Sự kiện & Bình luận

Chỉ dấu mới cho kinh tế di sản

Mỹ Mỹ
Đời sống 10:00 | 15/02/2026
Baovannghe.vn- Ngày Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc đón Bằng UNESCO vào cuối năm 2025, Linh vật Voi Linh Sơn của Yên Tử xuất hiện như một lời chào và gợi mở trong cách tiếp cận mới với di sản.
aa
Chỉ dấu mới cho kinh tế di sản
Ông Jonathan Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam cầm trên tay Voi Linh Sơn bản thú nhồi bông.

Cùng lúc, di tích, danh thắng cũng ra mắt bộ vật phẩm văn hóa chính thức (merchandise) và hướng tới hệ thống hóa tài sản sở hữu trí tuệ (IP). Trong bối cảnh Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV lần đầu xác lập khái niệm “kinh tế di sản”, lựa chọn của Yên Tử gợi mở một hướng đi cụ thể cho công nghiệp văn hóa, sáng tạo của Việt Nam.

Chú voi con ở Yên Tử

Lễ đón nhận bằng Di sản Văn hóa Thế giới ở Yên Tử mang tính biểu tượng cho tư duy mới: linh vật Voi Linh Sơn chính thức ra mắt, đi cùng bộ sản phẩm lưu niệm và cấu trúc nhận diện được chuẩn hóa. Đây là linh vật chính thức đầu tiên của một di tích tại Việt Nam, được công bố ngay trong năm chuỗi di sản được ghi danh trên bảng vàng UNESCO.

Sự xuất hiện ấy đánh dấu một chuyển động có tính toán của đơn vị quản lý di tích, danh thắng. Họ chủ động bước vào không gian công nghiệp văn hóa bằng cách làm chủ câu chuyện, làm chủ hình ảnh và làm chủ cách di sản giao tiếp với xã hội đương đại. Trong đó, vai trò của linh vật được nhìn nhận như một công cụ tiếp cận thế hệ trẻ, giúp di sản hiện diện gần gũi hơn trong đời sống thẩm mỹ, truyền thông và trải nghiệm văn hóa.

Chú Voi Linh Sơn được lấy cảm hứng từ tên gọi dân gian Tượng Sơn (núi voi) của núi Yên Tử. Nó cũng gợi nhớ về huyền tích voi cõng kinh cho Phật Hoàng. Linh vật sẽ trở thành nhân vật chính trong các bộ truyện tranh, phim hoạt hình, sticker trên Zalo, nhân vật AI tương tác, thú nhồi bông, các vật phẩm văn hóa… kể câu chuyện về nhà Trần, về trường phái Trúc Lâm Yên Tử và về Phật Hoàng. Quan trọng, hình ảnh dễ thương, cùng các họa tiết tạo hình đời Trần khiến linh vật có thể kể câu chuyện về di sản gần gũi, hấp dẫn hơn với du khách nước ngoài và người trẻ.

Trao đổi với Văn nghệ, ông Jonathan Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam, nhìn nhận rõ ý nghĩa của cách tiếp cận này: “Tôi nghĩ việc Yên Tử ra mắt linh vật là một sáng kiến tuyệt vời. Đặc biệt là ngay trong năm mà nơi này trở thành di sản thế giới. Đây là một cách quảng bá rất tích cực đến thế hệ trẻ bằng cách giao tiếp với họ theo ngôn ngữ mà họ hiểu và yêu thích. Việc phát triển các sản phẩm chạm đến giới trẻ sẽ thu hút họ đến với Yên Tử để hiểu về tầm quan trọng của di tích đối với lịch sử và tôn giáo của Việt Nam. Tôi khuyến khích tiếp tục sáng tạo với những ý tưởng tuyệt vời này để giúp mọi người trân trọng và trở thành một phần của di sản văn hóa Yên Tử.”

Nhận xét ấy đặt linh vật vào đúng vị trí của nó. Linh vật thành một phương thức giao tiếp văn hóa, một điểm chạm ban đầu để công chúng bước vào thế giới biểu tượng, lịch sử và tinh thần của Yên Tử.

Con đường chưa ai đi

Việc Yên Tử lựa chọn thời điểm đón Bằng UNESCO để công bố linh vật và đường hướng xây dựng hệ thống lại tài sản sở hữu trí tuệ diễn ra trong một bối cảnh rộng hơn. Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV khẳng định văn hóa là nguồn lực nội sinh, là động lực và hệ điều tiết của phát triển bền vững. Đáng chú ý, dự thảo văn kiện cũng lần đầu đưa vào khái niệm “kinh tế di sản”.

Khái niệm này cho thấy một thay đổi quan trọng trong tư duy phát triển. Di sản được đặt trong mối quan hệ với tăng trưởng, sinh kế cộng đồng, công nghiệp văn hóa và sáng tạo. Kinh tế di sản vì thế là tổ chức lại mối quan hệ giữa bảo tồn, sử dụng và tái đầu tư giá trị di sản.

Ở điểm này, trường hợp Yên Tử mang tính minh họa rõ nét. Việc ra mắt linh vật và bộ quà tặng chính thức không tách rời khỏi một bước đi nền tảng hơn: phân mục, hệ thống hóa tài sản sở hữu trí tuệ qua đó quản trị di sản bài bản, căn cơ hơn. Điều đó cho thấy Yên Tử tiếp cận công nghiệp văn hóa bằng tư duy quản trị chứ không phải tự phát. Di tích xác lập trước các giới hạn, các chuẩn mực, các nguyên tắc sử dụng biểu tượng, rồi mới mở cửa cho sáng tạo.

UNESCO nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu cân bằng giữa bảo tồn và phát triển bền vững, trong đó di sản cần mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương và thế hệ tương lai. Ông Jonathan Baker cũng từng lưu ý rằng điều cốt lõi là tìm ra điểm cân bằng phù hợp để di tích vừa được bảo vệ, vừa đóng góp cho kinh tế và đời sống xã hội xung quanh.

Kinh tế di sản, theo tinh thần ấy, là một mô hình phát triển bền vững, không phải một cuộc chạy đua thương mại hay chỉ chăm chăm thúc đẩy du lịch mà không tính toán tới sức chịu tải của di tích, danh thắng. Tiếp cận di tích danh thắng từ biểu tượng phái sinh qua con đường sáng tạo có nghiên cứu và ngôn ngữ thiết kế chuẩn mực là cách làm đột phá và phù hợp.

Cuối cùng vẫn là cộng đồng

Một trong những rủi ro lớn nhất khi đưa di sản vào công nghiệp văn hóa là sự rời rạc. Biểu tượng được dùng theo cách riêng lẻ. Sản phẩm xuất hiện thiếu ngữ cảnh. Truyền thông chạy trước diễn giải. Khi đó, di sản dễ bị bẻ vụn thành các mảnh tiêu dùng ngắn hạn, mất đi mạch kể liền lạc.

Bởi vậy, điểm then chốt của kinh tế di sản nằm ở quản trị đồng bộ. Di sản cần được nhìn như một hệ sinh thái sống, nơi không gian thiêng, không gian giáo dục, không gian trải nghiệm và không gian tiêu dùng văn hóa được phân tầng rõ ràng. Trong hệ sinh thái ấy, cộng đồng giữ vai trò trung tâm.

Cộng đồng là chủ nhân của di sản, là lực lượng sống cùng di sản và tạo ra giá trị mới cho di sản. Không có sự tham gia cộng đồng, mọi nỗ lực đều là vô nghĩa. Câu chuyện di sản khi có sự tham gia của cộng đồng mang hơi thở đời sống, ký ức địa phương và tri thức thực hành, những yếu tố không thể thay thế bằng thiết kế hay truyền thông đơn thuần.

Trong cách tiếp cận này, mascot - linh vật hay merchandise - vật phẩm văn hóa chính thức là phương tiện: để di sản hiện diện trong đời sống hiện đại mà không đánh mất chiều sâu tinh thần; để người trẻ bắt đầu từ cảm xúc, rồi đi tiếp vào hiểu biết; để kinh tế di sản tạo ra giá trị nhưng vẫn quay trở lại nuôi dưỡng di sản và cộng đồng.

TS Lê Thị Minh Lý cũng lưu ý rằng mọi sáng kiến sáng tạo cần bám vào câu chuyện di sản đã được UNESCO ghi nhận, đặt trong một chiến lược bảo vệ dài hạn và nhất quán. Đó là cách để công nghiệp sáng tạo trở thành công cụ xiển dương (cách thức lan tỏa) giá trị di sản bằng ngôn ngữ của thời đại.

Nhìn từ Yên Tử, dù chỉ mới ở điểm khởi đầu, có thể thấy một gợi ý rõ ràng cho con đường phía trước. Kinh tế di sản bắt đầu từ việc chúng ta hiểu thực sự về di tích, danh thắng, có gì, được phép đi đến đâu và kể câu chuyện ấy bằng những hình thức phù hợp với xã hội đương đại. Khi quản trị di sản nghiêm cẩn, sáng tạo sẽ có đất để đi xa. Khi sáng tạo đi đúng hướng, di sản sẽ sống lâu hơn trong tâm thức cộng đồng.

Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa được xác lập như một trụ cột phát triển, và kinh tế di sản lần đầu được đặt tên trong dự thảo văn kiện Đảng, những bước đi như ở Yên Tử cho thấy một khả năng hiện thực hóa tư duy. Di sản bước vào đời sống mới, bằng sự chuẩn bị. Và chính sự chuẩn bị ấy mới là điều quyết định tính bền vững của di sản trong tương lai.

Ra lộ “chở” Tết. Tản văn của Thanh Vy

Ra lộ “chở” Tết. Tản văn của Thanh Vy

Baovannghe.vn - Sự thật rằng mùi Tết chẳng có gì xa lạ, nhưng phải chăng nó khó hình dung vì chỉ xuất hiện đúng một lần trong năm.
Mùi mẹ - Thơ Châu Hoài Thanh

Mùi mẹ - Thơ Châu Hoài Thanh

Baovannghe.vn- Giờ con mới biết mùi của mẹ/ thơm đến cay nồng mỗi khi
Quán Trung Tân - Thơ Nguyễn Thị Thúy Ngoan

Quán Trung Tân - Thơ Nguyễn Thị Thúy Ngoan

Baovannghe.vn- Văn bia Người dạy từng câu/ “Đạo Trung - Trí Thiện”* bắc cầu sang qua
Mùa khói trên nương. Truyện ngắn của Hà Hồng Nguyên

Mùa khói trên nương. Truyện ngắn của Hà Hồng Nguyên

Baovannghe.vn- Bây giờ đang là mùa khô, sắn trên các dải nương bắt đầu trút lá. Nhiều nhà vừa thu xong, cây đã chất lùm lên thành đống, khói loang lổ vồng lên, lượn lờ như loài yêu quái nuốt gọn viên cuội hồng nơi hừng đông xám cháy.
Gieo mùa - Thơ Nguyễn Thị Thanh Long

Gieo mùa - Thơ Nguyễn Thị Thanh Long

Baovannghe.vn- Chị gánh lúa qua đồi/ gió cuốn/ rơm bay về phía những ngôi mộ không tên tuổi.