “đóa hoa thần dị”: “Một hỗn hợp đẹp xô bồ say dậy/ Bằng cảm tình, bằng hình ảnh yêu thương/ Và mới mẻ - trên viễn cổ Đông phương!/ (Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật?)/ Thơ lõa thể! - Giai nhân tuần trăng mật,/ Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người!” (Duy Tân). Nếu trong Duy Tân, Bích Khê quan niệm phải “kiến trúc” lại thi ca “theo điệu mới” để mỗi dòng thơ như những “hạt châu trong” lung linh màu sắc và ngập tràn âm nhạc của chủ nghĩa tượng trưng tương giao, tương hợp: “Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới/ Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong/ Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng/ Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng./ Trong vòm xanh. Màu cưới màu, bình lặng,/ Gây phương phi: chiếu sáng ngả sang mờ”, thì các hậu duệ của thi sĩ Bích Khê trong thơ miền Nam 1954-1975 đã đẩy thơ tượng trưng tiến thêm một bước: “nghệ thuật nằm trong kiến trúc/ phảng phất lời lẽ một làn hương/ tâm linh bỗng dưng thành vũ trụ vô lường/ thực tại bao trùm bởi ảo tưởng/ đâu biết màu xanh hay/ chính ấy âm thanh/ ta nghe bản hợp tấu đang thành/ ai hát chi mà rạo rực” (Quách Thoại - Hợp tấu). Thơ chính là minh chứng của sức sống vĩnh viễn dù trải qua sự thờ ơ, tàn phá của thời gian. Thơ luôn luôn “trung niên”, luôn luôn “bình minh”, qua thời gian không bao giờ cũ đi mà luôn “hoạt sinh” dù biển dâu thay đổi. Thơ hay luôn biết chống lại cái chết để mãi trường tồn: “Mày mấy tuổi Tử Thần ôi thế hử/ Tao trung niên mày chẳng nể nang gì/ Làm thi sĩ suốt bình minh xuôi ngược/ Gieo lộn vần sầu não thật lâm li/ Tử Thần ạ! Tao không bằng lòng thế/ Bài thơ còn dang dở một hoạt sinh/ Một biển dâu cũng dơ dáng dại hình/ (Tử Thần ạ! Tao không bằng lòng thế)”- (Bùi Giáng - Tái tặng tử thần)…

Quan niệm về cội nguồn và cách tân thi ca

Họa sĩ thiên tài Picasso đã từng tuyên bố: “Nếu không có sự cô độc lớn lao, không một tác phẩm tử tế nào có thể sinh ra.” Lịch sử thơ ca nhân loại đã chứng minh điều đó. Ở Việt Nam giai đoạn 1954-1975, trong khi dòng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa xem thơ là vũ khí chiến đấu trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, mỗi nhà thơ lúc này cũng là một chiến sĩ trên chiến trường: “Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy/ Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi” (Chế Lan Viên - Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?) thì các nhà thơ miền Nam quan niệm cô đơn chính là cội nguồn của sáng tạo. Thơ chỉ có thể hình thành trên “cuộc hành trình hoàn toàn cô độc” cho dù anh có xuôi Nam ngược Bắc hay ngang dọc tung hoành: “Nếu đã đi từ Hà Nội xuống Hải Phòng hay sang Bắc Ninh/ Nếu đã đi từ Sài Gòn xuống Vĩnh Long hay lên Thủ Dầu Một/ Chuyến xe vẫn chỉ thuộc một mình/ Như kẻ say rót rượu lấy mà uống/ Cho vui thêm cuộc hành trình/ (Đúng rồi những người thù ghét thơ của tôi ơi)/ Cuộc hành trình hoàn toàn cô độc” (Thanh Tâm Tuyền - Trời sẫm). Thơ là tiếng nói của tuyệt đỉnh nỗi sầu, của cõi lòng đau đớn. Thơ chỉ thốt nên lời khi “lệ đọng sầu trên gối” và thuyền hồn thả mộng mơ neo ở bến bơ vơ:

“Mực đọng sầu trên giấy

Vần gieo lòng bài thơ

Lệ gieo lòng đau khổ

Sương đọng trên cành khô

Lệ đọng sầu trên gối

Thuyền neo bến mộng bơ vơ”

(Đông Hồ - Bội Lan hành).

Quan niệm thơ qua di sản thơ ca miền Nam 1954-1975
Nhà thơ - liệt sĩ Ngô Kha.

Thơ là tiếng nói của riêng một. Tất cả đều là một, kể cả vũ trụ thiên nhiên và trần ai muôn nỗi: “Một trời, một biển bao la,/ Một mây, một gió, một ta, một mình!/ Trần ai một kiếp lênh đênh/ Trăm thương, nghìn nhớ, một mình, một ta!” (Nguyễn Vỹ - Cô đơn). Thơ độc hành cùng giấc mộng buồn và “đi như vệt nắng cô đơn” giữa “kinh thành hoang phế”: “Tôi sẽ đi như giấc mộng buồn/ Và đi như vệt nắng cô đơn/ Kinh thành hoang phế, em ngồi lặng/ Mái tóc còn vương một chút hồn” (Đinh Hùng - Gặp em Huyền Diệu). Thơ chỉ ra đời khi nhà thơ thấy mình hoàn toàn cô độc giữa đám đông, khi thấy lòng lúc nào cũng “ăn năn hối hận”. Nỗi cô độc, lòng sầu đau sẽ là những hạt phù sa trên dòng nước, mở rộng đất đai, bồi đắp cho cây thơ mọc lên trên cánh đồng - cuộc đời tiếp nối, đan xen giữa đau thương và hi vọng: “người thi sĩ cô độc trong đám đông/ niềm ăn năn hối hận mọc lên/ như phù sa trên giòng nước/ mở rộng bình nguyên cánh đồng/ máu đỏ và cây xanh/ đang ôm choàng tiếp nối” (Vương Tân - Đoạn khởi đầu của một bản tình ca). Thơ lặng im trong bóng tối, không có gì tất cả để chỉ còn là “lời thở than” trong cô độc: “Nàng một mình yên trong khoảng tối tăm/ (Anh hỡi anh nó bây giờ mục rã)/ Những bài thơ dập nát với tên chàng/ Không nỗi buồn, không niềm vui, không tất cả” (Nhã Ca - Lời than thở). Thơ bất tử là thơ khởi từ “hồn oan” thoát lên từ những hố huyệt tuyệt vọng, cô đơn, bị cuộc đời hành hạ, vùi dập bao mơ ước, làm nên những phút giây điên loạn, mê cuồng: “ta là ta bất tử/ thơ khởi tự hồn oan/ cám ơn ai đào huyệt/ vùi dập giấc mơ phàm!/ ta là ta bất tử/ thơ khởi tự mê cuồng/ cám ơn ai hành hạ/ kẻ bất thường... điên luôn!” (Nguyễn Tất Nhiên - Thơ khởi tự mê cuồng). Thơ bay lên từ những nỗi buồn, từ trong bước chân đầu của hồng hoang sử lịch, từ trong cội nguồn của sự cô đơn:

“Hồn tôi bay nẻo gió buồn

Dấu chân hoang sử cội nguồn cô đơn”

(Du Tử Lê - Từ thần thoại).

Thơ xuất phát từ tâm trạng cô đơn và nỗi vui buồn nội tại của người thơ, đồng thời còn khởi phát từ những thoáng vui buồn khi người thơ bất chợt “bắt gặp qua người khác”. Tất cả đó, người thơ gom về, cô đúc lại, nhưng không cất “làm của riêng tư” mà bộc lộ thành thơ để “hình thành nghệ thuật”: “Phải rồi, ngày trước, những ngày xa xưa của tuổi trẻ khi chợt bắt gặp qua-người-khác, làm cho gợn lên trong lòng một thoáng buồn, cái buồn tuy không đau nhưng man mác như mặt đại dương một sáng êm trời có những đợt sóng mơn man bờ cát. Nhưng cuộc sống đâu có giản dị như vậy, nó hiện diện với những ước lệ bắt con người phải chấp nhận từng nỗi vui buồn, nỗi vui buồn đó, nghệ sĩ không giữ lại làm của riêng tư mà phải đem trình bày để hình thành nghệ thuật” (Nguyên Sa - Khép)...

Cách tân thơ xưa nay như là bản chất của thơ, là sứ mạng của nhà thơ. Giai đoạn 1954-1975, tiến trình cải cách thơ ca diễn ra ở cả hai miền Nam - Bắc. Nếu nền thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nổi lên với cuộc cách tân thơ không vần của Nguyễn Đình Thi, thì ở miền Nam, nhóm Sáng Tạo đã làm nên một bước tiến lớn trong cách tân thơ ca để vượt ra khỏi từ trường ảnh hưởng của Thơ Mới 1932-1945. Trong cuộc cách tân ấy, nhóm Sáng Tạo chủ trương không coi nặng việc gieo vần theo thơ truyền thống mà bằng chủ trương thơ tự do: “tôi ru chim ngủ trong cổ họng/ mặt trời kêu xuống thái dương những màu ánh sáng thơm/ tim kinh ngạc/ đời tạo câu cười thiên nhiên mai/ hi vọng đứng ra ngoài ô ngục ngực bâng khuâng/ lần gặp gỡ thứ nhất// rồi kỉ niệm kim khí thủy tinh hành hạ/ đau xé trời đêm không sao bánh máy quay vũ khí/ tôi chối từ giam cầm chim đẹp trong rừng tóc/ dù tiếng hót đã chọn mấy hàm răng/ người bộ hành cô đơn chờ đêm để lên đường/ về quá khứ/ chim bay vào trận mưa sao” (Thanh Tâm Tuyền - Chim).

Đặc biệt là thơ văn xuôi. Lúc này đơn vị thơ không còn tính bằng câu mà bằng những đoạn thơ văn nối nhau bất tận:

“Những ngôi sao rụng: tôi sẽ nhặt từng ngôi sao rụng. Trăm ngôi sao tôi kết lại một vòng sao. Để những đêm tối trời tôi trốn về đặt trên mộ những người trinh nữ yêu thơ mà cũng phải giã từ nhân thế.

Còn những bài thơ tình của chúng mình

xưa cũ tôi sẽ chôn kín dưới những gốc

hoàng lan để mai sau những người con gái

hẹn hò mà e ngại đường xa ngồi nghe gió hiu

hiu của lòng mình rung động”

(Nguyên Sa - Đêm mưa)...

Quan niệm thơ qua di sản thơ ca miền Nam 1954-1975
Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền.

Tuy nhiên, tất cả những yếu tố cách tân đều không thoát ra khỏi cội nguồn thơ ca dân tộc, đều khởi sự từ ca dao, dân ca truyền thống: “Viết thơ lạc dấu sai dòng/ Viết trong tức tưởi sợ đồng lúa mong/ Nước xanh lên đọt đòng đòng/ Ngày mai sẽ mất hạt lòng thơ ngây/ Bây giờ cá nhảy nghiêng cây/ Chim chuyền bụi ớt cỏ dày phân bua/ Nỗi niềm hè hạn thu mưa/ Là tâm sự của quê mùa nông dân/ Xưa kia tôi đã có lần/ Và bây giờ đã đôi phần tôi quên/ Viết thơ là trở lại bên/ Con người thôn nữ răng đen hai hàng/ Hội nào em lỡ chửa hoang/ Và em đã khóc lệ tràn như mưa” (Bùi Giáng - Ca dao). Dù có sáng tác theo trường phái “lãng mạn” hay “lập thể”, “siêu thực” hay “dã thú” hoặc “đa đa”, tất cả đều cũng khởi từ cây trái vườn nhà với tiếng nói “trữ tình tinh khiết”:

“ai hỏi anh ngoài hàng dậu

lãng mạn lập thể siêu thực dã thú đa đa

tôi mở những trái cây vườn nhà

cử chỉ trữ tình tinh khiết”

(Thanh Tâm Tuyền - Chim).

Trong bài thơ Sáng tạo dành tặng riêng cho Thanh Tâm Tuyền và Mai Thảo của nhóm Sáng Tạo, dù kêu gọi nhà thơ “Còn sáng tạo ta hãy còn sáng tạo”, nhưng Quách Thoại vẫn quan niệm sáng tạo cái mới vẫn trên cơ sở những rung động thật “ẩn trong lời”, như mỗi ngày mặt trời vẫn mọc, hoa gạo vẫn rưng rưng hồn cốt Việt Nam:

“Bao tâm huyết đổ dồn trên ý nghĩ

Thơm tho thay những ý tình tế nhị

Nói không cùng những cảm động ẩn trong lời

Tôi biết các anh những kẻ đã khóc cười

Là những kẻ còn tin yêu vững sống

Còn sáng tạo các anh hãy còn sáng tạo

Mặt trời mọc!

Mặt trời mọc!

Rưng rưng mùa hoa gạo”

(Quách Thoại - Sáng tạo).

Khi đã trở thành một chi lưu trong nền thơ ca Việt Nam giai đoạn 1954-1975, với những quan niệm khá dân chủ và đa dạng về bản chất của thơ, rõ ràng thơ ca miền Nam đã góp phần hoàn thiện thêm cho đời sống văn học Việt Nam, bổ sung thêm những quan niệm về sứ mạng nhà thơ và chức năng thơ ca bên cạnh quan điểm phổ biến và độc tôn của quan niệm thơ ca trong nền lí luận văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa xưa nay.

Chân dung các nhà thơ do họa sĩ Đình Cường phác họa

Quan niệm thơ qua di sản thơ ca miền Nam 1954-1975
Ảnh nguồn Pinterest
Ca sĩ Bảo Trâm: “Nghệ sĩ chỉ cần đủ kiên nhẫn để không từ bỏ mình giữa chừng”

Ca sĩ Bảo Trâm: “Nghệ sĩ chỉ cần đủ kiên nhẫn để không từ bỏ mình giữa chừng”

Baovannghe.vn - Ca sĩ Bảo Trâm sinh năm 1991, cô từng lọt top 3 cuộc thi Vietnam Idol 2012.
Vị khách không mời. Truyện ngắn của A.T. Butler

Vị khách không mời. Truyện ngắn của A.T. Butler

Baovannghe.vn- Mặc dù cuộc sống hiện tại không như cô hằng mong ước, Martha chẳng hề phiền lòng khi phải sống độc thân. Trong lúc cán bột để làm món bánh donut (bánh rán vòng) mà các cháu trai của mình hết mực yêu thích, cô chợt nhận ra mình đã quán xuyến việc nhà cho anh trai tròn trịa hơn hai mươi năm ròng.
Ông Lương Quốc Đoàn tái đắc cử Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa IX

Ông Lương Quốc Đoàn tái đắc cử Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa IX

Baovannghe.vn - Tiếp chương trình đại Hội đại biểu Hội Nông dân toàn quốc lần thứ IX, chiều 8/6, Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã chính thức ra mắt. Ông Lương Quốc Đoàn tái đắc cử Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa IX.
Mở hướng mới trong tìm kiếm hài cốt liệt sĩ

Mở hướng mới trong tìm kiếm hài cốt liệt sĩ

Baovannghe.vn - Ngày 8/6, Ban Chỉ đạo Quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ tổ chức Hội thảo xác minh kết luận thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ tại khu vực Nghĩa trang Đô Thành (Chí Hòa - Sài Gòn, nay thuộc Công viên Lê Thị Riêng, phường Hòa Hưng, TP Hồ Chí Minh).
Tổ chức Hội Báo toàn quốc 2026

Tổ chức Hội Báo toàn quốc 2026

Baovannghe.vn - Hội Báo toàn quốc 2026 chủ đề “Báo chí Việt Nam - Trung thành, Sáng tạo, Trách nhiệm trong kỷ nguyên mới” sẽ được tổ chức tại Hải Phòng từ ngày 17-21/6.