![]() |
| Minh họa Đỗ Dũng |
Công trình xây kiểu Đông Dương bề thế đó có bốn bức tường vuông vức, dựng hai lầu, lợp ngói son, quét vôi trắng ngà, sắp bốn toán lính khố xanh ngày đêm xoay vòng tuần tra. Lâu lâu, mấy cây súng thuốc đen chúng nó đeo trên vai lại loé lên ánh thép lưỡi lê bén ngót.
“Ba mươi sáu thằng!” Thằng Mót thều thào.
“Đông dữ vậy mầy? Rồi bây giờ làm sao?”
Giọng đáp lại khàn khàn, nghe rất khẩn trương, đó là một ông già chừng năm chục tuổi đang khom mình trong bụi cỏ, giương mắt dò xét.
“Thì mình tính rồi, lần theo mương, mở cống thoát nước, nhập nha vô!”
Ông già trầm ngâm, bây giờ phụ thuộc hết vào thằng Mót rồi, còn cách nào khác đâu? Nó là thằng ăn trộm tinh quái, óc quan sát và khả năng đột nhập xứ này hiếm ai bì kịp. Nhưng đám lính đó mà phát giác thì lập tức bắn liền, bỏ mạng như chơi! Chuyện này chỉ được thành công, không được phép thất bại!
“Ông sợ súng Tây hả ông Bảy Đương? Đừng có lo! Súng thuốc đen nó bắn đạn giấy, tầm bắn gần xịu à. Với lại mình trầm mình trong nước, giảm sát thương tối đa rồi! Hổng có sao đâu! Giữa hai lần bắn tụi nó phải mất một phút nạp đạn, khoá nòng, lúc đó mình lủi mất bà!”
Ông già biết thằng Mót rành rẽ võ khí Lang Sa, nhưng mấy món đó cướp bao nhiêu mạng người An Nam rồi, nó làm như đồ chơi vậy? Bảy Đương ngập ngừng, trong lòng đấu tranh tư tưởng dữ dội, bây giờ chuẩn bị hành động thì mới cảm thấy áp lực đè nặng lên vai. Ông nhắm nghiền mắt, nhớ lại lí do mình muốn làm chuyện này. Nhất định phải làm, có chết cũng phải làm, không thể khác được! Thằng Mót là dân du đãng, bụi đời mà còn dám liều mình vì nghĩa, không lẽ mình không dám? Lòng còn dùng dằng chưa quyết, ông già nghe thằng nhỏ trầm giọng:
“Ba phút nữa bắt đầu! Tui nhẩm kĩ rồi, sắp tới lúc đổi ca gác, là đoạn tụi nó sơ hở nhất! Ông lo cái gì, tui đã quan sát toà bố nửa tháng liên tục, không bỏ sót cái gì đâu!”
Ông Bảy Đương nhìn xuống xa xa dưới dốc gò, vài thằng khố xanh bắt đầu vươn vai, ngáp gió. Tụi nó lấy thuốc rê ra vấn rồi chia nhau hút. Đúng là sắp nghỉ phiên thiệt. Thằng Mót đã bắt đầu vén cỏ chui ra từ từ, khom mình, di chuyển trên ngón chân mà chìm dần vào bóng tối. Ông già lập tức bò theo, tim đập như trống trận, mồ hôi rịn ra hai bên thái dương. Hai người một già một trẻ đi như loài mèo, chầm chậm vòng qua mương nước, kiếm một chỗ khuất ánh đuốc, chui vô sau bụi chuối rồi nghỉ ở đó. Sương đêm bắt đầu thấu vô xương, lạnh buốt. Tiếng chim heo gù xa xa, rợn cả da gà. Thằng Mót lấy trong bị sau lưng ra một cái chai nhỏ, đưa trước mặt ông già.
“Cái gì vậy mậy?”
“Nước mắm nhĩ!”
Ông già hiểu liền, đúng là dân ăn trộm chuyên nghiệp! Nó đã tính trước hết trọi rồi. Xứ Rạch Giá này ven biển, dân chúng đa phần là làm nghề đánh cá, đã có mẹo uống nước mắm nhĩ để chống lạnh từ lâu đời. Bảy Đương mở nắp, nghe mùi mặn chát xộc lên. Ông ực một hơi hết nửa chai. Mùi vị quen thuộc của nước mắm làm từ cá cơm, không lẫn vào đâu được! Thằng Mót nhếch mép: “Chà! Quyết chí dữ hen!”
“Ông ở yên đây, bây giờ tui sẽ lặn một hơi xuống dưới, tìm cách cạy nắp cống ra. Rồi tui trở lên thông báo, lúc đó mình mới bắt đầu đột nhập vô trong toà bố! Nhớ lời tui, có chuyện gì cũng không được nhúc nhích!”
Bảy Đương gật đầu, hoàn toàn tin tưởng vào thằng ăn trộm kinh nghiệm đầy mình này. Nó men ra bờ mương, thò chân xuống, cả người dần biến mất vào dòng nước tối đen. Lúc chỏm tóc nó vừa mất hút, mặt nước rung rinh vài vòng tròn rồi trở nên tĩnh lặng. Không gian im phăng phắc, tứ bề chỉ còn tiếng tim ông già dộng thình thình trong lồng ngực.
Ông già sốt ruột ngó lên đầu thành, thấy một thằng khố xanh đương đi qua đi lại. Bảy Đương giật bắn mình, hình như nó đã ngừng chân, ngó lom lom xuống con mương. Hổng lẽ nó nhìn thấy mặt nước rung rinh mà sinh nghi sao? Ánh đuốc chỉ hắt loang loáng một khoảng gần đầu thành, không tới dưới này được. Hay là bóng trăng? Bữa nay là trăng lưỡi liềm, trời đất chỉ lờ mờ, mình đã coi mây coi gió kĩ lắm rồi, không thể nào?
Thằng lính khố xanh gỡ cây súng ra khỏi vai, kéo bệ khoá nòng cái “rốp”. Nó ngắm thẳng xuống phía ông già, khiến ruột ông quặn thót. Mấy giây trôi qua mà ông tưởng như thời gian kéo dài vô tận, nửa muốn chạy, nửa thì không dám. Nhớ lời thằng Mót, ông nín khe, nén hơi thở, chỉ nghe được gió nửa khuya chà sát lên lớp lông tơ dựng đứng trên da tay. Một chốc sau, thằng khố xanh dỡ cây súng xuống, trả nòng, gãi đầu gãi tai rồi quay lưng đi. Ông già thở ra cái phào, chắc nó nhìn không rõ, vậy là trời còn thương mình!
Thằng Mót trồi đầu lên ngay sau đó. Chỉ cần nó lên sớm hơn một chút là thế nào lính khố xanh lúc nãy cũng nhìn thấy. Viên đạn giấy mà thằng Mót trề môi chê khi nãy không chừng sẽ xuyên qua gáo nó cái “bụp”. Ông già rùng mình, trong khi tên trộm đã nhanh nhảu bò lên, núp vô bóng tối.
“Xong rồi! Mẹ bà, lỗ cống mà tụi nó cũng chơi khoá nữa! Mò cả buổi mới cạy được, mệt muốn xỉu!”
Ông già ước chừng thằng nhỏ đã nín thở, lặn cạy khoá chừng bốn năm phút. Nó nín thở được tới cỡ đó thì không phải tầm thường. Trong lòng ông, sự tin cậy bắt đầu dâng cao hơn. Thằng Mót hất hàm, ý biểu “đi thôi”. Khi nó vừa dợm chân thì thấy ông ta chụp tay mình lại.
“Mót! Nếu mà… mà… có chuyện, thì mày kệ tao, cứ chạy trước đi nghe?”
Tên trộm nhướng mày, lại cười nửa miệng:
“Ông coi thường tui hả ông già? Thằng này đầu đường xó chợ, chớ cũng biết nghĩa khí. Đã quyết định mần chuyện này rồi thì chết bỏ!”
Già trẻ nhìn vào mắt nhau, Bảy Đương siết nắm tay, mắt tràn một tia xúc động pha lẫn cảm kích. Nó nói đúng, chết bỏ! Một già một trẻ hít hơi sâu, bắt đầu lặn xuống con mương bao quanh toà bố. Mấy cây đuốc bên trên hắt xuống vùng nước đen đặc, cả hai dựa vào ánh sáng lấp loáng trên đầu mà định hướng bơi đi. Vừa chạm vào bờ thành, họ chúi xuống chừng một mét thì gặp ngay lỗ cống. Thằng Mót chụp vô vai ông Bảy, đẩy vào trước. Ông già đã non nửa hơi thở, bắt đầu thấy ngực căng tức, cố gắng rướn người bơi thật nhanh. Ống cống đó vậy mà dài ghê gớm, chẳng biết là dẫn tới đâu trong toà bố. Họ cứ quơ tay, đạp chân, lắm lúc cào trúng mấy mảng rêu bám trên lòng cống bằng đá. Mải miết tới khi sắp đứt thở, mắt hoa đi, Bảy Đương mới thấy một đóm sáng lờ mờ tuốt đằng xa. Thằng Mót trờ tới, cặp nách ông già, hai chân chống lên lòng cống, lựa thế đẩy bật người tới.
“Cộp!” Đầu Bảy Đương va vào vật gì cứng ngắc. Cú va chạm không mạnh, chỉ đau một chút thôi, nhưng khiến thằng Mót thất kinh hồn vía. Nó nhận ra miệng cống nhỏ quá, không thể chui lọt được! Thằng ăn trộm tự trách mình sơ ý, khi nãy tại sao không dò đường trước rồi mới trở lại đón ông già? Bây giờ bơi ngược trở lại thì làm sao ổng nín thở nổi? Nó tức tốc moi trong bị ra một cây cuốc nhỏ, khự cục đá chắn ngay miệng cống. Cũng may, ngâm trong nước lâu ngày, cục đá kia đã mòn đi nhiều, vôi vữa cũng bọng than hết rồi. Miệng cống không lâu sau đã khai thông, thằng Mót tức tốc lôi đồng bọn xuyên qua, trồi đầu lên trên.
Cả hai nghe không khí tràn vô phổi tức thì, hít lấy hít để, tưởng như chết đi sống lại. Ông già loạng choạng, bá vô vai gã trai trẻ, mắt còn trợn trừng sau cơn hú vía. Họ thấy nhau an toàn, mừng lắm, nhưng không ai dám lên tiếng. Thằng Mót nhìn quanh, thấy đang trầm mình trong một cái ao khuất sau căn nhà gạch nhỏ. Ánh đuốc từ phía trước chảy tràn lên mái ngói, vách tường, nhưng không chạm tới được chỗ họ vừa đột nhập.
“Mày… nhớ rõ đường đi tới hai gốc cây lớn không Mót?”
Tên trộm gật đầu. Trí óc nó hiện ra toàn bộ địa hình, địa vật, các khu nhà, các đường lính tuần tra. Kể cả mấy bụi cây, mấy cái giếng nước, nó đều nhớ rõ như in. Thằng Mót đã quan sát chỗ này rất kĩ từ trên cao, cộng thêm giả làm người giao rau thịt vào nhà bếp, rồi nửa đêm quan sát thói quen lính canh, mất hết mười bốn ngày như vậy. Đảm bảo quan tỉnh trưởng còn không rành toà bố bằng nó.
“Bây giờ ông khom lưng bò theo tui. Nhớ, đi chậm thôi, không được quýnh quáng. Đi nhanh tụi nó dễ nhìn thấy lắm!”
Hai người một già một trẻ vòng ra hông căn nhà nhỏ, di chuyển rất chậm trong bóng tối. Họ né hết những quầng sáng từ ánh đuốc cắm khắp nơi, cứ loanh quanh như hai con kiến lạc đường. Quẹo trái, đi bốn bước, quẹo phải, đi sáu bước, luồn qua bức tượng đồng, rồi lại quẹo trái, men theo bụi bông hồng. Ông Bảy Đương hồi hộp cực độ, tập trung tới nín thở. Trái lại, thằng Mót rất bình tĩnh, quay đầu liên tục quan sát tầm di chuyển của lính canh. Nó canh rất khéo, hoặc là đi ngang sau lưng, hoặc là lén qua góc khuất của tầm mắt tụi lính. Nó giữ khoảng cách rất xa, thà đi lòng vòng chứ không để một ngón chân nào dính vô ánh sáng hết. Ánh sáng bây giờ đồng nghĩa với cái chết.
Đột nhiên, thằng ăn trộm giang tay chắn trước mắt ông già. Bảy Đương giật bắn mình, cứng đờ như bức tượng không dám thở. Một thằng Tây không biết làm chức gì, đang rẽ hướng đi tới chỗ họ. Ông già trống ngực đập đùng đùng, nhấp nhổm không biết nên chạy hay không. Ông thấy thằng Mót án binh bất động thì không dám làm khác, chỉ cắn răng mà nén lòng xuống. Thằng Tây đó đã tới gần lắm rồi, chỉ còn cách chừng mười mét nữa. Dù là núp trong bóng đêm, nhưng tới gần nó cũng nhìn thấy mình vậy? Còn tám mét. Bảy mét. Năm mét… Trời ơi nó sắp đụng trúng mình luôn đó! Mót… mày sợ quá chết cứng rồi hả?
Vậy mà cuối cùng, thằng Tây quẹo qua phải, đi thẳng tới căn nhà gạch lúc nãy. Cơn nguy cấp mới qua, ông Bảy sợ tới mềm đầu gối, ngồi phịch xuống đất. Mãi tới khi thằng Mót khều, ra hiệu đi tiếp ông mới lồm cồm bò theo nó. Cả hai nấp vào sau vách một toà nhà rất lớn. Khi đó, tên trộm thì thào:
“Thằng Tây đó đêm nào nửa khuya cũng đi từ khu nhà mát bên kia qua khu nhà ở của nhơn công bên đây. Tui đoán nó mò đi tìm một con nhỏ phụ bếp nào đó!”
Thằng Mót cười lên hi hí rất nhỏ. Ông Bảy muốn lộn ruột, nguy hiểm cỡ đó mà nó còn giỡn được, tại sao nó không nói cho mình biết trước? Nó không sợ hả? Thằng nhỏ khi ấy trầm giọng, mặt đanh lại nghiêm túc:
“Khúc này không có đường nữa, phải leo vô cái nhà này, lên lầu hai tìm cách mò qua. Phía trước và tầng trệt là chỗ nghỉ của lính, đông lắm, không cách nào lẻn ngang được. Mà tui chưa vô cái nhà này bao giờ, không biết bên trong có cái gì. Thấy lúc nào đèn cũng lờ mờ tối thui…”
Bảy Đương xanh hết mặt mày.
“…mà tuỳ cơ ứng biến thôi. Ăn trộm là phải liều!”
Thằng nhỏ nhoẻn miệng, coi hiểm nguy giống như trò vô hại, cỡ cò chẹp hay nhảy dây vậy. Ông già mặt mày tái mét, chưa kịp phản đối là tên trộm đã nhảy phốc lên bậu lan can, chìa tay ra đợi. Không còn cách nào khác, ông già líu ríu chồm người nắm lấy tay nó. Họ tiến sâu vào hành lang, rẽ ngang ở một cầu thang, tiến lên lầu hai. Trên đó tối thui, chỉ hiu hắt vài ánh vàng xa xa hắt ra từ khe cửa phòng. Hai bóng đen di chuyển sát mặt đất. Quần áo họ còn ướt nhẹp, mấy thớ vải sũng nước cà vào nhau chèm chẹp.
Đoạn đi ngang một cái cửa lớn khép hờ, cả hai dừng chân. Ánh sáng vàng đang chiếu rạng từ cây đèn măng-sông cỡ lớn, kẻ một đường thẳng đứng theo khe, cắt dọc bức tường đối diện. Bây giờ đi xuyên qua tia sáng bén ngót đó có thể bị người ở trong nhìn thấy. Ông già kéo áo thằng trẻ, nhướn mắt. Nó làm dấu “suỵt”, dỏng tai nghe được tiếng ngáy đều đều phát ra. Thằng Mót ghé mắt nhìn, thấy một ông Tây mập bự đương ôm cô gái trẻ ngủ ngon lành. Nó bất ngờ, quay sang trợn mắt:
“Ông Bảy! T… thống soái Nam Kỳ!”
Thì ra đây là phòng ngủ của kẻ sếp sòng quân đội Lang Sa, đang đàn áp miền Nam dữ dội. Cái thằng tóc vàng mũi lõ đó thì có ai mà không biết? Ông Bảy chưa biết phải làm gì kế tiếp thì nhìn thấy tên ăn trộm mắt hằn tia máu, tay run lên bần bật. Nó bậm môi, thò ra sau, móc cây dao đeo ở thắt lưng. Bảy Đương điếng hồn, liền chụp tay nó lại mà gằn:
“Mày tính làm gì?”
“C…chém chết mẹ nó là hết chuyện!”
“Không được!”
Hai người đàn ông ghì tay cứng ngắt giữa hành lang, trong bóng tối, ngay trước tia sáng. Thằng Mót không hiểu, cơ hội này quá tốt mà tại sao ông già cản mình? Ám sát thống soái Nam Kỳ, rửa hận cho bà con, cho dù kéo năm chục anh em có súng ống tới đây đánh toà bố còn chưa chắc làm được. Huống hồ bây giờ, tên quan Tây đó không hề phòng bị, chỉ một cái vung tay là rồi đời.
“Mày nghe lời tao! Không được giết nó! Nó chết thì sẽ có thằng khác thế, không thay đổi chi được hết. Mà nó chết rồi thì tụi Lang Sa tàn sát khắp cái tỉnh Rạch Giá này để thị uy. Mày có muốn lớn chuyện vậy không?”
Tên trộm nghe mà mắt vẫn trợn trừng, nhưng trong lòng đã hơi lung lay.
“Mình tới đây không phải để giết một hai thằng Tây! Mày nhớ chưa?”
Thằng Mót mất một lúc mới ghìm sát khí xuống được, nhắm mắt gật đầu. Ông già nói đúng, chút xíu nữa là nó đánh mất sự bình tĩnh cần có của kẻ trộm. Ra tay xong thì hai thầy trò bỏ mạng lại đây luôn là cái chắc. Nó nhìn vào mắt ông già, thấy đôi mắt đục đó đang âm ỉ cháy một đóm lửa. Rồi, vậy là hai người nhẹ nhàng đi xuyên qua tia sáng, lại lẩn khuất vào phía tối cuối hành lang.
Họ phải mất gần mười lăm phút sau mới tìm được đường ra khỏi căn nhà lớn. Trót lọt hết, không một ai trong mấy chục thằng lính khố xanh khi đó biết sự có mặt của hai tên dân đen giữa toà bố. Họ cứ bò, cừ bò. Đất cát dưới chân cà sột soạt, nghe hơi lạnh mướt mát thấm vào tâm hồn. Một cơn gió đêm thổi qua, cái rùng mình kéo họ chậm lại một nhịp. Thời điểm đổi ca của lính gác sắp tới.
“Ông Bảy, bây giờ khúc này mình chỉ có một cách qua duy nhất, qua được chỗ này là tới hai gốc cây lớn. Ông nghe cho rõ nè…”
Mục tiêu cuối cùng ở trước mắt rồi, đây là thử thách cuối cùng. Ông già nhíu mày, ngó tên trộm lom lom.
“…Giữa khoảnh khắc toán lính trong trại đi ra, toán lính bên bờ thành sẽ quay đầu đi vô. Tụi nó sẽ đấu lưng với nhau một lúc khi di chuyển. Mình phải băng qua lúc đó, ngay chính giữa tụi nó!”
“Chỗ đó đuốc rọi sáng trưng mà?”
“Ờ, đúng! Nhưng không có đường nào khác hết, chỉ cần mình đi chính xác lúc đó thì không sao đâu!”
Ông Bảy Đương vuốt mặt mấy lần cho tỉnh táo, chưa kịp định thần thì đã nhác thấy toán lính trong nhà lục tục bước ra chuẩn bị thay phiên. Không còn thời gian suy nghĩ nữa, hai người bắt đầu bò đi, cố gắng không phát ra tiếng động nào hết. Vận tốc tụi lính đi thong dong nhanh hơn hai kẻ lén lút bò sát đất, rất khó canh thời điểm, nên thằng Mót cứ tăng rồi giảm tốc liên tục. Ông Bảy phập phồng, vừa nhón chân vừa hồi hộp muốn rớt tim ra ngoài. Chẳng thà là phá bót, nổi dậy khởi nghĩa, lao vô tử chiến với tụi nó, hi sinh thì thôi. Chớ rình rập kiểu này nó sanh ra áp lực còn lớn hơn gấp nhiều lần.
Hai toán lính vừa giao nhau, khe hở sau gót tụi nó lớn dần. Thằng nhỏ ra hiệu, cả hai nhanh nhẹn khom lưng di chuyển vào vùng ánh sáng bập bùng của mớ đuốc. Hai bộ bà ba đen ướt sũng hiện ra rõ mồn một. Dáng của hai tên dân đen vô danh tiểu tốt đang quày quả khúm núm luồn giữa những cái bóng to lớn kéo dài trên nền đất. Ánh lửa bập bùng. Bóng họ ngả nghiêng, chao đảo. Họ nhìn về bóng tối trước mặt, rồi lại liếc qua thấy mớ súng ống đang kêu lách cách theo bước lính đi. Chỉ còn xíu nữa thôi, tụi lính tới bờ tường, vào vị trí là quay phắt đầu lại quan sát. Chỗ trốn kia cũng gần lắm rồi, còn có mấy bước chân. Có kịp không?
Khi thằng khố xanh đầu tiên đứng đúng hướng gác cũng là lúc gót chân ông Bảy rụt vào bóng tối. Nó ngó một vòng quanh, thấy mọi sự vẫn bình thường. Ha! Cũng là một đêm trực lạnh teo, chẳng có gì khác hết!
*
Trời đêm xứ biển sao mà rộng lớn minh mông. Cái vòm đen thăm thẳm ấy bao trùm lên hết thảy từng hòn đá, hạt cát, dù là nhỏ nhứt. Hơi mặn từ biển đan vào không khí, cuộn theo một chút mùi tanh từ tôm cá phơi khô. Mấy vì sao dắt díu nhau chạy về cuối chân mây ngả xám. Một dòng ngân hà chấp chới trên đầu. Tiếng sóng biển vỗ bờ đâu đó phong thanh. Rì rầm, rì rầm.
“Ông Bảy, ông có sợ chết không?”
Thằng Mót bất chợt hỏi. Nó đang dựa vào một gốc cây lớn, mọc chơi vơi giữa sân toà bố. Ánh mắt tên trộm anh ánh trong màn đêm. Bảy Đương cũng tựa vai lên cái cây bên cạnh, song song, thẳng đứng chống lên trời. Mớ rễ của hai thân đại thụ quấn vào nhau kín mít dưới lòng đất. Ông già dàu dàu, không trả lời mà hỏi ngược lại nó.
“Mày nghĩ coi, lúc bị chặt đầu, ông Nguyễn có sợ chết không?”
“Dĩ nhiên là không!”
Ông Bảy cười, nụ cười rung rinh chòm râu ngã bạc:
“Lửa bừng Nhựt Tảo rêm trời đất
Kiếm tuốt Kiên Giang rợ quỷ thần!”
Đứa nhỏ nghe đôi câu thơ đó, mắt ngó một chiếc lá úa vừa rụng xuống, lơ lửng chưa chạm đất. Ông già đưa tay vốc một nhúm đất dưới chân.
“Dân làng chiếu Tà Niên của tao kì đó đương hơn trăm cái chiếu, trải từ khám lớn dài tới chợ Rạch Giá. Tụi tao còn muốn trải vô ngay sới đất chỗ ông Nguyễn bị hành hình kìa. Nhưng tụi Lang Sa làm dữ quá, rốt cuộc chiếu bị hất đi hết…”
Thằng Mót ngó trân trân mặt đất phía trước, làm như đang tận mắt nhìn thấy cảnh pháp trường ngày hôm đó vậy.
“Rồi tụi nó biết dân mình định thỉnh di hài ông về thờ, giấu cái xác luôn không cho ai rớ vô. Tụi nó sợ dân mình học theo ông Nguyễn, tiếp tục chống lại tụi nó chớ gì?”
Tên ăn trộm không nói gì, lấy sau bị ra một cây cuốc nhỏ. Ông Bảy Đương cũng rút trong thắt lưng ra một cây dao. Cả hai nhìn nhau, sau đó quay mặt về phía gò đất đắp giữa hai gốc cây cổ thụ. Họ bắt đầu đào.
Mây bay tới che kín mặt trăng. Bóng lờ mờ chập choạng của trời đất kéo giãn đồng tử hai kẻ người trần mắt thịt. Những thớ đất cát rõ dần trong bốn con mắt phàm. “Sực! Sực! Sực!...” Một giọt mồ hôi chảy theo chòm râu. Một chút chua cay men theo khoé chân chim. Ông già đăm đăm, tưởng như có thể nhìn xuyên qua mấy tấc đất kia, soi rọi vào không gian âm trầm bên dưới, thấy một cái hòm cây. Ở đây, là ở đây.
Thằng Mót giật bắn mình. Nó chụp tay ông già, đưa chân hất vội đống đất cát mới đào. Nó lôi sệt Bảy Đương vào một bụi cây gần đó. Ông Bảy ngơ ngác, chưa hiểu chuyện gì đã nghe tiếng bước chân. Loạng choạng, ngả nghiêng, xiêu vẹo. Một cơn say khướt, đủng đa đủng đỉnh. Đó là thằng Tây ban nãy lò dò về từ phía nhà bếp. Nó xong việc rồi, bây giờ trở ngược lại đây?
Lúc này, ngay cả thằng Mót cũng hồi hộp cực độ. Tình huống này nằm ngoài dự liệu, nó không đoán được. Thằng Tây đó nghe tiếng đào hay sao? Tên trộm siết chặt cây cuốc trong tay, sẵn sàng cho một đòn chí mạng. Thằng Tây tiến thẳng đến bụi cây hai thầy trò đang núp, dừng lại mà người cứ lệch Đông, ngã Tây. Nó kéo quần, một dòng nước nóng hổi chảy ra, tưới lên đầu ông Bảy đang núp bên trong. Thằng Mót trợn tròn mắt, trong khi ông già nhắm nghiền, cúi đầu, nghe nước từng dòng chảy dọc gò má, nhễu lõm bõm. Nước nhễu xuống đất, thấm vô cát. Nhẹ người, thằng Tây nấc một tiếng, hả hê quay lưng, đoạn khập khễnh đi về khu nhà lớn. Trời đất trở lại im bặt. Ông Bảy chẳng nói chẳng rằng, đưa tay lau mặt. Ông bò ra cái gò, vung tay đào lại từ đầu.
Thứ nước khai rình kia còn ướt đẫm trên đầu ông già, lâu lâu rớt một hột xuống cái huyệt đang được khai quật. Họ cứ đào, cứ đào, chẳng biết là bao lâu. Một tấc đất, hai tấc đất, ba tấc đất. Thằng Mót tự nhiên lạnh hết sống lưng, nổi da gà mà chẳng hiểu tại sao. Nó cả gan đột nhập vô toà bố, treo sanh mạng trên sợi chỉ mỏng te, nhưng nó không sợ. Bây giờ tự tay đào mồ Ông, nó lại sợ hay sao? Một luồng khí tức phát ra từ mặt đất, ôm trọn lấy hai bóng hình nhấp nhô. Tên trộm lầm rầm khấn: “Con lạy Ông, con lạy Ông…”
“Cộp!” Lưỡi dao chạm vào vật cứng, nghe giống tiếng ván cây. Một cái áo quan hiện ra nham nhở giữa hố huyệt. Trăng rạng lên, soi rõ từng thớ gỗ màu nâu sẫm. Ông Bảy kê dao vào cây đinh táng, bắt đầu cạy ra. Không mất quá nhiều thời gian, họ lần lượt tháo hết niêm phong nơi an nghỉ của ông Nguyễn. Mà không, đây đâu phải là chỗ để an nghỉ? Đây là đất dữ mà.
“Mày sẵn sàng chưa, mình đẩy cái nắp hòm ra!”
Tên trộm gật đầu, cả hai gồng tay, nổi gân xanh, phá vỡ phong ấn cuộc đời. Miếng cây chôn chặt dần trợt đi, mùi ẩm mốc bốc lên hăng hắc. Khi đó, một già một trẻ cùng trố mắt lên. Họ há hốc miệng, nghe cổ họng khô khốc. Bảy Đương lập tức thò tay xuống, rờ khắp bốn góc hòm. Da tay rà miết lên thớ cây, dằm vụn. Giọng ông nghẹn đi, tưởng như sắp khóc tới nơi:
“Ông… ông không có ở đây!”
Thằng trộm sững sờ. Đầu nó trước giờ chỉ chứa đựng một sợi chỉ thẳng te. Sợi chỉ đó, thường ngày nó nhảy lên tưng tưng giữa hai bờ sống chết. Nó đánh đu, nó chân sáo, phân định rạch ròi giữa liều mạng và hèn nhát. Vậy mà giờ này, sợi chỉ đó vò lại một cục, rối beng không sao gỡ nổi. Còn ông già Bảy? Ông ta quỳ sụp xuống đất, miệng còn lầm bầm:
“Tụi nó giấu ông ở đâu?”
Thằng Mót dụi mắt, định thần, liệu ngay chuyện rút lui. Thất bại rồi, thì cũng phải chừa cái mạng để còn làm lại thêm lần nữa chớ? Nó lôi ông Bảy Đương qua một bên, kéo tấm ván áo quan, lấp đất lại như cũ. Huyệt mộ bây giờ cảm giác như cứ giãn ra, sâu thêm, tới vô chừng. Ông già hốt từng nắm cát, tay run run đổ lên nắp hòm. Động tác đó giống cầm cục đất đầu tiên mà đổ lên huyệt lúc an táng vậy đó. Có điều nó đi ngược lại trình tự, ngược hết… Vội vã, tên trộm lôi tay ông già, trở ngược hành trình về nơi mình bắt đầu. Bây giờ là quay ngược lại chỗ tụi lính đổi ca, sau đó vòng qua phòng ngủ thằng quan Tây, rồi đi xuyên qua vườn bông, men theo nhà bếp. Họ lướt đi trong im lặng, lòng nguội như tro tàn, cảm thấy cả toà bố đang chao đảo, sụp đổ.
“Đùng!”
Tầm đạn bay xẹt qua mũi thằng Mót. Nó điếng hồn, theo phản xạ ngó về nơi tiếng nổ chát chuá đó phát ra. Một làn khói trắng nương theo gió, bay lên bầu trời khi ấy đã đột nhiên vần vũ những quầng mây đỏ sẫm. Tên lính khố xanh vừa bắn hụt, xoay báng, mở ổ đạn, nạp tiếp viên thứ hai. Tên trộm trong đầu chớp một tia sét, tức tốc đổi lộ trình, kéo ông già lủi vô một góc tường tối mịt. Tiếng mõ cây vang lên dồn dập, như đập vào đầu hai kẻ đột nhập những tiếng đay nghiến “Cốc! Cốc! Cốc!”
“Chạy miết! Không nhìn lại nữa! Thẳng tới cái ao!”
Đó là kế hoạch tẩu thoát vô cùng đơn giản của nó. Hết tốc lực, xuyên qua địa hình địa vật, lướt qua hết những thứ cản đường. Hai bóng đen guồng chân, những ánh đuốc cứ lập loè soi lên mình họ, rồi lại chìm vào trong khoảng tối. Sáng và tối thay nhau chơi đùa với hai thằng dân đen bị dồn sát tới đường chết.
“Đùng!” Lại bắn hụt. Thằng Mót biết mấy cây súng đó bắn xa dở ẹc hà, mình lại di chuyển kiểu này thì tụi nó nhắm trật lất hết. Hồi đó trên Nhựt Tảo, cũng do ỷ lại cây súng này mà tụi Tây bị nghĩa quân ông Nguyễn diệt sạch không còn một mống, không phải sao? Cả toà bố dậy lên náo động. Quân lính túa ra như kiến, tiếng kéo khóa nòng “rốp, rốp” bật liên hồi. Một tiếng hét thất thanh bằng tiếng An Nam:
“Có ăn trộm!”
Họ vòng ra sau nhà bếp, tiếng súng chỉ thiên thị uy nổ bôm bốp. Mùi thuốc súng đen cháy khét lẹt đặc kín phía lưng. Cái ao đây rồi! Còn mấy bước, nhảy xuống lặn một hơi qua bên kia là sống thôi! Thứ đạn sắt đó không bắn qua nước nổi, tụi lính cũng không thể đi xuyên qua tường mà bố ráp được. Bây giờ phải sống, để còn tìm cho ra mộ ông Nguyễn thật sự ở đâu chớ?
Tiếng nổ đanh gọn đó là âm thanh cuối cùng thằng Mót còn nghe thấy. Ngay sau đó là một tràng rít dài, ong ong xoáy sâu vào lỗ tai. Lồng ngực nó buốt giá, nghe như có gió Bấc luồn vào ống xương, xoáy thành trôn trong đó. Bảy Đương mắt bùng lên một cơn chói loà rồi tắt ngúm thành màu đen, khi bị thằng nhỏ dùng vai huých mình rớt tùm xuống ao. Mọi âm thanh lập tức bị dòng nước cắt ngang, chỉ còn đọng trong ốc tai ông hai chữ…
“Chạy… đi!”
*
Dòng Mê Kông xuôi mấy ngàn cây số từ thượng nguồn, đi vào đồng bằng châu thổ bằng hai cái đầu rồng lớn. Sông Tiền và sông Hậu tẻ ra, đổ về biển Đông bởi chín cửa sông. Từ chín nhánh nhỏ đó lại phân chia ra những đường nước chằng chịt, đan nhau như tấm lưới cá, bao trùm mọi sinh thể tồn tại cặp hai bên bờ. Một nền văn minh lớn lên từ những con nước. Chỗ như vậy, phương tiện di chuyển thuận lợi nhứt chính là ghe, xuồng. Người ta sống đời sông, còn sông thì lại sống như đời một con người.
Có chiếc ghe bầu nhỏ men theo những bờ lau sậy. Nó rẽ lục bình, xuyên qua cỏ bàng, tới neo cọc ở một mảnh đất xa xăm. Không hiểu ai truyền tai ai, rất nhiều người dân rủ nhau nửa đêm mò ra chiếc ghe đó. Họ đi từng nhóm một, mỗi nhóm năm bảy người. Đi suốt mấy đêm liền, miết tới khi hết tất cả người trong xóm thì mới thôi. Họ nhảy lên ghe, khoanh tay cúi chào một ông già, bước tới quỳ sụp lên manh chiếu Tà Niên nức tiếng. Nhang trầm vẽ những sợi khói, người dân dập đầu. Trên bàn thờ, cái lư hương đổ đầy đất cát châu thổ dần tràn những tàn tro trắng xám. Hai miếng bài vị viết bằng chữ Nôm, nét chữ thảo thô mộc, không hề bay bướm, nhưng rất cương trực. Người dân đa phần không biết chữ, nhưng ai cũng nằm lòng nội dung trên đó. “Đức Ông Nguyễn Trung Trực chi linh vị - Anh khí như hồng.” Tấm kia ghi “Chí sĩ ái quốc.”
Dân chúng cúng kiếng xong thì lục tục ra về. Ông già vuốt chòm râu bạc, chống sào rời bến đất. Vạt rừng tràm chấp chới, xa xa. Ông tiếp lửa từ cây đèn dầu trên bàn thờ, day qua con cúi, bước ra mũi ghe châm vào cây đuốc cắm trên đó. Ngọn lửa rạng dần, rạng dần, soi vào trời đất âm u. Con nước uốn éo xẻ xuyên qua rẻo đất. Nó thấy mình đột nhiên hết lạc dòng. Ngọn đuốc lung linh, khuất xa lắm rồi mà ánh vàng vẫn còn lấp loáng.