Nguyễn Văn Vĩnh: từ quốc ngữ hóa đến quốc tế hóa
Trong phần trao đổi tại tọa đàm ra mắt ấn phẩm đặc biệt Kim Vân Kiều (Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn), GS Trần Đình Sử nhấn mạnh Kim Vân Kiều do Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra quốc ngữ là một bản Kiều sớm và quan trọng, giúp người đọc hôm nay nhìn rõ hơn tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam và vai trò của lớp trí thức buổi giao thời trong việc phổ biến chữ quốc ngữ. Ông tóm tắt một bối cảnh thường bị bỏ qua khi nhắc đến các bản Kiều quốc ngữ: ở Nam Bộ, Trương Vĩnh Ký phiên âm Kiều năm 1875 chủ yếu để phục vụ việc học chữ quốc ngữ. Khi đó, theo GS Trần Đình Sử, chính quyền thực dân yêu cầu mỗi làng phải có vài người học quốc ngữ nhưng dân lại chống đối việc học, có trường hợp người bị phân công đi học phải bỏ tiền thuê người khác học hộ.
![]() |
| GS Trần Đình Sử khẳng định bản Kim Vân Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh là bản Kiều bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam. |
Trong bối cảnh ấy, GS Trần Đình Sử cho rằng mục đích biên soạn Truyện Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh gắn chặt với việc truyền bá chữ quốc ngữ, vì Truyện Kiều là tác phẩm được “toàn dân Việt Nam yêu”, và “vì yêu mà họ học chữ quốc ngữ”. Nói cách khác, thay vì đặt chữ quốc ngữ như một mệnh lệnh học tập, Nguyễn Văn Vĩnh đặt nó trong mạch thưởng thức văn chương, dùng tình yêu Kiều để kéo người đọc đến với chữ mới.
Trong lời tựa Kim Vân Kiều bản in năm 1915, Nguyễn Văn Vĩnh có viết: “Nay chúng tôi dịch truyện này ra chữ quốc ngữ, có ý tra cứu các bản từ xưa đến giờ, để dịch cho đúng mà lưu lại một cái nền văn chương nước Nam. Các điển tích cùng các câu khó chúng tôi đã chua ra, để ai ai cũng hiểu… để mà ngâm câu truyện biết nghĩa lý, thì lòng người mới biết động”.
| Ấn bản Kim Vân Kiều do Nhã Nam giới thiệu, nhân kỷ niệm 260 năm ngày sinh Nguyễn Du (1765–1820) dựa trên bản in lần thứ 7 năm 1923 của Hiệu Ích Ký (Hà Nội), tức văn bản đã đi qua các lần ấn hành và hiệu chỉnh trong quá trình Nguyễn Văn Vĩnh theo đuổi Truyện Kiều. Trước đó, bản Kim Vân Kiều do ông dịch ra quốc ngữ, chú giải và ấn hành năm 1913, rồi tái bản có hiệu chỉnh vào các năm 1915, 1923, 1933. |
GS Trần Đình Sử cũng cho biết, Nguyễn Văn Vĩnh phiên âm Kiều từ rất sớm, từ năm 1906; quá trình ấy kéo dài hàng chục năm, với việc sửa chữa liên tục để “ngày càng chính xác”. Truyện Kiều vốn là văn bản có nhiều dị bản, nên công việc phiên âm và lựa chọn chữ nghĩa luôn là hành trình đối mặt với chênh lệch giữa cái “cổ” và cái “đọc được”. Nguyễn Văn Vĩnh làm công việc ấy theo hướng phổ biến.
GS Trần Đình Sử đưa ví dụ cụ thể cho thấy văn bản của Nguyễn Văn Vĩnh là văn bản sống, không đóng khung một lần rồi thôi. Ở bản 1913, ông phiên âm câu thứ hai là “Chữ tài mệnh khéo là cợt nhau”, sang bản 1923 ông sửa thành “ghét nhau”. Ở bản 1923, ông để “Bóng chiều đã ngả dặm hòe còn xa” và chú “dặm hòe” là đường trồng cây hòe ở hai bên; đến bản 1933, ông sửa thành “dặm về còn xa”, cách nói phổ thông hơn.
![]() |
| Ấn bản Kim Vân Kiều của Nhã Nam là sự hội tụ hiếm có của ba di sản lớn là di sản văn chương của Nguyễn Du, di sản quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh và di sản hội họa của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. |
TS Mai Anh Tuấn cũng nhắc lại tinh thần ấy khi nói trong quá trình làm bản thảo có so sánh Kiều phiên bản Trương Vĩnh Ký và phiên bản của Nguyễn Văn Vĩnh, và có những từ cổ không còn phổ biến nữa đã được Nguyễn Văn Vĩnh sửa, đến nay vẫn giữ nguyên. Điều này lý giải vì sao bản Kiều Nguyễn Văn Vĩnh vừa có dáng dấp của một văn bản học thuật vừa giữ được khả năng lan tỏa trong cộng đồng độc giả chữ quốc ngữ.
Không dừng ở phạm vi trong nước, GS Trần Đình Sử nhấn mạnh ý nghĩa bản dịch tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh: giúp Truyện Kiều trở nên quốc tế hóa. Đây là cơ sở cho những dịch giả khác chuyển Kiều sang ngôn ngữ mới như: dịch giả Komatsu Kiyoshi dịch Truyện Kiều sang tiếng Nhật năm 1942; dịch giả Franz Faber và vợ dịch Truyện Kiều sang tiếng Đức và công bố năm 1964, dịch giả Hoàng Dật Cầu dịch Truyện Kiều sang tiếng Trung năm 1959.
Nguyễn Tư Nghiêm và 26 bức tranh Kiều lần đầu công bố
Trong ấn bản Kim Vân Kiều ra mắt lần này của Nhã Nam có 26 bức tranh Kiều chưa từng công bố của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm (1922–2016), vẽ trên giấy dó, với chất liệu than chì, bột màu hoặc sơn dầu.
![]() |
| Họa sĩ Lương Xuân Đoàn đánh giá minh họa Kiều xưa thường bị ảnh hưởng cốt nét Trung Hoa, nhưng tranh Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm là cốt nét Việt, văn hóa Việt, tâm hồn Việt. |
Họa sĩ Lương Xuân Đoàn, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam cho biết dù Nguyễn Tư Nghiêm khiêm nhường gọi đó là minh họa, nhưng giới mỹ thuật không xem đây là minh họa theo nghĩa thông thường. Ông đánh giá đây là bộ tranh Kiều độc đáo nhất cho đến nay mà mỹ thuật đương đại Việt Nam may mắn được thừa hưởng.
Họa sĩ Lương Xuân Đoàn đánh giá cao cảm giác “nhẹ nhõm” trong nét vẽ của Nguyễn Tư Nghiêm, cùng sự thương cảm, thương thân nàng Kiều, khiến người xem hôm nay khi lần giở tranh sẽ chạm vào một tầng xúc cảm rất khác so với việc theo dõi cốt truyện.
Ở phần chia sẻ hậu trường, họa sĩ Lương Xuân Đoàn nói về gốc rễ cảm thụ Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm: từ bé ông đã nghe mẹ, nghe bà ngâm Kiều, nhập tâm từng chữ. Điều đó khiến Kiều trở thành một mạch cảm xúc gắn bó lâu dài với danh họa, những hình tượng trong tranh không nhắm tới việc mô tả chính xác tình tiết mà nhắm tới khí sắc văn hóa và tâm thế con người Việt.
![]() |
| Một bức tranh Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm |
Một điểm đáng chú ý là cách so sánh của họa sĩ Lương Xuân Đoàn về truyền thống minh họa Kiều. Ông cho rằng minh họa Kiều xưa thường chịu ảnh hưởng cốt nét Trung Hoa, trong khi Nguyễn Tư Nghiêm là cốt nét Việt, văn hóa Việt, tâm hồn Việt. Ông nhấn mạnh: Nguyễn Tư Nghiêm “thả màu trước, thả nét sau”, và nhờ vậy tranh có năng lượng cảm xúc mạnh. Ông nói cốt nét của Nguyễn Tư Nghiêm không giống ai, không ai chép được, kể cả màu cũng không ai pha được; trong thị trường tranh giả, chép tranh ông Nghiêm là lộ ngay.
TS Mai Anh Tuấn bổ sung một chi tiết kỹ thuật tiếp nhận rất đáng giá: trong mỗi bức tranh Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm đều có viết một câu Kiều tương ứng, nhưng câu ấy không được đưa vào sách để độc giả tự cảm nhận. Cách làm này giúp tranh không bị biến thành phần minh họa bị neo chặt vào câu chữ, và người đọc giữ quyền tự do đối thoại giữa văn bản Nguyễn Du và hình ảnh Nguyễn Tư Nghiêm.