Sáng tác

Mùa khói trên nương. Truyện ngắn của Hà Hồng Nguyên

Hà Hồng Nguyên
Truyện 08:00 | 15/02/2026
Baovannghe.vn- Bây giờ đang là mùa khô, sắn trên các dải nương bắt đầu trút lá. Nhiều nhà vừa thu xong, cây đã chất lùm lên thành đống, khói loang lổ vồng lên, lượn lờ như loài yêu quái nuốt gọn viên cuội hồng nơi hừng đông xám cháy.
aa
Mùa khói trên nương. Truyện ngắn của Hà Hồng Nguyên
Minh họa Phạm Hà Hải

Những người đàn bà chùi chũi ôm từng bòn sắn to, xé khói chất lên tàng cây sặc lửa. Giọt nhựa trắng, dính dấp chắt ra từ thân còn nhỏ ròng xuống đất.

Nếu cuộc đời mỗi con người là một loài cây, thì có lẽ An như thân sắn đã chặt lìa khỏi gốc, trơ lì và dai dẳng. Việc bám rễ vào đất đối với một cây sắn chưa bị đốt ngay khi chặt xuống nhanh và dễ hơn việc một đứa “cave” rình lấy tiền của những gã đàn ông nhẹ dạ. Mẹ An thường ví von đầy cảm tính và việc phải bức tử cây sắn, ngăn chặn chúng sinh sôi ngoài dự tính đối với bà không chỉ là công việc mà dường như còn là một niềm vui thú kì lạ. Ngoại trừ những cây sắn dài và khỏe khoắn giữ lại làm giống cho vụ sau đã được xếp đứng dựa vào thân những cây bông gòn. Số thân sắn còn lại được xếp chồng lên những ụ lá khô, củi dày kín kẽ và thẳng tắp. Khói đốt sắn tươi là thứ khói vừa cay vừa nồng, vị nồng của một thân tươi còn ròng nhựa bị nung lên đến chín, bị ép cho đến chết.

An xắn quần, lội qua đám cỏ mần trầu già xơ xác. Mặt trời rừng rực rọi soi da thịt. Mẹ An đang lúi húi cậy lên những củ sắn to, thấy bóng người, bà ngẩng nhìn An không một cảm xúc rồi lại nhìn xuống. Những củ sắn được đưa lên từ lòng đất nâu xám bạc. An cứ đứng im lìm ở đó, như đã quá chán với ánh nhìn dai dẳng của An. Mẹ mới ngước lên, cất tiếng nói khô khốc như ai đó dẫm lên một ụ lá khô giòn nát vụn “Cô về làm gì. Cô còn cần gì ở tôi.”

Những mùa sắn trước, tóc mẹ An không lởm chởm và muối tiêu thế này, ngực mẹ An không bủng beo xơ xác thế này. Thời gian, hay một điều gì đó vô cùng tàn nhẫn như một loài axit độc hại đã bào mòn mẹ, người phụ nữ từng lấy sắc đẹp và sự tự tin làm niềm kiêu hãnh. Mẹ An đẹp, như một loài hoa trên rừng, hoang sơ và nở bung mãnh liệt. Tóc mẹ dài, mềm và óng, bộ ngực luôn căng nức vun cao như muốn bứt từng khuy áo mà phơi nét xuân ra ngoài. Người làng bảo mẹ An đẹp, do không phải rút ruột sinh nhiều con như những nhà nông khác. Mẹ An chỉ sinh được mình anh Phúc và An, ấy là tuổi thơ An tưởng rằng như thế. Lớn hơn chút nữa, người lớn rỉ vào tai rằng An chỉ là con nuôi, được cha xin trên chùa về cho mẹ để vơi bớt cô quạnh khi trong nhà ngoài ngõ, có mỗi mình Phúc là bóng dáng trẻ con.

An vốn biết mình là con nuôi từ những năm học tiểu học. Cha mẹ không giấu chuyện nhận nuôi cô, vì khi cha bế An về cô đã hơn một tuổi. Một chuyện lẽ ra rất cần bí mật mà người làng đã biết cả thì nó không còn là bí mật nữa. An tốt số, cô tự cho là như thế mà mọi người cũng cảm thấy thế khi mẹ đẻ ra An vừa mang cô đến cổng chùa. Sư cô vừa mới cưu mang An được tròn ba tháng thì cha đã đến xin An về nuôi. Phúc bấy giờ tám tuổi, còn An chập chững lên hai. Cha mẹ không đổi tên cho An, vì cha bảo Bình An là một cái tên đẹp. Phúc cũng thích tên ấy, suốt ngày âu yếm hỏi “Bình An hôm nay đi học có vui không, có chòng ghẹo gì bạn không” mỗi lần đạp xe đến đón An sau giờ tan học. Ngày nghỉ, mè nheo mãi thì mẹ và Phúc mới cho An theo ra nương. Mùa sắn, trời nắng chang chang, An và Phúc vừa phụ mẹ nhặt sắn bỏ vào bao vừa khát khao tìm con chim rừng mòn mỏi kêu “bắt cô trói cột”. Nhá nhem tối, cha An chất đầy sắn lên xe bò, rong trâu kéo về. Bóng núi chìm vào đêm tĩnh mịch, văng vẳng từ xa xăm, tiếng chim “bắt cô trói cột” vẫn lẳng lặng dội về, buồn dai dẳng. An và Phúc luôn đi tìm sự tích loài chim có tiếng kêu lạ ấy, mẹ An bảo đó là cô con gái phú ông mải chạy theo anh lực điền đòi trâu mà chết. Đó là cái chết, là kết cục của lòng tham mà lòng tham nào cũng phải trả giá. Cha An ngồi lặng thinh, ngó nhìn anh em cô ríu rít bên mẹ. An luồn tay vào mái tóc dài óng ả thoảng hương thơm sả chanh và bồ kết. Cha An rất yêu chiều mái tóc ấy, những hôm rong trâu về muộn, ông vẫn rọi đèn ra góc vườn hái lá nấu nước cho mẹ gội đầu.

Nắng gắt, mẹ An buông con dao và nghỉ dưới gốc bông gòn. Những quả bông khô đang vào vụ chín, nở bung trắng muốt, mập mạp và tròn trịa. Gió thổi, từng chùm bông rụng cuống, bồng bềnh, phiêu bạt. Mẹ An vê một nắm sợi bông, châm lửa làm mồi đốt thuốc, bà rít những tiếng lọc sọc dài, miên mải nhả khói vào không gian, ánh mắt mơ hồ, lãng đãng. An tiến đến sát mẹ, lặng lẽ ngồi xuống một tảng đất to. Cô rót nước từ chai ra chiếc cốc, đưa cho mẹ. Bà dửng dưng không cầm. Rồi như cáu tiết với An, mẹ chộp vội chiếc cốc, hắt ra xa. Từng giọt nước hiếm hoi rơi xuống nền đất khô khốc thành tiếng lèo xèo nhỏ bé. An chực khóc, hốc mắt đã nóng ran. Mãi, mẹ An mới thả nặng nề cái điếu, dằn giọng: “Nhà này là của cô, cô muốn về cứ về, nhưng tôi với cô không có quan hệ gì cả.” Tim An hẫng đi, cổ họng nghẹn đắng. Mẹ nói rồi vơ vội con dao, hấp tấp đứng lên đi về phía những hốc sắn đã được đưa lên từ đất, củ chất ngổn ngang.

Từ trên cao này nhìn xuống, nương sắn như một chiếc cầu trượt dài, cỏ đuôi chó chen nhau xếp dày thành từng mảng ở những khoảnh đất mà cây chưa kịp trồng xuống. Dưới chân đồi, con suối lạnh lẽo quanh năm rên rỉ, dòng nước đổ về suối ấy cũng chia hai. Suối con uốn lượn quanh nương sắn nhà An bình thản, một màu xanh lục, chảy ra tới gốc sung già cùng nhập vào dòng nước rên xiết, hung hăng đập dồn vào đá. Bên trên gốc sung, ngày nhỏ Phúc thường dạy An tập bơi. Phúc bơi giỏi, ngụp lặn như một con rái cá. Còn An cứ đu vào thân chuối cho nổi dập dềnh. Kí ức theo nhau hiện về khiến mắt An nhòe nước, lâu lắm rồi nước mắt cô không thỏa thuê mà ướt. Gió thổi lật phật, chiếc bạt xanh chưa được trải đều sắn tung lên tứ phía. Mùa khô này, củ sắn nhổ lên thường được nhà An nạo vỏ và băm phơi tại chỗ, khô mới đóng bao đem về. Tiếng dao băm vào thân sắn chan chát, An nín lặng. Lâu rồi An không còn lên nương sắn, không cay xè mắt với khói đốt thân sắn oi nồng. Khi cha An dọn nhà, chuyển sang xã khác, An nhất quyết không đi. Mẹ cô lấy dao tự kề vào cổ mình. Bảo chỉ cần nhìn thấy An là bà muốn chết. An xách túi, miễn cưỡng rời nhà mà hốc mắt khô khốc. Giận bố, An không ở cùng ông mà thuê một phòng riêng cách bố vài cây số. Mẹ một khoảng trời, An cũng một khoảng riêng, tự xoa dịu vết thương mà có lẽ cả đời cũng không liền lại được.

An về nhà, chiếc cổng tre mục đã đổ sập xuống. Dây bìm bìm phủ kín chỉ còn vừa một lối đi. Cô đứng thơ thẩn, không biết mình phải làm gì tiếp theo khi trong lòng đã vô cùng trống rỗng. Cánh cửa nặng nề mở. Từng tia sáng nhọc nhằn loang ra, mùi âm ẩm, cô quạnh xộc lên. Trước mắt An vẫn là một khoảng nhờ nhợ tối. Cô đờ đẫn nhìn vào góc nhà, bát hương và di ảnh của Phúc đã được đưa lên ban. An chầm chậm bước đến, tay run run chạm vào gương mặt Phúc. Phúc cười tươi lắm, sâu thẳm, tê tái làm tiếng khóc bật ra. An cắn môi, cơ hồ đầu lưỡi có thể cảm nhận vị tanh mặn, buốt xót. Từ ngày Phúc chết, An học được cách giữ nỗi đau ở lại trong lòng. Nhiều lần chạy xe trên phố, cô vô định thả trôi tất thảy muộn phiền. Giữa những cây cầu lộng gió, gió rít khan, bợt bạt rũ tung da thịt. An khao khát thả mình, để gió thổi đi, để nước làm rã tan, tan hết mọi khổ sở. Lúc An đã phó mặc, định thả người vào khoảng không bất tận thì hình ảnh Phúc lại hiện lên. Cô thấy quanh mình một màu trắng xóa. Phúc đứng bên cạnh giường An. An vươn tay với lấy anh nhưng không sao chạm được. Phúc mỏi mệt bảo An hãy sống thay cả phần của mình. Rồi Phúc quay người đi, không bao giờ quay lại. An nặng nhọc mở mắt, tiếng kêu gào bất lực của mẹ chọc thủng màng nhĩ cô. Cha An quỳ phục dưới chân mẹ, mẹ cô thảm thiết rủa An chết đi. Tội lỗi là ở ông, tất cả ở tại ông. Ông đã đưa thứ quái quỷ gì về nhà, để bà tốn bao nhiêu tâm sức chăm bẵm nuôi nấng. Để giờ này vì chính nó, nó gián tiếp cướp đi sinh mạng người con duy nhất của bà. Giá như An đừng nhằng nhẵng đòi theo Phúc ra phố. An không vòi vĩnh đòi Phúc mua cho cô hết thứ nọ đến thứ kia ven đường thì Phúc đã không xao nhãng. Giá như khi Phúc hấp hối. Cha An đừng hoảng loạn kêu cầu bác sĩ cứu lấy cô. Cha An đừng đòi hút máu của ông để tiếp cho An vì cô chính là con gái ruột. Mẹ An đã không phát điên, những cú sốc đã làm bà phát điên. Đám tang Phúc, mẹ cô ghì chặt quan tài không cho người làng đem đi. Khi An xuất viện, bà quỳ sụp dưới chân cô, khóc lóc cầu xin cô trả lại con cho bà ấy. Bà sẽ nhường cha An lại cho An.

Suốt một mùa hè, nắng gắt gao nung đỏ da cháy thịt. An thường một mình ra sân, để từng mảng nắng bỏng rẫy làm ấm lên thân thể mình. Những ngày ở nhà, ruột gan An lúc nào cũng lạnh. Nhất là lúc mẹ quỳ dưới chân cô. Lúc cô nhận ra mái tóc dài của mẹ giống người trong ảnh mà cha An cất giữ. An hoảng loạn đốt hết, thu vén hết phần bí mật mà cha toan tính giữ riêng cho mình. Cũng mùa ấy, nhà An không dỡ sắn. Những cây sắn trên nương được đà thôi thổi lớn, củ phình ứ ra. Người ta trồng và dỡ sắn mỗi năm một vụ bởi giống sắn tơ mới cho nhiều bột. Nhà An vụ ấy để hoang, những thân trĩu cong sà xuống đất, tức khắc mầm lại nảy ra thành một cái vườn hoang không người chăm bẵm. Đến bấy giờ An mới hiểu, tại sao người làng phải đốt thân sắn cho chết ngay khi vừa chặt xuống. Bất cứ cái gì dễ bén rễ và nảy nở ngoài dự tính đều là một mối lo. Một trăm ngày Phúc, mẹ An tỉnh táo lạ thường, bà lẳng lặng đứng trước bàn thờ con, rồi bất ngờ rút cây kéo lao về phía chồng. Ông đứng lặng thinh, chịu trận. Tưởng như lưỡi kéo sắc lẹm đã cắm phập vào da thịt thì mẹ An quay ngược lại, cười ngờ nghệch đưa lên cắt phăng đi mái tóc mình. Bà dứt khoát, bén ngọt, từng lọn tóc rơi như thước phim quay chậm. Ánh mắt cha thất thần, khổ sở. An không rõ cha mình khổ vì điều gì. Vì sự quyết liệt của mẹ, hay vì thứ mà cha nâng niu trên người mẹ để soi ra hình bóng cũ đã bị hủy hoại tan tành. Xót xa làm An nín lặng. Cô không dám, cũng không cất lên nổi một tiếng nói nào để khuyên giải, để trấn an, để xin lỗi. Mẹ không đuổi An ra khỏi nhà, cũng không rủa xả hay nửa lời trách móc cha. Chỉ là bà phẫn nộ khi nhìn thấy An. Bà không thể ăn cùng mâm, không ngủ cùng giường và không động vào bất cứ thứ gì cha hoặc An nấu. Hàng ngày, mẹ An vẫn vác cuốc ra vườn sắn, mái tóc lởm chởm được bà buộc gọn bằng cọng dây thun. Từng sợi ngắn dài xô lệch nhau nhức nhối. Bà chặt, cuốc và đốt thân sắn không mỏi mệt. Cảm tưởng như chỉ cần để tay mình dừng lại. Tâm trí sẽ nở ra như một lọn bông gòn gặp nước, nặng nề và ngột ngạt. Về nhà, thế giới của mẹ gom lại thành hơn chục mét vuông trong căn phòng của Phúc. Ở đó từng đêm, những tiếng nấc nghẹn xáo động cô tịch. An cảm giác mẹ mình giống một con mèo, mắt sáng và xanh lên trong bóng tối. Mẹ An thích bóng tối đến mức ở các ô cửa sổ, bà bịt kín bưng bằng những tấm ri đô màu tối. Ánh sáng không lọt đủ vào để phân biệt ngày hay đêm.

An thẫn thờ trước ảnh Phúc thật lâu, chân tay cô dường như thừa thãi. Mãi mới lập cập bật lên chiếc quẹt lửa. Lửa vụng về phì ra ngọn leo lét. An run rẩy đốt hương. Ngày trước mỗi lần giỗ bà nội, An đòi châm hương phụ cha. Cô quen thói đưa miệng thổi tắt hương giống thổi tắt nến trong ngày sinh nhật. Phúc nhẹ nhàng dạy cô phẩy cây hương ngược gió. Anh bảo những thứ dâng cho người âm luôn cần được đối xử nghiêm cẩn và đường hoàng. Ở trên cao ấy, Phúc có rộng lòng tha thứ cho An? Có vị tha cô như ngày anh còn sống? Tự dưng An cảm thấy sợ hãi. Từ ngày anh đi, thế giới có Phúc luôn được An phong tỏa kĩ càng. Cô không dám nghĩ đến, cũng chưa từng đứng trước ban thờ mà thắp cho anh lấy một nén hương. Phúc không giống với cha, An có thể khóc cha, đều đặn trưởng thành bằng việc dậy sớm cúng cha ngày ba bữa cơm suốt bảy tuần ròng rã. Thế nhưng khi bốn chín ngày Phúc. An lê lết ôm vết thương còn rỉ máu lẳng lặng trốn khỏi nhà. Tiếng kinh cầu siêu sẽ làm An điên loạn. An chưa từng tin vào đức cứu rỗi ấy vì kinh Phật là để xoa dịu những người sắp bước vào cõi âm ti. Còn An không bao giờ tin rằng Phúc chết. Mọi thứ trong cô dường như là bí mật. Thế giới của cô và Phúc có chung một bí mật tưởng như không ai có thể chạm vào. An luôn gói ghém kĩ càng giống như gói một loài độc dược. Nhưng chính mẹ cô đã tàn nhẫn xổ tung ra. Câm lặng có cái giá của câm lặng. Và mẹ An đã nuốt vào trong lòng tất cả. Bà tin rằng Phúc vẫn quanh quẩn ở nhà này. Mọi sự xốc nổi của bà sẽ làm con trai mình đau đớn. Nhưng đúng một năm ngày giỗ Phúc. Cha An nói chia tay, nói giải thoát cho tất cả mọi người. Mẹ An gầm lên như một con thú trúng thương. Bà bảo ông lấy tư cách gì mà đòi giải thoát. Tội lỗi của ông có chết ông cũng không tẩy được. Nghiệp chướng của ông dù có đầu thai ba kiếp cũng không hết được. Ông biết gì không? Ông có biết là hai đứa con ông chúng đem lòng thương nhau không? Chúng thương nhau vì tin rằng chúng không phải anh em ruột. Người đàn ông gục ngã, bấu chặt lấy hai vai con gái mình như bấu một cọng cỏ èo uột mà xô đẩy, chất vấn. Trước mắt An một màu xám tối, cô ôm đầu rên rỉ, gạt tay cha và lê lết đến bên ôm chân mẹ xin bà đừng nói nữa. Mẹ An ngửa mặt lên trời vừa cười vừa khóc. Bà xổ tung, quăng quật cho bằng hết những uất ức đè nén trong lòng.

Rồi bao mùa sắn vẫn đi ngang như cũ. Vẫn không có nỗi đau nào bớt đi. Có chăng là sống quá lâu khiến đau thương cũng trở thành quen thuộc. Năm ngoái khi cha An gần mất. Cô nhờ người về hỏi mẹ. Có thể cho cha về nằm gần Phúc không. Mẹ cô ngây ngẩn, bà ngồi lặng thinh trong buồng tối. Thời gian co duỗi như một sợi chun mềm. Mẹ hết gấp vào, lại gỡ ra những chiếc áo của cha còn để lại. Hai nấm mồ một cũ một mới nằm cạnh nhau. An vạch ra đám cỏ xước để tìm gương mặt Phúc. Nền chữ trắng lạnh trên bia mộ tối đen, không có ảnh. Đó là lần đầu, An thừa nhận nỗi đau và chấp nhận sự thật. Đã từ rất lâu rồi, Phúc không còn nữa.

Bữa cơm tối vụng về có rau muống và cá khô. Cá An tìm được trong bếp còn rau cô cắp rổ ra vườn. Hai mẹ con không ngước mắt lên nhìn nhau, chỉ có tiếng bát đũa va vào nhau lạch cạch. Vội vàng cho xong bữa, mẹ An không nói không rằng quẳng vào trong buồng cô chiếc chăn mới. Đêm đầu tiên trở về nhà cũ, An không ngủ được. Kể cả khi về nhà mới, cơn say ngủ cũng thường khước từ cô. Mẹ An cũng không ngủ, nửa đêm, bà dậy nhóm lửa trong thau rồi thả vào mấy quả bồ kết khô. Trước đây nhà An không bao giờ đốt bồ kết, đã quá lâu cô không được về nhà nên không rõ mẹ có thói quen ấy từ khi nào. Nhưng có một điều, những bóng đèn cũ không được thay mới chứng minh rằng mẹ An vẫn quen nếp sống cũ, luôn tự mình mò mẫm trong bóng đêm. Tờ mờ sáng, mẹ An đã vác cuốc ra nương. Cô chồm dậy, chạy ra cửa ngó theo, bóng mẹ nhỏ dần rồi mất hút. An tự nhủ, nhất định hôm nay ở lại nhà, cô phải dọn sạch dây bìm bìm trước ngõ và thay mấy cái bóng đèn mới tinh.

Tags:

Chỉ dấu mới cho kinh tế di sản

Chỉ dấu mới cho kinh tế di sản

Baovannghe.vn- Ngày Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc đón Bằng UNESCO vào cuối năm 2025, Linh vật Voi Linh Sơn của Yên Tử xuất hiện như một lời chào và gợi mở trong cách tiếp cận mới với di sản.
Quán Trung Tân - Thơ Nguyễn Thị Thúy Ngoan

Quán Trung Tân - Thơ Nguyễn Thị Thúy Ngoan

Baovannghe.vn- Văn bia Người dạy từng câu/ “Đạo Trung - Trí Thiện”* bắc cầu sang qua
Gieo mùa - Thơ Nguyễn Thị Thanh Long

Gieo mùa - Thơ Nguyễn Thị Thanh Long

Baovannghe.vn- Chị gánh lúa qua đồi/ gió cuốn/ rơm bay về phía những ngôi mộ không tên tuổi.
Vó ngựa  chiều cuối năm. Truyện ngắn của Nguyễn Anh Tuấn

Vó ngựa chiều cuối năm. Truyện ngắn của Nguyễn Anh Tuấn

Baovannghe.vn- Trời đã về chiều, bóng tà uể oải đổ những vệt vàng úa lên mái hiên ngôi dịch trạm bên con đường thiên lý Bắc - Nam.
Miền đất hứa. Truyện ngắn của Nguyễn Minh Tuấn

Miền đất hứa. Truyện ngắn của Nguyễn Minh Tuấn

Baovannghe.vn - Cáo Fennec sống ở sa mạc. Nó có một cái tai rất to, là cái máy phả nhiệt nên cái nóng ở sa mạc không làm gì được nó.