Văn hóa nghệ thuật

Kim Vân Kiều deluxe: Nguyễn Văn Vĩnh “sửa Kiều”, Nguyễn Tư Nghiêm “vẽ Kiều”

Hạnh Đỗ
Sách 10:35 | 12/01/2026
Nếu lịch sử Truyện Kiều là lịch sử của vô số dị bản, những nỗ lực phiên âm, chú giải, khảo đính và tranh luận văn bản, thì ấn bản Kim Vân Kiều của Nhã Nam lần này chọn đúng hai lát cắt khiến người ta tò mò nhất: Kiều đã được “mở” như thế nào cho độc giả quốc ngữ và Kiều đã được “thấy” như thế nào trong mỹ thuật hiện đại.
aa

Nguyễn Văn Vĩnh: từ quốc ngữ hóa đến quốc tế hóa

Trong phần trao đổi tại tọa đàm ra mắt ấn phẩm đặc biệt Kim Vân Kiều (Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn), GS Trần Đình Sử nhấn mạnh Kim Vân Kiều do Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra quốc ngữ là một bản Kiều sớm và quan trọng, giúp người đọc hôm nay nhìn rõ hơn tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam và vai trò của lớp trí thức buổi giao thời trong việc phổ biến chữ quốc ngữ. Ông tóm tắt một bối cảnh thường bị bỏ qua khi nhắc đến các bản Kiều quốc ngữ: ở Nam Bộ, Trương Vĩnh Ký phiên âm Kiều năm 1875 chủ yếu để phục vụ việc học chữ quốc ngữ. Khi đó, theo GS Trần Đình Sử, chính quyền thực dân yêu cầu mỗi làng phải có vài người học quốc ngữ nhưng dân lại chống đối việc học, có trường hợp người bị phân công đi học phải bỏ tiền thuê người khác học hộ.

Kim Vân Kiều deluxe: Nguyễn Văn Vĩnh “sửa Kiều”, Nguyễn Tư Nghiêm “vẽ Kiều”
GS Trần Đình Sử khẳng định bản Kim Vân Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh là bản Kiều bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam.

Trong bối cảnh ấy, GS Trần Đình Sử cho rằng mục đích biên soạn Truyện Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh gắn chặt với việc truyền bá chữ quốc ngữ, vì Truyện Kiều là tác phẩm được “toàn dân Việt Nam yêu”, và “vì yêu mà họ học chữ quốc ngữ”. Nói cách khác, thay vì đặt chữ quốc ngữ như một mệnh lệnh học tập, Nguyễn Văn Vĩnh đặt nó trong mạch thưởng thức văn chương, dùng tình yêu Kiều để kéo người đọc đến với chữ mới.

Trong lời tựa Kim Vân Kiều bản in năm 1915, Nguyễn Văn Vĩnh có viết: “Nay chúng tôi dịch truyện này ra chữ quốc ngữ, có ý tra cứu các bản từ xưa đến giờ, để dịch cho đúng mà lưu lại một cái nền văn chương nước Nam. Các điển tích cùng các câu khó chúng tôi đã chua ra, để ai ai cũng hiểu… để mà ngâm câu truyện biết nghĩa lý, thì lòng người mới biết động”.

Ấn bản Kim Vân Kiều do Nhã Nam giới thiệu, nhân kỷ niệm 260 năm ngày sinh Nguyễn Du (1765–1820) dựa trên bản in lần thứ 7 năm 1923 của Hiệu Ích Ký (Hà Nội), tức văn bản đã đi qua các lần ấn hành và hiệu chỉnh trong quá trình Nguyễn Văn Vĩnh theo đuổi Truyện Kiều. Trước đó, bản Kim Vân Kiều do ông dịch ra quốc ngữ, chú giải và ấn hành năm 1913, rồi tái bản có hiệu chỉnh vào các năm 1915, 1923, 1933.

GS Trần Đình Sử cũng cho biết, Nguyễn Văn Vĩnh phiên âm Kiều từ rất sớm, từ năm 1906; quá trình ấy kéo dài hàng chục năm, với việc sửa chữa liên tục để “ngày càng chính xác”. Truyện Kiều vốn là văn bản có nhiều dị bản, nên công việc phiên âm và lựa chọn chữ nghĩa luôn là hành trình đối mặt với chênh lệch giữa cái “cổ” và cái “đọc được”. Nguyễn Văn Vĩnh làm công việc ấy theo hướng phổ biến.

GS Trần Đình Sử đưa ví dụ cụ thể cho thấy văn bản của Nguyễn Văn Vĩnh là văn bản sống, không đóng khung một lần rồi thôi. Ở bản 1913, ông phiên âm câu thứ hai là “Chữ tài mệnh khéo là cợt nhau”, sang bản 1923 ông sửa thành “ghét nhau”. Ở bản 1923, ông để “Bóng chiều đã ngả dặm hòe còn xa” và chú “dặm hòe” là đường trồng cây hòe ở hai bên; đến bản 1933, ông sửa thành “dặm về còn xa”, cách nói phổ thông hơn.

Kim Vân Kiều deluxe: Nguyễn Văn Vĩnh “sửa Kiều”, Nguyễn Tư Nghiêm “vẽ Kiều”
Ấn bản Kim Vân Kiều của Nhã Nam là sự hội tụ hiếm có của ba di sản lớn là di sản văn chương của Nguyễn Du, di sản quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh và di sản hội họa của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm.

TS Mai Anh Tuấn cũng nhắc lại tinh thần ấy khi nói trong quá trình làm bản thảo có so sánh Kiều phiên bản Trương Vĩnh Ký và phiên bản của Nguyễn Văn Vĩnh, và có những từ cổ không còn phổ biến nữa đã được Nguyễn Văn Vĩnh sửa, đến nay vẫn giữ nguyên. Điều này lý giải vì sao bản Kiều Nguyễn Văn Vĩnh vừa có dáng dấp của một văn bản học thuật vừa giữ được khả năng lan tỏa trong cộng đồng độc giả chữ quốc ngữ.

Không dừng ở phạm vi trong nước, GS Trần Đình Sử nhấn mạnh ý nghĩa bản dịch tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh: giúp Truyện Kiều trở nên quốc tế hóa. Đây là cơ sở cho những dịch giả khác chuyển Kiều sang ngôn ngữ mới như: dịch giả Komatsu Kiyoshi dịch Truyện Kiều sang tiếng Nhật năm 1942; dịch giả Franz Faber và vợ dịch Truyện Kiều sang tiếng Đức và công bố năm 1964, dịch giả Hoàng Dật Cầu dịch Truyện Kiều sang tiếng Trung năm 1959.

Nguyễn Tư Nghiêm và 26 bức tranh Kiều lần đầu công bố

Trong ấn bản Kim Vân Kiều ra mắt lần này của Nhã Nam có 26 bức tranh Kiều chưa từng công bố của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm (1922–2016), vẽ trên giấy dó, với chất liệu than chì, bột màu hoặc sơn dầu.

Kim Vân Kiều deluxe: Nguyễn Văn Vĩnh “sửa Kiều”, Nguyễn Tư Nghiêm “vẽ Kiều”
Họa sĩ Lương Xuân Đoàn đánh giá minh họa Kiều xưa thường bị ảnh hưởng cốt nét Trung Hoa, nhưng tranh Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm là cốt nét Việt, văn hóa Việt, tâm hồn Việt.

Họa sĩ Lương Xuân Đoàn, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam cho biết dù Nguyễn Tư Nghiêm khiêm nhường gọi đó là minh họa, nhưng giới mỹ thuật không xem đây là minh họa theo nghĩa thông thường. Ông đánh giá đây là bộ tranh Kiều độc đáo nhất cho đến nay mà mỹ thuật đương đại Việt Nam may mắn được thừa hưởng.

Họa sĩ Lương Xuân Đoàn đánh giá cao cảm giác “nhẹ nhõm” trong nét vẽ của Nguyễn Tư Nghiêm, cùng sự thương cảm, thương thân nàng Kiều, khiến người xem hôm nay khi lần giở tranh sẽ chạm vào một tầng xúc cảm rất khác so với việc theo dõi cốt truyện.

Ở phần chia sẻ hậu trường, họa sĩ Lương Xuân Đoàn nói về gốc rễ cảm thụ Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm: từ bé ông đã nghe mẹ, nghe bà ngâm Kiều, nhập tâm từng chữ. Điều đó khiến Kiều trở thành một mạch cảm xúc gắn bó lâu dài với danh họa, những hình tượng trong tranh không nhắm tới việc mô tả chính xác tình tiết mà nhắm tới khí sắc văn hóa và tâm thế con người Việt.

Kim Vân Kiều deluxe: Nguyễn Văn Vĩnh “sửa Kiều”, Nguyễn Tư Nghiêm “vẽ Kiều”
Một bức tranh Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm

Một điểm đáng chú ý là cách so sánh của họa sĩ Lương Xuân Đoàn về truyền thống minh họa Kiều. Ông cho rằng minh họa Kiều xưa thường chịu ảnh hưởng cốt nét Trung Hoa, trong khi Nguyễn Tư Nghiêm là cốt nét Việt, văn hóa Việt, tâm hồn Việt. Ông nhấn mạnh: Nguyễn Tư Nghiêm “thả màu trước, thả nét sau”, và nhờ vậy tranh có năng lượng cảm xúc mạnh. Ông nói cốt nét của Nguyễn Tư Nghiêm không giống ai, không ai chép được, kể cả màu cũng không ai pha được; trong thị trường tranh giả, chép tranh ông Nghiêm là lộ ngay.

TS Mai Anh Tuấn bổ sung một chi tiết kỹ thuật tiếp nhận rất đáng giá: trong mỗi bức tranh Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm đều có viết một câu Kiều tương ứng, nhưng câu ấy không được đưa vào sách để độc giả tự cảm nhận. Cách làm này giúp tranh không bị biến thành phần minh họa bị neo chặt vào câu chữ, và người đọc giữ quyền tự do đối thoại giữa văn bản Nguyễn Du và hình ảnh Nguyễn Tư Nghiêm.

Gieo lộc ngày xuân. Tản văn của Nguyễn Hội

Gieo lộc ngày xuân. Tản văn của Nguyễn Hội

Baovannghe.vn - Ngày Xuân, người người nô nức đua chen chúc tụng, tiệc tùng, trẩy hội. Từ ngay sau thời khắc giao thừa, nhiều người, nhiều nhà, nhiều vùng còn có phong tục đi hái lộc đầu năm.
Sự sống - Thơ Tuyết Nga

Sự sống - Thơ Tuyết Nga

Baovannghe.vn- Sự sống chẳng thể nào tàn lụi/Nhưng nhành non trong nắng lửa héo xàu
Trưng bày sắp đặt nghệ thuật "Chiến tranh và Hòa bình" và "Vũ điệu xuân"

Trưng bày sắp đặt nghệ thuật "Chiến tranh và Hòa bình" và "Vũ điệu xuân"

Baovannghe.vn - Bảo tàng Hà Nội vừa khai mạc hai không gian trưng bày sắp đặt nghệ thuật "Chiến tranh và Hòa bình" và "Vũ điệu xuân" mang đến những trải nghiệm thị giác giàu cảm xúc cho công chúng yêu nghệ thuật.
“NGƯỜI ĐẠI BIỂU CỦA DÂN PHẢI NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM” -  Cam kết hành động từ thực tiễn của ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XVI

“NGƯỜI ĐẠI BIỂU CỦA DÂN PHẢI NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM” - Cam kết hành động từ thực tiễn của ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XVI

Baovannghe.vn - Nguyễn Thái Học – Phó Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương cho biết, chương trình hành động của ông chính là tiếp cận nhất quán: lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy trách nhiệm đại biểu làm chuẩn mực hành động và lấy hiệu quả thực chất làm thước đo uy tín chính trị.
Phù sa sông Nhị. Truyện ngắn của Triều La Vỹ

Phù sa sông Nhị. Truyện ngắn của Triều La Vỹ

Baovannghe.vn - Giờ Ngọ ngày mai xử vụ án vỡ đê Lưu Khê! Nắng chiều nghiêng nhanh xuống chợ Gồi. Gió buồn run từng dãy lều mái rạ xác xơ. Một nắm lá khô rùng mình xào xạc lăn qua cổng chợ để lại một vệt chiều xám xịt.