Diễn đàn lý luận

Đôi nét về du kí Tây Nguyên nửa đầu thế kỉ XX

Nguyễn Hữu Sơn
Lý luận phê bình 08:56 | 26/06/2026
Baovannghe.vn - Cho đến nay, qua hơn phần tư thế kỉ sưu tầm các nguồn sách báo giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, chúng tôi đã có được hàng trăm trang du kí viết về cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Nguyên thuộc địa bàn vùng tây nam Trung bộ gồm 4 tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng, Quảng Ngãi (trước sáp nhập (7/2025) gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng).
aa

Bộ phận văn du kí viết về cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Nguyên không chỉ thể hiện khả năng tích hợp các lớp “kí ức bản địa” độc đáo mà còn biểu lộ sắc nét dấu ấn những “cái khác” trong tổng thể dòng văn du kí cùng trong giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX viết về những vùng miền khác trong cả nước.

1. Nhận diện “cái khác” của kiểu tác giả viết du kí về Tây Nguyên nửa đầu thế kỉ XX

Trên phương diện lí thuyết, nếu như các lớp “kí ức bản địa” được nhận thức trước hết ở khả năng mô tả, tái tạo các thực tại văn hóa thì việc nhận diện “cái khác” của kiểu tác giả viết du kí lại thường tập trung vào cách chủ thể trải nghiệm những điều tai nghe mắt thấy và cách thức tiếp nhận mô hình văn hóa, cảnh quan sinh thái, hình ảnh con người khác lạ so với nhãn quan, định kiến và căn cước văn hóa của chính họ. Lí thuyết “cái khác” trong văn du kí nhấn mạnh sự phân thân trong nhận thức của chủ thể tác giả và quán tính đối lập giữa thực thể “chúng ta” (mẫu gốc) và “họ” (mới, khác biệt, xa lạ), từ đó đưa lại thái độ lưỡng phân (tôn vinh hoặc kì thị, tiếp nhận hoặc chối bỏ, hòa đồng hoặc dị ứng)… Qua lăng kính cá nhân chủ thể tác giả sẽ hiện hình các năng lực kiến tạo “cái khác” và xác lập mối quan hệ quyền lực cũng như phản ánh đặc tính kiểu sáng tác phi hư cấu về tương tác giữa “cái tôi” và “cái khác”, giữa ghi chép tường tả và đúc kết trải nghiệm, thể hiện tiếng nói trữ tình ngoại đề.

Chúng tôi đã từng xác định, khác với các tác giả viết du kí về các vùng thành phố, đồng bằng, núi cao Đông Bắc, Tây Bắc, Trung bộ và Nam bộ, kể cả du kí về các vùng duyên hải, biển đảo, các kí giả đến với vùng Tây Nguyên chủ yếu là quan chức thực thi công vụ hoặc có điều kiện đến nghỉ dưỡng ở Đà Lạt. Điều này cho thấy tính khác biệt của vùng đất mới, xa lạ, núi non hiểm trở, giao thông và điều kiện ăn ở còn nhiều khó khăn. Đây cũng chính là lí do khiến không mấy tác giả quay trở lại khám phá, tìm hiểu để viết tiếp du kí và khiến số trang du kí khó phong phú bằng các vùng miền khác.

Trên thực tế, quá trình gặp gỡ, khai phá, mở rộng hiểu biết, giao lưu, hội nhập, hợp tác giữa vùng đồng bằng với cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Nguyên phải trải qua một quá trình lâu dài. Do số lượng tác giả không nhiều nên không phân chia rành mạch theo nhóm thế hệ (cựu học, tân học, nữ lưu) và định hình lứa tuổi tương đối gần cận nhau (công chức, kí giả tân học). Có thể thấy các chuyến du hành không theo lối du ngoạn, thăm thú nơi danh lam thắng cảnh thông thường mà nghiêng hẳn về hoạt động công vụ, khảo sát dân tộc học, sinh hoạt tôn giáo và có phần giao thoa với du lịch mạo hiểm, khám phá môi trường sinh thái tự nhiên vùng non cao núi thẳm. Chính cảnh quan và đời sống đồng bào dân tộc vùng cao đã góp phần làm nên sắc thái “cái khác” cho cả phía các chủ thể tác giả viết du kí cũng như độc giả tiếp nhận, nhất là độc giả thành phố, đồng bằng vốn ít có điều kiện đi lại, giao lưu, hiểu biết về Tây Nguyên.

Thực hiện điểm danh, phân tích và phân loại các tác giả du kí tiêu biểu viết về Tây Nguyên giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX thấy nổi lên mấy đặc điểm đáng lưu ý. Thứ nhất, các tác giả thâm nhập tương đối sâu sắc vùng cao Tây Nguyên thường tập trung quanh các cơ quan báo chí vùng Sài Gòn - Nam bộ (Nam Kỳ địa phận, Sài Gòn, Công luận, Phụ nữ tân văn, Nam Kỳ tuần báo…) với những tên tuổi như Jacques Lê Văn Đức, Biệt Lam (Trần Huy Bá), K.D, Nam Đài, Đỗ Hữu Ích, Nhuận Khanh (Cao Thị Khanh), Thiết Luận, Mẫu Sơn Mục N.X.H, Trịnh Như Nghê, Thanh Ngọc, Nguyễn Đức Quỳnh, Trung Sơn, Xuân Sơn, Mai Thiên Tải (Mai Hữu Khanh), Thái Hữu Thành, Tiêu Diêu Tử, Lam Vân, Khuông Việt…

Xét danh sách các tác giả viết du kí về Tây Nguyên giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, nay chỉ biết rõ được tiểu sử một số vị. Về nữ, chỉ biết có Nhuận Khanh, tên thật Cao Thị Khanh (1900-1962), người sáng lập tuần báo Phụ nữ tân văn (1929-1935), có chồng là Nguyễn Đức Nhuận (1900-1968) làm chủ nhiệm báo. Trong số các kí giả có loại thiên về nhà khoa học, lữ hành, du khảo, khảo cứu dân tộc học: Biệt Lam (Trần Huy Bá, 1901-1987) và Nguyễn Đức Quỳnh (1909-1974); nhà báo: Xuân Sơn, Thái Hữu Thành, Tiêu Diêu Tử, Khuông Việt (Lý Vĩnh Khuông 1912-1978), một vị tạm đặt tên X. là người của báo Công luận…), còn lại thuộc các thành phần quan chức, công chức, người du lịch, học sinh (K.D, Đỗ Hữu Ích, Thiết Luận, Mẫu Sơn Mục N.X.H, Trịnh Như Nghê, Mai Thiên Tải…). Chí ít, những khám phá bước đầu lại liên quan khá nhiều đến hoạt động tôn giáo và sự phát triển của chi lưu du kí Công giáo, từ đó tạo nên sự khác biệt của kiểu tác giả viết về Tây Nguyên và những trang du kí Tây Nguyên đặc sắc, khác xa du kí về các vùng miền khác.

Đôi nét về du kí Tây Nguyên nửa đầu thế kỉ XX
Voi là phương tiện vận chuyển giúp đồng bào miền núi đi xa buôn bán, trao đổi.Ảnh: Jean-Marie Duchange

2. Nhận diện “kí ức bản địa” trong văn du kí viết về Tây Nguyên nửa đầu thế kỉ XX

Việc nhận diện “kí ức bản địa” trong văn du kí viết về Tây Nguyên nửa đầu thế kỉ XX tập trung trên hai phương diện chủ yếu là môi trường sinh thái và phương thức tổ chức xã hội.

Về môi trường sinh thái, vào giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, môi trường sinh thái tự nhiên vùng Tây Nguyên cơ bản vẫn mang tính nguyên sơ, chưa bị tác động của đời sống xã hội con người. Những nhóm nhỏ tộc người đồng bào quần tụ bên nguồn nước, dọc sông suối, những vùng thung lũng, cao nguyên bằng phẳng và triền núi thấp. Các nhà viết du kí cảm nhận được vẻ đẹp hoang sơ, bình yên của miền non cao rừng thẳm. Kí giả X, đặc tả về con cà tong (còn đọc cà tông) thuộc một loại giống nai còn rất nhiều và bạo dạn, cách châu thành Đà Lạt không xa và được bảo vệ nghiêm nhặt: “Mình bước lên xe hơi chạy đi nữa, xe chạy được chừng vài cây số thì lại gặp một bầy cà tong khác, bầy nầy đông hơn và có nhiều con lớn đang trổ lộc nhung, mình bèn bảo sớp phơ ngừng xe xuống đặng chụp hình. Muốn chụp ảnh cho đẹp mình lùa bầy cà tong nầy lên trên chót núi rồi mới dừng bước lại chụp. Mình tưởng không còn chụp gì vui hơn là mấy con thú rừng dạn quá như vậy...” So với người thành phố, một thực tại “cái khác” như thế được nhận thức trong tâm thế ngợi ca cảnh quan thiên nhiên mà độc giả qua biến dịch một trăm năm sau chỉ có thể tiếp cận và cảm nhận như những câu chuyện cổ tích.

Nhà khảo cứu dân tộc học Biệt Lam Trần Huy Bá (Viễn Đông bác cổ) đã ghi chép lại cảnh tượng muông thú tự do “dạo chơi” ở Buôn Ma Thuột: “Thỉnh thoảng, kìa một đàn công đương nhởn nhơ trước mặt, bỗng cất cánh bay ào vì thấy xe đến. Nọ đàn khỉ độ vài trăm con, già, trẻ, lớn, bé, đương đùa nghịch ở giữa khúc đường, vội bồng con cút thẳng vì nghe có còi xe ‘toe, toe’… Này, một vài con gà rừng nghển cổ, thấy bóng người, vội vàng lẻn vào rừng. Đấy kia, đống phân voi sù sụ giữa đường như hình cối đá…” Những chấm phá chi tiết “cái khác” này tạo nên tính sinh động, cụ thể cho các trang khảo cứu về Tây Nguyên từ một trăm năm về trước.

Đặc biệt kí giả Thái Hữu Thành đến xứ Mọi ở Đồng Nai Thượng và gián cách gọi là “chúng” với thiên du kí - phóng sự dài 5 kì báo, trước hết giới thiệu sinh quyển địa - văn hóa và chủ ý tháo gỡ những ngộ nhận, ấu trĩ, đơn giản, hư huyễn, sai lệch, cực đoan của người dưới xuôi, tiếp sau là sự khảo sát, tường tả về các phương diện đời sống hài hòa với thiên nhiên và thể hiện như một phần của thế giới tự nhiên thuần phác: Hành trình (chuyến du ngoạn) - Hình thể (con người) - Trang sức và nhà cửa (trang phục, nhà ở) - Cách sinh hoạt (lối sống săn bắn, hái lượm) - Phong tục (tiếp đãi khách, uống rượu, hút thuốc) - Vệ sinh (bệnh tật, thuốc men, cúng ma) - Lễ nghi (cúng Djàng, lễ hội, tang tế) - Ái tình (hôn nhân, tục bắt rể, chế độ mẫu hệ) - Xét về đoàn thể (làm thuê, buôn bán, đổi chác)… Về cơ bản, qua các trang viết của Thái Hữu Thành, có thể thấy “các chúng” thể hiện một lối sống thuần phác, gần với thế giới tự nhiên, thiên nhiên, vừa có phẩm chất lương thiện, bình dị, an nhiên vừa đơn giản, thô phác, lạc hậu. Qua khảo sát, chiêm nghiệm từ thực tế, Thái Hữu Thành cho rằng con người và xã hội Tây Nguyên đương thời cần cải biến, hội nhập, phát triển theo hướng tiến bộ, hiện đại hóa.

Cả vùng Tây Nguyên là cảnh quan núi rộng sông dài xen lẫn những thung lũng và bình nguyên, cánh rừng với nhiều loài muông thú cho tới nửa đầu thế kỉ XX cơ bản vẫn còn nguyên trạng và được bảo vệ chu đáo. Do số lượng người chưa quá đông và được quản lí chặt chẽ nên môi trường sinh thái tự nhiên còn cân bằng, hòa hợp và được tái hiện như những khoảng không gian nhân văn đã một đi không bao giờ trở lại, chỉ còn là hoài niệm trong dòng văn du kí.

Về xã hội, đã qua một thế kỉ, hình ảnh cuộc sống con người và xã hội đồng bào Tây Nguyên được ghi nhận trong văn du kí có cả màu sắc truyền thống và hiện đại, lạc hậu và tiến bộ, sự khác biệt và hòa đồng. Từ nhiều phương diện khác nhau, dòng văn du khảo in đậm phong cách điều tra dân tộc học cho thấy những đặc tính về lối sống, tính cách, phong tục, nhà ở, trang phục của đồng bào Tây Nguyên một thời. Trong ghi chép trường thiên Du lịch Trung Kỳ, kí giả Bát Long đã ghi chép và thông tin khái lược bối cảnh lịch sử, đặc điểm cơ sở địa - văn hóa, quá trình phát triển giao thông, hiện đại hóa, đô thị hóa nhìn từ các tổ chức xã hội và nhóm sắc tộc dưới chế độ thực dân ở Đà Lạt, Kon Tum... Những ghi chép này xác nhận thực tế “cái khác” của sự vận động lịch sử cũng như thực tại thời thực dân hóa, công cuộc khai khẩn vùng non cao, các xu thế hợp tác và chống thực dân, kể cả dự cảm viễn cảnh phát huy tiềm năng của người đương thời.

Nhà văn, học giả, kí giả Nguyễn Đức Quỳnh (quê Hưng Yên) đi ôtô từ Quy Nhơn vượt hai trăm cây số, “trên con đường gập ghềnh, quanh co, hết núi cao tới đồi thấp”, qua đèo An Khê đến Chợ Đồn - Pleiku và gặp gỡ, quan sát, cảm nhận về “người Mọi” (theo cách gọi đương thời, cũng như người vùng Thượng gọi Kinh là Keo…) với bút pháp tả thực trân trọng: “Đó là người Mọi! Đôi mắt sáng quắc, lông mày rậm rì, thấy mình, họ nhìn một cách tự nhiên. Miệng ngậm điếu, phì phèo thở khói, chốc lát mới thấy họ nhích mép xì xồ (giọng Mọi nói gần giống giọng Tây), chuyện vãn với nhau, lộ bộ răng đen mà bằng phẳng như cưa sát đến lợi... Đi đâu là cả nhà cùng đi... Đàn ông và con nít đi trước, rồi tuần tự tới chị em là hạng vận tải đồ đạc, xếch nếch đủ thứ, thúng mủng, nồi niêu, sau cùng lại tới bọn các anh mạnh dạn cao lớn, đeo khí giới đi theo hộ vệ.”

Thêm nữa, trong tư cách nhà khảo cứu dân tộc học, Trần Huy Bá đến xóm sông Y Say lấy mẫu mấy kiểu nhà của người Rhadé: “Về bên nách cột, dưới cửa sổ bên tay phải, có treo một cái trống đồng và hai cái trống da… Suốt từ mặt sàn lên tới mái nhà đều chạm trổ rất ngộ nghĩnh. Đi qua ngăn rộng ấy đến một lối đi ở giữa nhà. Còn hai bên đều chia ra những ngăn buồng, mỗi buồng vuông vắn độ hai thước. Giữa buồng đặt một cái bếp vuông, độ một thước. Bếp ấy đắp bằng đất, xung quanh ghép tre, đặt ngay trên mặt sàn, cao độ mười phân; bên trên để ba hòn đá, dùng làm đồ rau. Bên cạnh bếp ấy cũng rải chiếu xuống sàn dùng làm chỗ ăn ngủ của các tiểu gia đình về những người trong một bộ lạc.” Những ghi chép mang tính biên khảo, ghi chép chỉ dấu điều tra dân tộc học, xã hội học, văn hóa học như trên góp thêm tài liệu và góp phần mở ra hướng nghiên cứu chuyên sâu về so sánh lịch sử và liên ngành khoa học xã hội vùng Tây Nguyên thời cận - hiện đại.

Cần chú ý thêm, trong dòng du kí viết về Tây Nguyên có chi lưu du kí công giáo với các tác giả như Thảo Lâm Hưng, J.Y, Jacques Lê Văn Đức. Với Jacques Lê Văn Đức và du kí Đi tu một ngày trong Dòng Bênêđitô ở Đà Lạt vừa có tính chất tâm linh, viếng thăm nơi nhà thờ, vừa là câu chuyện đời thường lạc quan, vui vẻ. Đến du kí trường thiên Một tháng ở Đà Lạt in 9 kì báo, Jacques Lê Văn Đức tham dự tuần “cấm phòng” trong nhà thờ nhưng lại cho biết cuộc thuyết trình, giao lưu với bên Phật giáo. Chuyển sang số sau, Jacques Lê Văn Đức tiếp tục suy tư, diễn giải, phân tích, bình luận, so sánh tương quan Công giáo - Phật giáo ở tinh thần cứu rỗi, giải thoát, dâng hiến. Mới hay rằng, vào giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, các tôn giáo nói chung (cả Công giáo - Phật giáo - Cao Đài và các tôn giáo khác) đã có mối liên hệ hữu hảo, có sự giao lưu, trao đổi, nâng cao nhận thức với ý nghĩa tôn trọng những giá trị thần học, tâm linh, nhân văn và tiến bộ xã hội.

Đôi nét về du kí Tây Nguyên nửa đầu thế kỉ XX
Phụ nữ và các bé gái giã gạo. Ảnh: Jean-Marie Duchange

3. Nhận diện “cái khác” từ diễn ngôn tác giả trong văn du kí viết về Tây Nguyên nửa đầu thế kỉ XX

Khác với bộ phận văn học hư cấu, du kí thuộc dòng văn học phi hưu cấu (non-fiction) đặc biệt coi trọng vị thế diễn ngôn chủ thể tác giả. Đặt trong tương quan diễn ngôn tự sự, diễn ngôn chủ thể tác giả bộc lộ trực tiếp tiếng nói trữ tình ngoại đề, khả năng bao quát nội dung hiện thực, năng lực liên kết tri thức liên ngành văn học - báo chí - du lịch học và các đặc điểm tư duy thể loại văn học (đặc tính thẩm mĩ, tầm quan sát, tính quốc tế, tính thời đại và hiện đại, hệ thống chủ đề và các tiểu loại văn du kí, mối quan hệ hai chiều kiểu tác giả và tác phẩm, các hình thức du kí trường thiên và đoản thiên, nhật kí du hành và hồi tưởng, văn xuôi và thơ ca).

Trong điều kiện giao thông hạn chế, trên đường gặp cây cầu hư khiến chuyến du ngoạn từ Kon Tum - Buôn Ma Thuột lên Đắk Lắk của K.D hóa thành “trắc trở” đến mức kí giả phải lên tiếng phàn nàn và đề xuất: “Nghĩ xứ Đà Lạt cũng là một nơi thắng cảnh, nhưng ít ai dám đến đó, vì đường sá gập ghình khó bề du ngoạn. Có nhiều người viết thơ phàn nàn cùng quan trên Đắc Lắc sao mà để đường sá hư nát, cầu kì hư sập, nhưng tôi không mấy tỉnh; nay tới tận mặt mới tường sự hư thiệt. Có nhiều người ước trong Chánh phủ xuất ra một số tiền đặng mà tu bổ miền ấy… Ước vọng điều thứ nhứt là làm đường, sửa cầu lại, cho tiện bề lai vãng.”

Kí giả Mẫu Sơn Mục N.X.H lại băn khoăn về sự an nguy ở tầm vận mệnh chiến lược quốc gia: “Tôi lên Đà Lạt mà trong lòng sinh ra nửa mừng nửa lo... nếu ví Đông Dương như một hình người, thì những cao nguyên này không khác gì là cái chỏm, nếu cái chỏm mình không nhìn đến, không đến ở cho đông thì cái thận chắc là không mạnh được mấy nữa... nước ta đã bị bao phen chống chọi với người Tàu, họ cũng được cái thế ở cao, hao tổn biết là chừng nào. Nay ta lại ngắm những dân tộc ở gần ta đây, đã có dân tộc nào đã bị cái vạ người đầy chưa, nếu có thì ta há chẳng đáng lo lắm ư?” Như vậy, từ một thế kỉ trước, nhà du hành đã nhận ra vị thế ỷ giốc, lợi thế tiến - lui, hành - tàng của cứ địa miền rừng. Phải có tầm nhìn địa chiến lược quân sự sâu rộng thì người viết mới có thể cảm nhận và biết “lo” một cách thiết thực, xa rộng như thế.

Đến với miền đất lạ non cao, nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh tỏ rõ sự hiểu biết, chỉ rõ mối quan hệ “lưỡng phân, lưỡng hợ”, đặc biệt coi trọng các đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào và cảnh báo trước về quá trình hòa nhập, hội nhập, bản địa hóa của người bốn phương với Tây Nguyên: “Xin nhắn ai sắp lên xứ Mọi, chớ tưởng lầm là Mọi kém mình, là ăn mắm nhái đâu! Dân Mọi sướng hơn dân ta. Xứ Mọi tự do hơn xứ ta. Cảnh Mọi ưa nhìn hơn cảnh ta… Tâm tính Mọi thuần hậu hơn ta… Ăn, ở, mặc, ba cái ‘Có mới sống được’, họ đều dư dật hơn ta, vì họ ăn lấy no, ở lấy đủ, mặc lấy vừa thôi... Chẳng sướng là gì?”... Như vậy, Nguyễn Đức Quỳnh đã sớm gợi mở, chỉ ra cả những “cái khác” giá trị và đặc điểm, ưu điểm và hạn chế, xu thế hội nhập và phát triển, tầm nhìn chiến lược và giải pháp ngắn hạn của công cuộc khai thác miền rừng.

Ghi nhận một thời chưa xa, đồng bào Tây Nguyên còn gắn bó với sản vật núi rừng, khai thác đúng mức sức mạnh của đại ngàn với việc thuần dưỡng loài voi, kí giả Thiết Luận chứng kiến và mô tả chi tiết: “Ngày hôm nay là ngày phiên chợ voi ở Bản Đôn. Từ rừng này qua rừng nọ, những tiếng gầm mãnh liệt gọi nhau: từ Xiêm, từ Lào, từ Cao Miên, những vùng Mọi ở phía Bắc và phía Nam, người ta dẫn những đàn voi hàng chục con tới Bản Đôn để bán… Thật là một cảnh lạ mắt và vĩ đại.” Đan xen giữa những diễn ngôn đặc tả nguồn di sản voi miền rừng “vĩ đại”, độc đáo, hiếm có, không lặp lại ở các vùng miền khác, kí giả còn bày tỏ diễn ngôn chính trị, lên tiếng cảnh báo và dự báo về chiến lược di dân, khẩn hoang, khai phá, phát huy tiềm năng, thế mạnh các vùng miền.

Đặt trong tương quan giữa vẻ đẹp thiên tạo và nhân vi, điền chủ Trần Hữu Tư ở Giá Rai (Bạc Liêu) khi đi du lịch khắp trong Nam ngoài Bắc, miền rừng và biển đảo đã khái quát riêng về cảnh quan Đà Lạt: “...Về phần người Việt Nam mình, những người thích Đà Lạt đều nhận cho là cảnh tiên; bởi vậy mới có câu:

‘Vui lòng ngắm cảnh thiên nhiên,

Chơi miền Đà Lạt là tiên trên trần’.

Xét ra Đà Lạt được tốt đẹp là nhờ sức thiên tạo mà cũng nhờ sức nhân tạo. Tuy vậy với cái sức của con người dẫu cho có được tốt đẹp, lớn lao tới bậc nào cũng hữu chừng; chỉ có cái tốt đẹp lớn lao của công thiên tạo mới thật là vô hạn. Bởi vậy bao nhiêu thiên hạ ưa mến Đà Lạt là ưa mến vì cảnh thiên nhiên mà thôi…” Ở đây, Trần Hữu Tư xác nhận vẻ đẹp bản địa và “cái khác” thần tiên của Đà Lạt và Tây Nguyên nói chung chính là ở cảnh quan thiên nhiên, gián tiếp cảnh báo sự khai thác, xâm hại, phá hoại thế cân bằng môi trường thiên nhiên và thế giới tự nhiên. Có thể nói sự cảm nhận và lời cảnh tỉnh, cảnh báo của bậc thức giả Trần Hữu Tư đến ngày nay vẫn con nguyên giá trị.

Có thể thấy, di sản dòng văn du kí viết về cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Nguyên không chỉ thể hiện khả năng tích hợp các lớp “kí ức bản địa” độc đáo mà còn biểu lộ sắc nét dấu ấn những “cái khác” trong tổng thể dòng văn du kí cùng trong giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX viết về những vùng miền khác trong cả nước.

90 trung tâm thương mại Vincom đồng loạt bùng nổ lễ hội mua sắm red sale 2026 ưu đãi khủng 70%

90 trung tâm thương mại Vincom đồng loạt bùng nổ lễ hội mua sắm red sale 2026 ưu đãi khủng 70%

Baovannghe.vn - Từ ngày 25/6 đến 20/7, Vincom Red Sale 2026 sẽ đồng loạt diễn ra tại 90 trung tâm thương mại Vincom trên toàn quốc. Chương trình quy tụ hàng trăm thương hiệu với ưu đãi lên tới 70%. Đây cũng là lần đầu tiên Vincom triển khai chuỗi hoạt động kết hợp livestream O2O và trải nghiệm mua sắm trực tiếp.
Nỗi lo từ chiếc điện thoại trên tay trẻ em

Nỗi lo từ chiếc điện thoại trên tay trẻ em

Baovannghe.vn - Nhiều năm qua, xã hội thường nói về công nghệ với sự lạc quan. Internet mở ra kho tri thức khổng lồ, giúp trẻ học ngoại ngữ, tìm kiếm thông tin, kết nối bạn bè, tiếp cận các kỹ năng mới. Điều đó đúng, nhưng mặt trái cũng đang lộ rõ, mạng xã hội không chủ yếu nhằm giáo dục trẻ em mà được thiết kế để giữ chân người dùng càng lâu càng tốt.
Đồng chí Bùi Quang Huy tái đắc cử Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Đồng chí Bùi Quang Huy tái đắc cử Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Baovannghe.vn - Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã tiếp tục tín nhiệm bầu đồng chí Bùi Quang Huy là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2026-2031.
Sức mạnh của dĩa cơm. Truyện ngắn của Ifeoma Okoye

Sức mạnh của dĩa cơm. Truyện ngắn của Ifeoma Okoye

Baovannghe.vn- Má tôi là nhà triết học trong nhiều chuyện. Bà mất trước khi tôi có thể trả hiếu cho những hy sinh mà bà dành cho tôi. Bà đã từ chối sự an nhàn để tôi được học hành, đã gánh lấy gánh nặng tài chính cho cả nhà trong thời gian ba tôi bệnh tật dai dẳng và sau khi ông phải chết trẻ.
Sông gọi (trích). Truyện của Hoàng Hạc

Sông gọi (trích). Truyện của Hoàng Hạc

Baovannghe.vn... Một mùa cam nữa qua đi. Suốt từ Thác Bà lên Lục Yên Châu, trong các làng bản, đường đi lối lại cỏ đã lan ra khá rậm. Khá nhiều cánh đồng đã bỏ.