Những ngày cận Tết ở quê, con đường mòn bốc lên hơi đất se se lạnh. Có một điều dường như đã trở thành quy luật ở quê tôi, rằng mỗi nhà đều phải sắm vài ba chậu bông thọ trước nhà để đón Tết, đó là mùi của đất trời. Vào đến sân trong, các anh, các chú kê ghế lặt lá mai, nâng niu từng nụ hoa chớm xanh chớm vàng, đó là mùi của những khởi đầu mới. Các chị, các mẹ ngồi ngay ngắn bên cạnh, tính toán xem năm nay cần mua bao nhiêu nếp, bao nhiêu thịt, bao nhiêu đậu xanh, đó là mùi của sự đủ đầy. Sắm sửa xong xuôi, các thành viên trong gia đình lại thay phiên nhau dọn dẹp nhà cửa, đánh bóng lư đồng, chuẩn bị mâm cúng, đó là mùi của sự gắn kết.
Và còn một mùi nữa, là mùi đặc biệt nhất!
Cứ đến độ hai lăm, hai sáu tết, mấy đứa nhỏ như tôi lại cong lưng trên chiếc xe đạp cũ, nhốn nháo chạy việc khắp xóm làng. Có đứa chặt lá chuối về gói bánh tét, có đứa mua thịt về cho mẹ kho tàu, có đứa bẻ khổ qua mang ra chợ bán sớm, cũng có đứa chở sau lưng cả cái “Tết” nhà mình. Yên sau xe tôi cũng thường hay chở “Tết”, chở “Tết” về nhiều đến mức nở hoa, toạc ra cả một mảng mút đệm màu vàng nhạt. Mấy bông hoa ngày ấy được mẹ tôi khâu tạm bằng chỉ buộc bao bố, vậy mà qua bao năm vẫn chẳng hề rách ra.
![]() |
| Mai vàng - Ảnh: Pixabay |
Trong kí ức tôi của những ngày bé xíu, Tết là mùi xăng xe khách nồng nặc ngoài lộ, là sự trở về của những người thân yêu đi học, đi làm xa nơi tôi gọi là nhà rất nhiều. Họ mang váy áo về cho bọn trẻ con chúng tôi xúng xính, mang bánh mứt về cho mẹ trưng lên mâm, mang câu đối về cho ba treo trước cửa, mang trà thơm, sâm quý về cho ông bà, và hơn hết là mang chính họ trở về để nhà tôi được vẹn tròn chữ Tết. Đó là mùi của sự đoàn viên!
Nhưng không phải năm nào nhà tôi cũng được ăn một cái Tết đúng nghĩa. Tết chỉ về khi mẹ tươi cười sau cuộc gọi từ phương xa. Ngược lại, dù mẹ vẫn cười, nhưng nụ cười khác lạ của bà cho tôi biết năm ấy nhà ta không thật sự có Tết. Dù sao, tôi vẫn sẽ cố chấp đạp xe ra lộ ngóng chờ từ một tuần trước Tết. Vậy mà có đôi lúc, tôi thật sự chờ được điều tôi mong chờ.
Nhường lại tay lái cho người lớn, tôi núp sau bóng lưng đã phần nào thay đổi nhưng chẳng có lấy chút xa lạ, vừa ôm đồ vừa líu lo kể những chuyện trong nhà. Con mèo Mun được nhặt về năm ngoái đã đẻ lứa đầu tiên, vườn rau bên hông nhà phải nhường lại một góc cho mấy cây đu đủ mật, tháng trước ngoại bị bệnh nhưng giờ đã khỏe hơn rất nhiều, cổng rào trước nhà bỗng dưng mọc dại mấy dây hoa hồng leo, em Su và em Gạo đợt rồi thi được ba cây mười tròn, và còn ty tỷ câu chuyện nữa mà tôi chẳng thể nhớ hết chỉ trong mấy phút đạp xe trở về nhà từ lộ.
Say sưa kể hết chuyện này đến chuyện khác, vậy mà khi ngoảnh lại, bờ vai vững chãi trước mắt tôi đã thu bé lại tự lúc nào, chốc chốc còn nấc lên từng nhịp. Người lớn cũng có lúc khóc nhè sao? Nhưng họ không bù lu bù loa như bọn trẻ khóc đòi kẹo, cũng không khóc nghẹn đỏ mặt như em bé khát sữa sau giấc ngủ trưa. Nước mắt của họ giấu nhẹm sau cặp kính cận dày cộm, sau lớp khẩu trang vải ngoại tôi may cho mỗi năm một lần, và sau cả bờ vai che nắng chắn giống để nhà tôi được no ấm, để ý kĩ lắm mới nhận ra bờ vai ấy khẽ run lên. Thì ra người lớn cũng cần được ôm ấp, được vỗ về. Và Tết ở đây, để ôm ấp, vỗ về những đứa trẻ trốn mãi sau vỏ bọc của người lớn, sau những lo toan bộn bề của cuộc sống mà chẳng cho phép bản thân được trở về nhà, làm một đứa trẻ.
Những năm trở lại đây, trong nhà lại ít dần những đứa trẻ đạp xe ra lộ chở “Tết”. Có lẽ, chúng bận làm người lớn nên những cái Tết xa quê lại ngày một nhiều thêm.
Thanh Vy