Sáng tác

Cánh đồng trắng. Truyện ngắn của Vương Đình Khang

Vương Đình Khang
Truyện 09:12 | 20/03/2026
Baovannghe.vn- Cơn nắng hanh hao tới rát da cháy thịt, làm mặt đường đất cát ở xa nhìn mù mờ mộng mị. Nắng tới bực bội, nắng tới mỏi mòn. Cái nắng mà dân xứ này gọi là nắng chang chang, nắng bể đầu, và khô hanh kéo dài dữ dằn hung ác tới mức người ta kêu là “hạn bà chằn”.
aa
Cánh đồng trắng. Truyện ngắn của Vương Đình Khang
Minh họa Đặng Tiến

1.

Má thằng Tính từng nói: “Muối dính vô mình là mặn mòi mãn kiếp. Người ta chỉ thoát khỏi đời muối được bằng một đám tang.”

Cánh đồng trắng tinh ánh lên màu quắt quay đau đáu. Đoàn người đưa tang đi qua, những chiếc khăn xô phất phới. Từng nắm vàng mã bay bay, loang loáng sắc vàng kim giả trân xuống mặt nước. Tiếng kèn đồng thê thiết, bóp nghẹt bài kinh cầu rưng rức. Bên trên đoàn người cứ đi. Bên dưới hình ảnh phản chiếu của họ cứ rung rinh dờn dợn. Vậy là lại có một đời người đã rời bỏ, đã thoát được khỏi cánh đồng trắng này.

Cơn nắng hanh hao tới rát da cháy thịt, làm mặt đường đất cát ở xa nhìn mù mờ mộng mị. Nắng tới bực bội, nắng tới mỏi mòn. Cái nắng mà dân xứ này gọi là nắng chang chang, nắng bể đầu, và khô hanh kéo dài dữ dằn hung ác tới mức người ta kêu là “hạn bà chằn”.

Thằng Tính thầm nghĩ, chắc là ở đâu đó sẽ có một ông nông dân chửi trời rủa đất, nắng nóng tới vàng cả lá lúa đây kìa! Rồi có một bà trồng dưa oán than, cực chi mà cực dữ, dưa muốn nẻ ra lòi cả ruột đỏ. Mấy chú xe ôm mồ hôi đầm đìa nai cái lưng ra mà buôn cho đất, ngửa cái mặt mà bán cho trời. Tới con cá rô chui dưới sình cũng phải lóc lên bờ, nghe chừng nước đìa thiếu điều sôi lên ục ục. Thằng Tính trông theo đoàn đưa tang đã khuất dạng. Mớ vàng mã rụng đầy trên bờ đê lúp xúp như lá rụng sân đình. Ai oán thán thì mặc, nó đang vui quá chừng. Tại sao lại vui giữa cái khí hậu khắc nghiệt cỡ đó? Phải vui chớ, vui nhiều, bởi vì nó là diêm dân!

Diêm dân, cái từ này là tiếng Nôm hay tiếng Tiều nó chưa rõ. Bao đời nay xứ Bạc Liêu này ai cũng dùng từ đó để chỉ những người làm nghề muối. Bạc Liêu thì nó nhớ mang máng, nguyên gốc người Tiều đọc là Bặc Lẽo, nghĩa là xóm nghèo. Chắc từ sơ khai thuở khẩn hoang cho mãi tới tận bây giờ, dân xóm nó vẫn nghèo trơ nghèo trớt, nghèo rớt mồng tơi, không chi thay đổi.

Xóm nó, ai ai cũng bám vô nghề muối mà sống. Cái diêm nghiệp khổ nhăn răng mà ai đẻ con ra cũng để ông trời xui khiến sắp nhỏ dính vô hết trơn hết trọi. Cái nghề nghịch thiên! Làm nông người ta mong mưa để đơm hoa kết quả. Buôn bán người ta hóng ráo mát để thuận buồm xuôi gió. Chớ làm muối là phải nắng, nắng càng dữ càng tốt. Nắng mạnh, nắng lắm, nắng cho nhiều vô thì muối mới tràn đầy ra khắp đồng nước được. Nhưng nắng là của trời, mà ông trời tiếc cái gì với con người chứ nắng thì ổng chưa bao giờ trùm sò hết. Ổng phân phát đều đều, cái khó là diêm dân có xòe tay mà giật lấy được hay không thôi. Cái nghiệp trời đày!

Mà nghịch thiên chỗ nào? Người ta phải trông chờ và lao động trong cái nắng kinh hoàng. Nắng như tra tấn, rang chín da thịt con người, tới mức nổ cả đom đóm mắt. Nhưng nắng không thì muối nó cũng đâu có kết tinh nhanh? Nước biển phơi tràn ra đồng, muốn bốc hơi thành muối cũng cần có gió. Gió nhiều nghĩa là áp thấp. Rồi nước bốc hơi nhiều thì sẽ có mây. Hai cái thứ oái oăm đó sẽ tạo nên mưa. Rồi muối đang lên mặn chỉ cần một trận mưa là coi như bao nhiêu mồ hôi nước mắt của diêm dân theo đó trôi ra biển lớn. Cái nghề gì mà thu nhập hoàn toàn dựa trên sự vô lý của tự nhiên, dựa trên thói mưa nắng của trời đất.

Thằng Tính trông theo bóng dáng phía trước chấp chới trong những luồng muối bốc hơi. Chéo áo bà ba liêu xiêu dưới lớp áo sơ mi dày cộp, nón lá che ngang thâm kim lên màu vàng sẫm. Từng bước chân chị thầm thì rơi trên mặt nước mặn. Đôi dép râu cao su cũng quắt quay, quầy quả đến lạ. Dáng người đa đoan tung cây cào ra xa, rồi kéo những nhát cắt lên ruộng muối. Muối cuộn trên nền đất nện, mặn mòi kết tinh. Chị trông như con cò đang mổ tép chông chênh.

Nó nhìn đôi dép râu cao su làm từ vỏ xe của chị mà tủm tỉm. Chị không mang ủng được vì nặng, đi không nổi. Thấy chị trợt té hoài, nó đã làm đôi dép đó cho chị. Thứ dép xấu hoắc, xù xì cục mịch lại cực kỳ vững chãi trên nền đất nện nhơm nhớp mặn. Tuy có hơi đau chân, đôi khi cắt vào da tứa máu, nhưng nó nhẹ hơn đôi ủng cao su bít bùng sũng nước biển cả chục lần. Người đàn bà mỏng manh, mang đôi dép gai góc tương phản tới mắc cười.

Chị Thón, cái tên ngộ vậy vì chị là người Tiều, phải nói là xinh đẹp nhất xứ muối này. Thì “Bạc Liêu nước chảy lờ đờ, dưới sông cá chốt trên bờ Tiều Châu” mà! Từ nhỏ, lúc còn chưa bước chân lên ruộng làm muối là thằng Tính đã công nhận chuyện chị đẹp. Với nó, chị luôn giống một cô tiên trong truyện đời xưa. Chị hơn nó độ sáu, bảy tuổi, gương mặt thanh tú, dáng người thanh tao, đôi bàn tay thon dài với những ngón tay như cây bút. Đẹp như chị, nó nghĩ đáng ra phải ngồi trong nhà mát coi tivi, hay nằm dài trên ghế bố hóng gió biển. Nhưng nó sai rồi, đẹp thì con gái xứ muối vẫn phải làm muối. Chị Thón làm cực phải gấp đôi người thường.

Tính chị hiền queo, tử tế, nhỏ nhẹ. Màu da bánh ít lùi tro thắm giòn tương phản với nụ cười đó, làm nó trở nên tinh khôi lạ kỳ. Nụ cười với cái răng khểnh làm cánh đàn ông tim đập thình thình. Nụ cười làm cả tuổi dậy thì của thằng Tính chơi vơi, lọt tùm vào mơ mộng. Nụ cười làm bao nhiêu mặn mòi, chát ngầm của muối trở nên ngọt ngào. Nụ cười mà thằng Tính đã năm năm nay chưa bao giờ thấy nữa.

Chị Thón lấy chồng. Lấy ai? Lấy anh Xén. Ông anh này có thời từng là thần tượng của thằng Tính. Người gì đâu mà vừa đẹp trai, vừa tốt tính, vừa tháo vát chăm chỉ làm ăn. Có độ, cơ sở muối của anh phải nói lớn nhất xứ. Anh là người nhạy bén, đưa món muối biển Bạc Liêu trở thành thương hiệu “Muối hồng” chi đó, thanh danh vang dội. Anh chứng minh là muối ở miền Tây có nhiều dinh dưỡng dữ lắm, do thừa hưởng phù sa từ sông Cửu Long hòa lẫn vào biển. Rồi từ đó ăn nên làm ra, thương lái tới mua ào ào. Anh be cái ruộng mênh mông, trồng muối trên cánh đồng trắng trải dài tít tắp tới tận chân trời góc bể. Khi nghe tin anh Xén hỏi cưới chị Thón, thằng Tính buồn nhưng tự nhủ cũng phải rồi. Thì gái sắc sẽ đi theo trai tài, có đâu để ý tới thằng con nít cào muối mướn như mình? Ừa, nhưng đó là anh Xén của ngày xưa. Mà ngày xưa thì đâu phải bây giờ.

2.

Chị Thón ngưng tay, cả người tì lên cây cào mềm rũ. Lớp muối trắng dưới chân chị đùn lên, vẽ những đường loang màu trên nền đất nện nâu xám, ngó xa xa như người ta thảo màu nước lên giấy vải. Đường bút lả lướt đứt ngang. Chị Thón té sấp người xuống mặt nước biển nghe cái “bõm”.

Thằng Tính hoảng hồn chạy tới đỡ chị. Trên cái nền sâm sấp đó, bước chân nó trở thành những cú nhảy. Muối mặn văng lên tung tóe. Đây không phải là lần đầu tiên chị Thón té xỉu giữa đồng. Thằng Tính nghe trái tim muốn rớt ra ngoài, nó biết mà, biết chắc mẻm mà, chị lại xỉu không phải vì nắng quá, cũng không phải vì bị bệnh. Nó lầm rầm cầu trời cho suy đoán của nó là sai bét. Khi nó đỡ chị lên, gỡ cái khẩu trang ra cho chị thở, nó thấy một bên má chị Thón bầm tím. Vết bầm vồng lên những đường gân máu li ti như sắp khóc òa. Rồi kìa cái vết gì trong cổ áo chị? Kìa cổ tay chị sao lại sưng phù thế này? Thằng Tính biết, dưới lớp áo quần kia sẽ còn chi chít những dấu vết như thế. Những dấu vết đã hằn vào da thịt chị Thón, nhưng cũng lồng vào trái tim thằng Tính. Những vết đau.

Thằng Tính nhớ thời mới lớn của nó, khi nó nhìn chị và trót yêu dáng hình đó. Nó nhớ cái cổ thon thon dưới vành nón lá. Nó nhớ cái cổ tay lộ ra sau lớp vải thô. Đôi gò má bầu bĩnh lấm tấm đôi nốt tàn nhang. Hoặc là cái eo con kiến đôi khi lựa lúc cái xẻ áo bà ba không để ý, mà nhảy lộ ra ngoài. Mấy chi tiết đó gom lại thành chị Thón đẹp vô ngần của nó. Vậy mà giờ đây, những nơi đó lại thăm thẳm những vết đau.

Chị Thón té xỉu. Buổi cào muối cả ruộng đứt ngang. Công việc sẽ vì thế mà chậm lại. Những bụm muối mặn vừa được cào lên bây giờ lại làm nhiệm vụ đắp vào vết bầm của chị cho không tụ máu. Khi mấy người làm khác cùng nhau đỡ chị vô nhà, cả thửa ruộng còn lại mỗi thằng Tính đứng yên. Nó nhìn ra xa xa mây trời lồng lộng, nghe con nắng đứng bóng ngã chéo ngang cánh đồng. Xứ Bạc Liêu này hổng lẽ chỉ còn là bạc phận với cô liêu sao? Nó nghĩ tới anh Xén, cái ông đó, phải mà làm ăn đừng có thua lỗ quá mạng như vậy? Thời anh Xén ăn nên làm ra, ổng nghĩ là mình ngon rồi, đi vay vốn mua đất mở mang bờ cõi hết biết! Xong rồi muối làm ra hàng loạt, bán đi ào ào. Một vài vụ, hổng biết sao có cái tin muối hồng phục vụ cho công nghiệp hông có hiệu quả. Chỉ để ăn được thôi. Sức bán giảm cái xẹt. Chưa hết, nếu dùng để ăn thì người ta sẽ thích ăn muối trắng, muối hồng bị nói là… dơ. Người ta nói nó lẫn đất cát phù sa đây kìa, coi cái màu không có sạch sẽ gì hết. Anh Xén chống sao lại cái nhìn kỳ thị của mấy bà nội trợ trên chợ? Cái màu đục ngầu này sao mà đẹp hơn màu trắng tinh khôi? Mà đâu phải một mình anh bị? Cả nghiệp muối xứ này đều bị nói vậy. Nhiều ông nhà khoa học lên báo đài thanh minh, cái màu đâu phải quyết định chuyện sạch dơ? Í, người đời quen nhìn bề ngoài mà, chớ ai ngó vô tinh thể muối li ti làm chi mà biết? Vậy là muối hồng thoái trào. Giá muối lên xuống còn hơn nước triều biển Đông. Chông chênh, chơi vơi, nhấp nhô như sóng bạc đầu.

Mấy năm đó, dăm cơn bão, vài trận mưa trái mùa, diêm dân khóc ròng. Anh Xén nhiều lần buông tay đứng ngó muối tan ra thành nước trôi sạch ra biển. Sao mà cứ hễ muối sắp đủ mặn là mưa? Cái vòng lặp chờ kết muối, muối tan chảy ra biển, rồi lại dẫn nước biển trở về ruộng, rồi chờ ruộng lên mặn, rồi cào, rồi lại mưa, nó cứ lòng vòng miết? Tiền của anh Xén cứ thế mà trôi theo dòng ra trùng dương xa khơi, không thấy quay lại. Anh Xén ngã ngang đời, nằm đó không thấy đứng dậy làm người. Anh thành con ma men mất rồi.

Rồi từ hồi nào, người đàn ông có thuở là thần tượng của thằng Tính có cái nết đánh vợ. Ngày nào anh cũng chìm trong những cơn say khướt bất tận. Có thối chí thì thôi đi, mượn rượu giải sầu được đâu anh Xén? Đã say thì ngủ đi, mắc mớ gì mà vung tay hạ chân? Hay đời dồn anh tới điên mất rồi? Nhà còn mỗi chị Thón ráng làm để níu kéo thời huy hoàng giùm ông chồng hũ chìm. Thằng Tính không đếm nổi một ngày chị phải cào bao nhiêu nhát, phải đi bao nhiêu bước chân, dưới cái nắng chang chang như vậy? Một thúng muối nặng phải mười mấy, hai chục ký, chị vác lên vai một buổi độ bốn, năm chục thúng, đi gần cả trăm mét mới tới nhà kho. Cái nghề này cho dù mặc bao nhiêu lớp áo, che chắn tới cỡ nào thì muối vẫn thấm được vào da. Rồi từ da nó đi vô thịt. Nó ướp con người như con cá chết khô. Làn da căng mịn của chị bây giờ bủng beo. Những kẽ ngón tay ngón chân bị mặn ăn vào vàng lên và khoét sâu tới tận xương, nhiều khi tứa máu. Những móng tay dày lên, chai sần nứt nẻ. Mỗi đường cào muối là da mặt chị nhăn thêm một rãnh. Muối nó thấm sâu lắm, thấm tới tận trái tim rồi vắt cho tâm hồn chị khô héo, mặn đắng luôn. Muối nó dính vào mình rồi, không bao giờ có thể tái sinh như cũ nữa. Bao nhiêu mồ hôi nước mắt của chị đã rơi trên cánh đồng trắng đó? Mồ hôi cũng mặn, muối cũng mặn. Nhưng muối nó còn thêm vị chua cay.

Chị còn cái gì ngoài thân xác hao mòn đó, chị Thón?

Thằng Tính không hiểu nổi chị ráng như vậy là vì cái gì? Hay vì hai đứa con nhỏ? Hai đứa mà suốt ngày mếu máo, hết chạy qua hàng xóm kêu cứu rồi ôm chân ba mà khóc giãy tê tê đó hả? Hết bà con rồi hàng xóm can ngăn, thậm chí mẹ chồng còn biểu “Mày ly dị nó đi con, ở chi mà khổ dữ vậy”, chị vẫn lắc đầu. Sao chị hổng bỏ ổng cho rồi, cho hai đứa nhỏ ngưng khóc một ngày được không? Dần dà, người ta bỏ luôn không thèm khuyên nữa. Chỉ còn một mình thằng Tính là còn nhiều chuyện, còn hóng chuyện nhà chị mà thôi.

Thằng Tính tức cành hông, nhiều khi nó giận chị sao mà hèn dữ vậy? Ổng còn cái gì mà chị thương hoài vậy chị Thón ơi? Hay là đàn bà xứ muối này không có cái khái niệm “bỏ chồng”? Cũng như không “bỏ muối” được vậy? Có lần chị kể, do chị mang ơn anh lo nợ nần cho gia đình chị hồi xưa, lo chôn cất chu toàn ba má chị lúc nhà còn khổ. Cái nghĩa đó giống như đẻ ra chị thêm lần nữa. Nên chị thề không bao giờ bỏ anh. Chị ơi… Muối nó cũng như ông anh Xén vậy đó, mặn lòi, chát ngầm, ngó thấy khô rang chớ cầm vô thì tan ra chèm nhẹp, dính dấp. Nhưng mà dù vậy, muối nó vẫn nuôi sống từng người ở đây, dù cái nghề đứng trên nước biển này nó khổ cực còn hơn chữ “vất vả”, nghèo vẫn hoàn nghèo.

Đêm ở ruộng muối là những vệt dài đen sẫm. Vệt này nối tiếp vệt kia, liên miên bất tận. Những ô ruộng phẳng băng thứ nước trong vắt, loang loáng màu trăng ngà. Trời sao soi mình xuống chiếc gương nước, nghe hơi mặn bốc vào không gian. Thinh không nhường chỗ hết cho tiếng gió u u thê thiết. Và cả tiếng khóc nữa.

Thằng Tính trán nổi sợi gân xanh, mồ hôi rịn ra ướt đẫm lòng bàn tay. Thần kinh nó đương căng thẳng cực độ, vì trong trí nó là trận tranh chấp giữa nổi giận và kiềm chế. Trước mắt nó, sau cái khe ván hẹp, người đàn bà nằm lăn lóc dưới đất cố gắng dùng hai khuỷu tay mỏng manh đỡ những cú quật đen đéc từ cây chổi lông gà. Mỗi khi cây chổi vung lên, vài ba cái lông gà bay lơ lửng. Khi cái chổi hạ xuống, vài cơn nhói lòng dấy lên xung quanh. Chị Thón không còn có vẻ gì là đang khóc. Mắt chị long lên sòng sọc, thằng Tính có thể thấy mấy sợi mạch máu vồng lên ở hai cái khóe cạn khô. Tiếng ư ứ vọng trong chiếc cổ ngày xưa cũng từng thon ngà, nay vỡ tan tành trước uất nghẹn và đay nghiến. Chị đã không hề có một lời van xin, thân hình thì liu xiu như cây tre chờ cơn giông cuốn qua. Tiếng khóc ré lên là của hai đứa nhỏ. Cơn mưa lông gà rơi mỗi lúc một nặng hạt. Tiếng vun vút đều nhịp theo từng giây.

Trong đầu của hết thảy đàn ông trên đời này, cơn tam bành vẫn thường hay đánh bại sự kiềm chế. Anh Xén cũng vậy. Và thằng Tính cũng vậy. Nó gào lên nghe như con chó điên vừa cắt đứt sợi xích. Nó nhào thẳng vô nhà, đẩy thật mạnh vào người anh Xén. Người đàn ông cầm cây chổi văng ra ngã dúi dụi vào cái chõng đánh rầm. Âm thanh đó giật bắn người hai đứa nhỏ. Còn chị, chị không còn sức để giật mình. Chị nằm ủ rũ, giương đôi mắt đỏ mịt mờ như có màn sương. Thằng Tính lại thét lên, giọng nó tràn tiếng hước:

- Ông đánh chỉ tới cỡ nào mới vừa lòng?!!

Anh Xén, người đàn ông bị hơi men bào mòn bao nhiêu năm trời, sức đâu mà hơn thua nổi với thằng thanh niên cơ bắp cuồn cuộn? Anh rên ư ư, tay ôm chiếc xương sườn vừa va vào cạnh chõng. Nhìn gã đớn hèn hết biết nói. Thằng Tính cúi xuống đỡ lấy chị. Bàn tay chị lạnh như cục nước đá quẳng ra ruộng muối. Nó bất giác thấy chơi vơi khi sa vào đôi mắt thăm thẳm vô chừng. Chị nói không phải bằng lời. Chị nói bằng hơi thở:

- Sao em xô chồng chị?

3.

Những ngày đầu mùa xuân, nắng sẽ vàng lên như lời thề hẹn. Cái vàng vọt hanh hao mà người ta hay ca tụng là vàng như rót mật, vàng ngọt vàng ngào. Ở cánh đồng trắng này, cơn nắng theo mùa là mở đầu cho những hy vọng. Mà hy vọng sẽ đi kèm theo nó là e sợ. Có thể nắng sẽ kéo dài tới dai dẳng, sẽ đẩy cho muối mặn lên đúng độ, rồi diêm dân sẽ thu hoạch trót lọt, tiền sẽ trở về túi, rồi mùa Tết tới sẽ ấm no. Hoặc là, như đời hay cười nhếch mép, trời sẽ quẳng ra vài cơn bão trái mùa. Rồi muối sẽ được mang trả về cho biển cả.

Cả cánh đồng trắng bây giờ còn lại thằng Tính và chị. Mỗi người một xó ruộng, đương đa đoan với nỗi niềm riêng. Nhân công chịu không nổi cái cảnh chủ thiếu nợ tiền lương, đã bỏ đi hết trọi. Ngay cả những ô nước này cũng không còn hoàn toàn là của chị. Vài ngày nữa đây, nếu không trả được hạn nợ này, thì người ta cũng sẽ tước hết của chị sạch trơn. Thằng Tính chỉ vái trời, lạy trời là đừng có mưa. Chỉ cần cố qua mẻ này thôi, chỉ cần những ụ muối kia được thu hoạch gọn ghẽ sạch sẽ thì bán đi cũng cầm cự được thêm dăm ba tháng nữa.

Rồi thằng Tính nhận ra chị đang nhìn nó. Chị nhìn trân trân, ánh mắt hắt hiu. Chị nhìn vậy có lẽ để thay lời cảm ơn nó đã không bỏ rơi chị trong lúc này. Nó quay đi chỗ khác, nó đã bao giờ nghĩ tới chuyện buông tay chị? Ngay cả khi chị lấy ông Xén, ngay cả khi chị đẻ một rồi hai đứa con? Chị càng xấu, càng già, càng khổ nó càng thương. Tình yêu gì mà nghe mặn lòi mặn chát vậy? Làm như thứ tình yêu xa tầm với nó làm người ta phải chạy theo hoài, như một quán tính vô điều kiện.

Trong khi đó, ở nếp nhà lá trong kia, anh Xén ngồi bó gối, ôm chai rượu, ngà ngật ngó ra hai người. Ổng tỉnh hay mê, không biết nữa. Ổng nhìn đất trời, nhìn ruộng muối, nhìn gió, nhìn mây. Ổng ngó cuộc đời bay bay thanh cảnh như tiên ông đương tu đạo. Anh Xén, sao anh không nhào ra đây mà cầm cây cào lên? Sao anh không ôm giùm cái cần xé mà khiêng giùm vài ký muối? Hoặc là sao anh không tan thành bọt biển cho rồi? Chớ anh sống kiểu gì mà như chết vậy anh Xén?

Hai con dã tràng đương se muối biển đông. Hai chấm đen làm nước gợn thành những vệt tròn đồng tâm, va vào nhau ở giữa ô ruộng.

- Chị dắt hai đứa nhỏ đi theo tui nghen?

Những con lăn tăn vỡ tan trên mặt nước. Nước soi màu trời xanh. Có đám mây rất dày, rất nặng, chầm chậm bay qua. Hai con dã tràng lặng im. Mặt nước cũng trở lại lặng im. Cả cánh đồng trắng mênh mông không còn một âm thanh nào len trên nước nữa. Chị lắc đầu, nụ cười buồn rớt lại trên sợi tóc mai.

Rồi có cơn gió lạnh đi ngang qua đồng nước. Dăm hạt muối mặn bay bay như phù du. Đám mây xám sững trân. Nó khóc. Từng hạt rơi lõm bõm. Từng vòng tròn mặn đắng hiện ra, hiện ra. Mặt ruộng như tấm kiếng vỡ toang, nhạt nhòa. Màn nước rơi xuống nhanh dần. Lòng thằng Tính lúc đó vừa nghe khúc ruột quặn lên thêm nút thắt. Trời mưa, nhưng trời vẫn đang nắng đây kìa? Mưa nắng?

Chị Thón, chân khẳng khiu, đang mang đôi giày vỏ xe, phóng những bước phóng chơi vơi thẳng về căn nhà nơi anh Xén ngồi. Chị chạy vụt ngang mặt anh. Anh thẫn thờ nhìn cơn mưa trái mùa về ngang xứ muối, mắt anh không chớp. Rồi từ trong nhà, chị kéo theo một miếng bạt cao su màu đen, chạy như bay trở ra ruộng muối. Miếng bạt rách teng beng ở đuôi.

Miếng bạt chấp chới. Chị Thón vừa chạy vừa khóc lên tức tưởi. Tại sao lúc anh đánh chị, chị không ứa nước mắt đi, mà bây giờ chị khóc òa lên như vậy? Miếng bạt phập phồng, phất phơ như cái lá khô bị gió chướng cuốn tung. Mưa rơi rào rào như hàng trăm mũi tên xuyên thẳng qua mặt ruộng, đâm thẳng vào lòng đất. Nước mưa ơi, mày xuyên qua đó, rồi mày đi vào đất, rồi… mày sẽ về đâu? Chị Thón chạy đôn chạy đáo khắp những ô ruộng muối. Chị chạy như con kiến bị dồn vô đường cùng. Vệt đen hết bay qua bên này rồi lại dạt về bên kia.

Thằng Tính chụp lấy đuôi miếng cao su trong khi chị leo thẳng ngang một ụ muối. Miếng bạt được căng ra. Mưa tuôn tuôn theo dòng, nhàu nhĩ, nhăng nhố, nham nhở. Nước bắn tung tóe. Hai con dã tràng bây giờ cùng nhau, hết se muối rồi lại muốn che trời? Ụ muối sụp một mảng lớn. Muối từ từ thấm qua lớp đất nện. Muối gặp gió lạnh, hòa vào nước mưa, đẩy nồng độ lên cao, lạnh như nước đá. Tấm cao su lại quầy quả bay sang một ụ muối khác. Lần này, ụ muối cũng lại gãy đổ thành một vết lăn trầm. Bước chân chị Thón chậm dần, đến ụ thứ ba, thứ tư, rồi hàng chục ụ muối cùng nhau biến tan thành nước mặn. Nước thênh thang theo nhau trở về biển Đông. Chị ngừng chân, đứng im, rồi ngồi phệt xuống đất, tư thế ngồi của đứa con nít vọc cát ngoài bãi biển. Dòng nước mặn chảy tràn qua đời chị. Miếng cao su đen rách đôi.

Mưa từ trên cao đổ ào ào lên mắt, lên môi chị. Mắt chị đang không nhìn gì cả. Chị nói một câu mà hình như không phát ra âm thanh. Thứ âm thanh thì thầm từ cổ họng chị tan trong tiếng rào rào. Thằng Tính nằm ngửa xuống cạnh chị, để yên cho cơn mưa gột rửa. Trái tim nó té sấp. Nó nhìn đôi môi bệch trắng của chị, tưởng chừng như nghe tiếng gọi “Anh Xén ơi…”.

Chìm dưới cơn mưa một ngàn năm trước

Mây qua mây qua môi em hồng nhạt

Chìm dưới cơn mưa một ngàn năm nữa

Mây qua mây qua môi em hồng vừa…

(Trịnh Công Sơn).

4.

Kể từ lần thằng Tính xông vào cứu chị, nghe chị oán trách tại sao nó xô ngã ông chồng nát rượu, nó không bao giờ qua nhà chị nữa. Nhiều đêm nó nghe tiếng hai đứa nhỏ ré lên não nùng, giữa đêm trắng chơi vơi, như con tu hú kêu trăng thê thiết vậy đó. Tiếng khóc thánh thót âm ba, thâm trầm bên dưới là tiếng đen đéc, như người ta hát bè. Thứ âm thanh nén chặt, nghẹn ngào. Nó cố gắng lấy gối dằn đầu mình lại để không nghe thấy, nhưng âm thanh vẫn dùng cách nào đó đi thẳng vào tâm trí nó mà không hề thông qua lỗ tai, màng nhĩ. Âm thanh có thể gieo trong nó một hạt nhỏ tật nguyền. Bóng cây đau đớn sẽ vung tàng che phủ mất khái niệm hạnh phúc trong lòng thằng đàn ông mới vừa lớn.

Đêm nay, như mọi khi, tiếng kêu khóc của hai đứa nhỏ nhỏ dần rồi biến mất thinh không. Nhưng… sau đó không phải là khoảng dài im lặng nữa. Không phải là đêm đen hất hàm kêu thằng Tính trằn trọc, tự vấn bản thân nữa. Ngay lập tức, liền kề đó là tiếng thất thanh. Tiếng kêu buồn thảm như tiếng xuống xề. Thằng Tính nhỏm dậy, ngó ra cái cửa sổ trăng đương chiếu loang loáng mấy ô ruộng ngoài kia. Nó trông thấy vài bóng người chạy cời cời, xuyên qua mặt nước biển. Nó nghe tri hô, nghe xạc xào, nghe phong thanh dập dờn ngoài đó. Diêm điền chông chênh.

“Muối dính vô mình là mặn mòi mãn kiếp. Người ta chỉ thoát khỏi đời muối được bằng một đám tang.”

Má đã từng nói vậy. Má nói đúng lắm. Thằng Tính chưa bao giờ nghĩ mình có thể làm gì khác ngoài muối. Nó sẽ đứng ở thênh thang những ô nước này tới cuối đời. Nó đứng đó, nghe mặt nước chao nghiêng mỗi lần một mảnh vàng mã rơi xuống. Đoàn người áo trắng khăn xô chầm chậm nối đuôi nhau hướng về phía biển Đông cuối trời, không kèn không trống, không nhạc không điệu. Chỉ rầm rì vài tiếng thở than, dăm ba tiếng rưng rức. Nó vướng phải đôi ánh nhìn hờn trách của hai đôi mắt ngây thơ nhưng đau đáu. Hai đứa con của chị Thón. Tụi nó đứa ôm di ảnh, đứa ôm lư hương, đã đi tít xa rồi còn quay đầu lại ngó thằng Tính. Thằng Tính đọc được trong cái nhìn đó là câu hỏi: “Tại sao hồi bữa chú không qua cản ba như mọi lần?”

Đoàn người đưa tang khuất dần sau mặt nước lăn tăn. Thằng Tính thấy lòng mình trống trải giữa ruộng muối cô liêu. Nó không còn mang thêm xúc cảm nào được nữa. Tất cả yêu, ghét, thù, hận, hạnh phúc, hay hy vọng cũng đã bể tan tành hồi hôm trước rồi, còn đâu? Hôm trước, khi người ta tới bắt chị Thón đi, nó biết lòng mình mới vừa hấp hối. Chị bước ra, trên đôi dép cao su vỏ xe, đạp lên muối, đạp lên nước biển, đạp lên lớp đất nện nhàu nhĩ, tan hoang sau trận bão nghịch mùa. Chị trao cho nó cái nhìn sau chót. Ông trời đâu bao giờ tiếc nắng với diêm dân? Còn chị, chị có tiếc nuối cái gì không? Chị có tiếc thằng Tính không, chị?

Khi chị đi, trời lại chuyển mưa. Thằng Tính nhác thấy xung quanh, dăm ba người diêm dân lại vác những miếng cao su đen chạy ra í ới. Có người còn cắm cọc tre, máng cao su che trên những ụ muối. Mớ cao su như những chiếc lá đen xào xạc bay bay trong cơn gió chướng lạnh băng. Ờ, đời dã tràng thì phải se cát biển Đông…

Rồi bao giờ chị trở về, có ai mà biết được? Thằng Tính gắng tìm một ai đó để mình đổ thừa, để bấu víu vô đó mà nhiếc móc. Tại trời hả? Tại muối? Tại cây chổi lông gà? Hay tại cây kéo bữa đó xui xẻo rớt từ trên nóc tủ xuống kế chị? Cây kéo sắt gỉ, phải mà mày lục nhách luôn đi chớ, sao chừa chi cái mũi nhọn hoắt để nó lỡ xuyên qua tim anh Xén làm chi? Bữa đó, khoảnh khắc mũi thép xuyên qua lớp da thịt bủng beo vì muối ăn, đi thẳng vào trái tim mặn đắng của người chồng đầu ấp tay gối, chị đang nghĩ gì chị Thón? Chị vô tình hay cố ý? Hay là… động tác đó là sự tự sát của chị?

Cuối cùng thì anh Xén cũng đã thoát khỏi đời muối bằng một đám tang. Chị Thón cũng ra đi biền biệt khỏi đời muối, từ một đám tang. Anh Xén chết thật rồi. Mà chắc… chị và nó cũng nghe hồn mình không còn hơi sức để mà sống tiếp nữa. Vậy còn… hai đứa nhỏ?

5.

Muối bao đời nay vẫn mặn. Biển vẫn sóng vỗ rì rào, vô cảm trước con người, thứ sinh vật mong manh nhỏ bé. Biển nói tao quẳng mặn mòi ra đó, tụi bây có thu về được thì lấy, còn không, kệ tụi bây. Sóng vỗ tới rồi rút về. Một năm, hai năm, mười mấy năm… cũng y như vậy. Nói cho cùng, cơ thể loài người cũng không thể thiếu muối được. Nghĩa là nghề muối vẫn sống, diêm dân vẫn tồn tại, đời này nối tiếp đời kia.

Chị trở về xóm ruộng muối, nghe chừng như tái sinh từ mấy kiếp. Khuất xa diêm điền, cả thế giới trong kia lắng đọng sau bốn bức tường. Từ hồi chị xa đời, có bao nhiêu thứ đổi thay mà chị không tưởng tượng ra nổi. Hồi xưa muốn gọi điện thoại phải chạy ra tiệm chạp phô đầu xóm, nay ai cũng có một cái màn hình vuốt vuốt rồi cười một mình. Hay hồi xưa muốn coi tivi phải xoay cái ăng ten, nay ngó khắp nóc nhà trong xóm không còn một cây sắt nào chống ngược lên vòm trời xanh nữa. Người ta nói với nhau bằng những từ ngữ rất lạ. Người ta chào nhau bằng những động tác rất lạ. Đời đi nhanh quá, nó bỏ chị bao xa rồi? Trong mười mấy năm xa đời đó, chị học được cái gì? Sự bình tâm hay là sự giải thoát? Mười mấy năm, nói thì dài, chớ chưa từng đứt đoạn bởi những cuộc viếng thăm. Ít ra trên đời còn thằng Tính, còn hai đứa con vẫn luôn mong chị trở về.

Những ô nước vẫn mênh mông xâm xấp. Cái nắng vẫn chang chang, gió vẫn thổi u u, và trông mây trông gió kia có thể là sẽ có mưa nắng. Chị cởi bỏ đôi dép cao su, bước lên mặt nước một lần bằng đôi bàn chân trần. Chị ngó xuống mặt đất nện thấy lạ lẫm, trơn trơn, bóng loáng. Cảm giác nước muối kết tủa lạnh ngắt thấm vào đôi bàn chân mình chị đã quên mất tiêu rồi, sau ngần ấy năm. Bây giờ cảm thấy sao khác quá, sao lạ lẫm quá! Đây có còn là diêm điền ngày xưa không vậy? Chị tưởng mình như con nhỏ 13 tuổi ngày xưa, lần đầu tiên vác cây cào to tổ bố đi ra đồng nước. Cả cánh đồng trắng mênh mông chơi vơi ôm lấy những dấu chân nhỏ xíu.

Chị nghe giọng thằng Tính kêu tên một người đàn bà vừa lạ vừa quen:

- Chị Thón, đi nhanh lên! Chị đứng đó làm gì?

Tiếng kêu vang xa từ bên kia cánh đồng trắng. Bên kia, thằng Tính và hai đứa con nhỏ, nay đã lớn, từ từ đi về phía chị. Trong bụng chị cuộn lên trăm tiếng nói khác nhau, đồng loạt hỏi lên nhiều điều rối rắm. Nhưng chị không bật ra được câu hỏi nào hết. Chị lẫn lộn trong mớ xúc cảm, ráng chọn lựa là mình nên khóc hay nên cười. Rồi đột nhiên, có vài giọt mưa lâm thâm bắt đầu rơi nhanh dần lên những ô muối.

Chị Thón giật bắn người, tưởng chừng như đó là những giọt axit có thể bào mòn cuộc đời. Chị trợn đôi mắt đã hằn vết chân chim, nhìn những ô muối đang kết tinh, rồi quay sang nhìn thằng Tính. Chị dợm chân dáo dác xung quanh, trông về phía mái nhà lá khi xưa, chỗ cái ngạch cửa anh Xén thường ôm chai rượu ngồi ngả nghiêng. Tấm cao su đâu, có tấm bạt cao su nào ở đó không?

Thằng Tính cười nhẹ tênh. Nó chỉ tay.

Chị nhìn xuống đôi bàn chân trần của mình. Lớp đen bóng trên mặt ruộng, nơi chị giẫm lên từ nãy đến giờ là cao su. Thứ cao su giống với loại ngày xưa chị dùng để che trời. Bây giờ, cho dù có mưa, muối có tan thì cũng không thấm vào đất, không chảy đi đâu nữa. Nó sẽ ở đó, lưu độ mặn lại, rồi chờ nắng nó sẽ lại kết tinh rất nhanh, trở về y rang như ban đầu. Muối vẫn hoàn muối. Giọng thằng Tính cà rỡn mà chị nghe như đang mếu:

- Che trời không đặng thì mình che đất. Che hết đất luôn, chị hen!

Và cơn mưa nắng vừa lúc đó đổ rào rào trên cánh đồng trắng. Những hạt muối vừa kết tinh lại tan ra, màu đen bóng của cao su xâm chiếm dần dần. Cánh đồng trắng phút chốc hóa thành màu đen.

Chìm dưới cơn mưa một người chết đêm qua

Chìm dưới đất kia một người sống thiên thu

Chìm khuất trong ta một lời nói vu vơ

Chìm dưới thiên thu là một đóa thơm tho.

(Trịnh Công Sơn).

Người đàn bà đi ngược gió

Người đàn bà đi ngược gió

Baovannghe.vn - Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Ban Chỉ đạo Trung ương họp phiên thứ Nhất về Phát triển văn hóa Việt Nam

Ban Chỉ đạo Trung ương họp phiên thứ Nhất về Phát triển văn hóa Việt Nam

Baovannghe.vn - Sáng 19/3, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam chủ trì Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo
Ngày hội non sông và trọng trách trước nhân dân

Ngày hội non sông và trọng trách trước nhân dân

Baovannghe.vn - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm đã có bài viết "Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân". Ban Biên tập trân trọng giới thiệu toàn văn Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm:
Xây dựng “thế trận lòng dân” - Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Xây dựng “thế trận lòng dân” - Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Baovanngnhe.vn - Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương Trần Thắng đã có bài phát biểu tại Lễ phát động Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Hai, năm 2026 của Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương. Văn nghệ xin giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí tại sự kiện.
Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương phát động “Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Hai, năm 2026” cấp Đảng bộ

Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương phát động “Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Hai, năm 2026” cấp Đảng bộ

Baovannghe.vn - Chiều 19/3, Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương tổ chức Lễ phát động "Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Hai, và phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức Hội nghị giao ban báo chí quý I năm 2026.