![]() |
| Minh hoạ: Đặng Tiến |
| LTS: GS, TS, nhà văn Trình Quang Phú vừa ra mắt cuốn truyện kí thứ hai viết về Bác Hồ giai đoạn từ tuổi thơ đến khi Người rời Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước mang tựa: “Người đi muôn trùng non nước”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản. Chúng tôi trích một số đoạn ở chương cuối của tác phẩm nói về giai đoạn Bác rời Phan Thiết vào Sài Gòn vào dịp 23 tháng Chạp, và Người có cái Tết duy nhất ở Sài Gòn. |
Thành đơn giản trong bộ áo trắng, guốc mộc. Huệ tay xách chiếc giỏ cói, gọn gàng trong bộ cánh bà ba, áo chít ly, ôm gọn thân hình, làm nổi bật khuôn ngực tròn đầy sức thanh xuân. Tất Thành im lặng mê mải ngắm trời đất, ngắm khung cảnh mà anh chưa từng gặp. Hai người đi nhanh về phía chợ trên bờ sông. Thành reo lên:
- Ồ, o Huệ xem cả khúc sông đầy hoa.
- Ừ. Mà anh biết không, các thuyền đó từ Bến Tre, Mỹ Tho, Đồng Tháp Mười, có cả Lái Thiêu, Thủ Dầu Một... Họ đến đậu và bán từ giờ đến chiều 30 Tết. Có nhiều thuyền các nơi đến mua sỉ, trên bờ là khách mua lẻ thôi.
- Ừ. Nhiều loại hoa và cả trái cây nữa.
- Trái cây để cúng Tết đó anh. Nhà nào cũng dưa hấu đỏ, mãng cầu, bưởi, vú sữa, có nhà trưng dừa, có nhà trưng măng cụt, có nhà trưng cả nải chuối, nói là tượng trưng cho bàn tay Phật, nhưng phải đủ năm loại.
- Gọi là ngũ quả phải không?
- Đúng rồi anh.
Hai người đến bên bờ kênh Bến Nghé, thuyền bè đậu thành hai, ba hàng kéo dài hết bờ kênh, toàn hoa và hoa.
Thành nhìn dọc theo con kênh, gần cả trăm chiếc thuyền lớn nhỏ nối nhau. Mỗi thuyền là một sắc xuân: Mai vàng nhú nụ, khoe cánh, rồi huệ trắng, lay ơn, thược dược, mồng gà. Màu vàng chiếm ưu thế, đó là cúc, là trường sanh, và đặc biệt là vạn thọ. Khách đi chợ hoa, ai cũng mua vạn thọ.
- Anh thấy nông dân nhà mình giỏi hông? Mỗi nhà trồng một vài thứ hoa, quả, rồi họ rủ nhau mang đến đây, tạo nên một dòng sông hoa. - Huệ nói.
- Họ giỏi thật.
Huệ chọn mua một cặp dưa hấu, mấy thứ trái cây, ba chậu vạn thọ còn nguyên đất. Thành hăng hái xách quằn cả tay.
Huệ kiếm được đôi quang gánh cũ và mượn được hai cái thúng, cô chất hết trái cây và hoa và gánh chạy nhịp nhàng phía trước. - Thành đi theo, nói:
- Tết ở ngoài quê tôi mưa phùn, rét lắm. Với lại chợ ở quê nhỏ không đông như ri.
- Anh thấy đó, một sông đầy bông hoa và trái cây.
- Đẹp hết sức, lần đầu tiên trong đời tôi được thấy và được đi rảo chợ tết nổi trên sông lạ thường như ri.
- Mỗi năm cứ Tết đến, họ bắt đầu bán lai rai từ 23 tháng Chạp, lúc đầu là gạo, là nếp, là đậu xanh, rồi bánh tét, khô cá, lạp xưởng, pháo và giấy đỏ có viết chữ Phúc. Càng gần tết, càng nhiều hoa. Và rất nhiều người không phải đến để mua, mà đến để xem hoa, xem chợ nổi. Đẹp quá, em muốn là nó sẽ còn mãi.
- Huệ nói không sai. Cái chi trở thành tiềm thức, thành thông lệ của dân ta, thì nó sẽ là một nếp văn hóa của nơi đó, thì nó sẽ trường tồn mãi.
*
Đêm giao thừa Tết Tân Hợi đã đến. Tiếng pháo nổ từ góc phố này qua góc phố kia. Tiếng còi tàu thủy kéo lên, pháo nổ rền cả thành phố. Ông Hai Hưng kéo mọi người ra sân và châm ngòi đốt tràng pháo. Pháo nổ giòn tan trước sự hân hoan đoàn tụ của các ông Nghè Mô, ông Phó bảng Sắc, ông Hồ Tá Bang, ông Bùi Văn Tiêu, Nguyễn Tất Thành và cha con ông Lê Trung Hưng. Tràng pháo nổ, khói pháo tỏa ra mù mịt như làn sương nhẹ, làm cho mọi người thấy lòng nhẹ lâng lâng và vô cùng ấm áp, mọi người vỗ tay và trở vào thắp hương trên bàn thờ. Huệ đứng sau lưng Tất Thành nói khẽ vào tai:
- Anh nhớ rước linh mẹ về ăn Tết.
Dâng hương xong, tất cả ngồi quanh mâm cỗ đón giao thừa. Huệ bưng bánh tét mặn và bánh tét chay có màu tím của đậu đỏ và màu vàng của đậu xanh chạy thành hai vòng tròn và dưa món, củ kiệu, một đĩa xoài và tôm nõn khô mời mọi người. Thấy Huệ cẩn thận bê trái dưa hấu to ra, ông Hai Hưng nói:
- Ừa, con chẻ trái dưa trước, xanh vỏ đỏ lòng lấy hên năm mới.
- Ừ, đúng đấy. - Ông Ba Tiêu hưởng ứng.
Huệ và Thành cắt dưa ra 8 miếng, Huệ đưa dưa mời từng người, ông Hồ Tá Bang lấy một miếng đưa cho Tất Thành nói:
- Miếng dưa đỏ đầu năm, các chú mong hiền điệt dù có gặp gì, thì lòng vẫn đỏ.
- Dạ, con cảm ơn các chú, nhất định như rứa ạ.
Thành quay qua lấy một miếng mời Huệ:
- Huệ cũng vậy nhá, năm mới luôn có vận đỏ.
Mọi người vui vẻ.
Lê Trung Hưng tay cầm ly rượu, tay cầm miếng dưa nói:
- Ta khai tiệc đầu xuân, chúc các đại huynh sức khỏe, an khang thịnh vượng.
Champagne nổ, bọt trào trắng xóa, mọi người cười hả hê vừa lòng. Mọi người hào hứng cạn ly với ông Phó bảng. Ông Sắc rót cốc rượu nữa, giơ lên và nói:
- Nguyễn Tất Thành, giờ con là cánh chim bằng1, con phải nhớ: làm trai thì nợ nước là nợ lớn nhất. Đã là cánh chim bằng thì không được gãy cánh, phải bay đến nơi về đến chốn, con hãy nhận sự trao gởi của các chú. Đó là tình cảm to hơn biển cả, cao hơn đại sơn, con hãy lấy đó làm sức mạnh.
- Dạ, thưa cha, thưa các chú, con nhớ và con sẽ cố gắng.
Nguyễn Tất Thành đã có một cái Tết đặc biệt giữa Sài Gòn trước lúc đi xa. Anh thấy lòng bồn chồn, rộn vui và cũng nặng lo, nặng nghĩ bởi con đường phía trước. Làm sao để xứng với tình cảm to lớn, sâu sắc đầy ý chí ái quốc của cả lớp cha, chú. Tất Thành nhớ từng lời của Thượng thư Cao Xuân Dục, của cố Thượng thư Đào Tấn, nỗi niềm tâm sự ở xứ Duồng của chú Nghè Mô, của các chú bạn thân hữu của cha, và đặc biệt là sự dặn dò của cha.
*
Vừa dưới tàu thủy gặp thuyền trưởng Michel xin việc và được ông nhận làm thủy thủ. Tất Thành lên bờ, tìm ngay đến miếu Linh Sơn2, một ngôi miếu linh thiêng của người Sài Gòn, ông Nguyễn Sinh Sắc đang ở nhờ gian nhà phía sau miếu, để ngày ngày đến tiệm thuốc bắc Trường Thọ Viên xem mạch, kê toa. Ông Nguyễn Sinh Sắc mới từ đồn điền cao su Phú Riềng trở về, thấy Thành đến, ông vội đưa con vào nhà và hỏi:
- Công việc răng rồi con. Chú Nho có giúp được không?
- Thưa cha, mọi việc ổn cả. Các chú ai cũng tận tình. Con vừa dưới tàu “đô đốc” Latouche-Tréville lên. Viên thuyền trưởng rất tử tế, tử tế như thầy Queignee ở trường Quốc học ngày trước vậy cha.
- Ừ, thực dân Pháp thì xấu, chứ dân Pháp thì nhiều người tốt lắm con.
- Ông thuyền trưởng đã nhận con, từ mai con là thủy thủ rồi, ngày mồng 9 tháng 5 này, tức thứ hai ngày 5 tháng 6 lịch tây con rời bến rồi cha.
- Ôi, tốt quá, nhanh vậy răng?
Ông Sắc nói xong lặng im, suy nghĩ một lúc rồi nhìn Tất Thành với tất cả sự trìu mến: Vậy là có đường rồi, tốt rồi. Ông im lặng để nén xúc động, xúc động vì mừng, xúc động vì sẽ phải chia tay con trai, không biết ngày gặp lại. Ông nhìn Tất Thành và nhắc lại ba chữ: “Có đường rồi” và nói tiếp: - Nhưng… hôm con đi, cha không còn ở Sài Gòn, trên đồn điền họ cần cha chữa bệnh cho phu cao su nghèo khó.
Thực ra, ông Sắc không muốn có mặt trong giờ phút chia tay đó, vì nó sẽ làm cho Nguyễn Tất Thành bịn rịn mềm lòng. Ông quyết định đi Bình Long ngay để tránh cảnh chia tay khó xử.
- Vậy hả cha? - Thành thưa và thấy lòng bồi hồi.
- Ừ. Con ngồi xuống đây, chiều nay ăn cơm chay với cha, coi như buổi chia tay, mai cha đi rồi. Hôm nay, cha con mình nói cho hết ý, lâu nay cha và con đã bàn nhau nhiều lần. Giờ cha muốn tổng lại với con.
- Dạ.
- Qua bên đó, xem chuyện xứ họ làm, so chuyện xứ mình sẽ sáng hơn. Con phải tìm cho ra vì sao nhiều vị đã cùng toàn dân đứng lên mà không thành. Có tìm được nguyên cớ, thì sau này mới may ra.
- Dạ.
Hai cha con đều im, một khoảng lặng giữa hai người. Trong Tất Thành nhiều câu hỏi đặt ra…
Ông Nguyễn Sinh Sắc chuyển giọng:
- Thành này, còn một điều nữa, cha muốn nói, đó là chuyện con và Huệ. Cha biết hai con phải lòng nhau, Huệ nó thương con thật lòng và nó rất xứng đáng với con, nhưng con vì nghĩa lớn phải ra đi. Con phải nói với nó có đầu có đuôi, nó mà chờ con là lỡ đời con gái đó. Nói cho khéo, đừng làm khổ nó, con hiểu chưa?
- Dạ, con hiểu, thưa cha.
- Phần cha, con đừng lo. Bỏ cái vòng kim cô làm quan trên đầu là cha vui rồi, cha ở đâu cũng giúp người nghèo được, chữa bệnh, dạy học… nên lúc nào cha cũng sống được. Cái lo lớn nhất của cha lâu nay là tìm con đường cho con. Nay được rồi là cha vui. Làm trai con nhớ, nợ lớn nhất là nợ nước. Đền được nợ nước là báo hiếu lớn nhất cho cha, cho dòng tộc, con hiểu chưa?
- Thưa cha, con hiểu.
- Lớp của cha và các bác, các chú muốn hết sức, đã làm hết sức, nhiều người quyên khu báo quốc (có nghĩa: hi sinh thân mình vì Tổ quốc), nhưng vẫn chưa làm được điều mong muốn. Ông Sắc nhìn Tất Thành rồi bật lên một câu chữ Nôm: Trưởng giả chí ư hậu duệ (có nghĩa lớp đi trước gởi gắm chí hướng cho lớp cháu con).
Tất Thành khoanh tay đáp:
- Thưa cha: Tiền hiền tân hỏa, tương truyền bất tức (ngọn lửa của đấng cha ông mãi mãi được lan truyền).
- Tốt, nhớ nhá, con không chỉ “tử thừa phụ” (con nối chí cha), mà là làm thay cho cha, cho các bác, các chú.
Tất Thành đứng dậy xúc động nghẹn ngào, anh đưa một ngón tay lên trời như một cách tuyên hứa và nghiêm túc nói:
- Thưa cha, con hứa! Con hứa với cha.
Nước mắt Tất Thành trào ra. Ông Sắc xúc động nắm và lắc hai vai Tất Thành nói trong nghẹn ngào:
- Cha chờ tin con.
Buông tay khỏi vai Tất Thành, để xúc động trôi qua, ông lại hỏi:
- Còn việc ni, ra đi gia tài con có được bao nhiêu?
- Thưa cha, xuống tàu con có lương rồi, lo chi. Số tiền các chú ở Liên Thành cho con đã nhờ đổi ra đồng quan Pháp.
Tất Thành móc trong túi ra mấy đồng bạc Đông Dương tròn có đường kính bằng hai đốt ngón tay giơ lên và nói:
- Con còn 10 đồng, con xin được phụ cha những ngày mới vô xứ ni.
- Không, con đi đường xa nhiều bất trắc, đừng lo cho cha, gia tài con chỉ mấy đồng bạc, kể chi.
- Thưa cha, tiền thì con không nhiều, nhưng con có tài sản lớn lắm, đó là sự trao gởi của cha, của các chú.
- Con nhớ, cái lớn nhất là truyền thống vĩ đại của dân tộc Việt. Gia tài ni sẽ giúp con thành người giàu có.
Ông Nguyễn Sinh Sắc đứng nhìn kĩ con trai, cảm thấy dù đang xúc động, lòng vẫn nhẹ nhàng. Bỗng ông bật lên: Lập chí dĩ đạt, thủ chí dĩ thành.
(Nghĩa là: có chí khí thì đạt, giữ vững ý chí thì sẽ thành công).
Biết cha nhắc mình phải giữ vững ý chí để giành lấy thành công, nhưng trong đó cha muốn nhắc đến hai chữ Đạt và Thành là tên của hai anh em mà ông đã đặt ngày “nhập làng”. Nguyễn Tất Thành vẫn đứng và nghiêm túc thưa với cha:
Chí dĩ lập, tâm dĩ quyết
Túng vạn trùng, diệc đạt thành.
(Có nghĩa: chí đã chọn, lòng đã quyết thì dù có muôn trùng gian khó vẫn đạt đến thành công).
Tất Thành nhấn mạnh lại ba chữ: “diệc đạt thành” để nhắc lại với cha hai cái tên mà cha đã đặt cho hai anh em là Tất Đạt và Tất Thành. Đồng thời, cũng muốn nói với cha nhất định anh sẽ đạt được thành công.
Ông Nguyễn Sinh Sắc ôm chầm lấy hai vai Tất Thành vỗ, vỗ và lắp bắp: “Cha yên tâm rồi, cha yên tâm rồi.”
Sáng Chủ nhật của tuần đầu tháng 5 âm lịch, Tất Thành rủ út Huệ đi thăm vườn Bách thảo Sài Gòn3.
*
Hai người đã qua khỏi khu vườn thú, đi lần đến bìa vỉa rừng có thảm cây cao đầy bóng mát, họ dừng chân bên gốc cây thị to tỏa nhánh. Dưới gốc có một khúc cây được vạt và bào nhẵn mặt làm ghế ngồi. Thành nói:
- Mình ngồi đây nghỉ chân nói chuyện một lúc.
- Dạ!
Bỗng Tất Thành bâng quơ hỏi Huệ:
- Lúc ở Huế, em có nghe chuyện vua Hàm Nghi, vua Thành Thái chống Tây không?
- Em có nghe lỏm khi cha anh với cha em và các chú bàn chuyện quốc sự. Sao anh hỏi chuyện này?
- Huệ này, em nghĩ gì về chuyện quốc sự.
- Em là thân gái thì nghĩ được gì.
- Ái quốc là của tất cả mọi người mà em. Hôm nay, anh muốn nói với em chuyện nớ. Anh suy nghĩ hoài, muốn tìm xem có cách chi để những mong muốn của tiền nhân, của cha chú có thể làm được, nên anh định sẽ đi ra nước ngoài để xem ra răng?
- Trời, anh định đi đâu?
- Anh đi sang xứ Tây.
- Anh không nói giỡn chứ? Ở xứ mình khổ, anh đi tìm nơi sung sướng phải không?
- Nỏ phải em. Ở đây có cha, có các chú. Chú Hưng và em xem anh như người trong nhà, có chi sướng hơn là sống trong khung cảnh đó. Anh biết đi là gian khổ, là khổ lắm, nhưng anh phải đi để cố học được điều chi đó mang về giúp dân mình.
- Anh đi một mình, thân cô thế cô vậy sao?
- Anh sẽ cố gắng.
- Lấy tiền đâu anh đi?
- Anh xin làm thủy thủ tàu Viễn dương để đi, tiền là ở đây em. - Thành giơ hai bàn tay ra để khẳng định.
- Em biết cái chí lớn của anh. Giờ em mới hiểu vì sao các bác gọi anh là cánh chim bằng. - Huệ dừng lại nhìn Thành và hỏi tiếp: Nhưng chừng nào anh đi?
- Ngày mai anh xuống tàu.
- Trời, mai anh đi thiệt sao? - Huệ nhìn Thành ngơ ngác, thất thần, hai hàng nước mắt trào ra.
- Nhưng…
- Nhưng mà mần răng?
- Anh đi, em buồn… Em nhớ…
- Huệ à, anh biết em thương anh, anh cũng thương em lắm. Nhưng đạo làm trai, cha dạy nợ nước phải đền. Anh cảm ơn em thời gian qua đã giúp cho anh nhiều.
Nói đến đây Thành lấy ra một gói nhỏ bằng vải đỏ đưa cho Huệ và nói:
- Anh có kỉ vật này, đây là chiếc lược của mẹ anh để lại, nó vốn là lược của cha anh tặng mẹ, bà dùng nhiều năm, khi bà mất anh giữ suốt một thập niên để làm vật kỉ niệm bất ly thân. Nay anh trao lại cho em, em giữ lấy. Anh muốn nói với em điều ni: Anh đi không biết khi mô về. Em đừng đợi.
Cầm chiếc lược trong tay, nước mắt càng giàn dụa hơn, Huệ nói:
- “Tín vật định tình”4 anh trao, em xin nhận, anh hãy an tâm. Cha ở nhà để em lo. Anh đi, em chờ… nói đến đó Huệ nghẹn ngào nấc lên.
Thành nắm chặt tay Huệ.
- Em đừng khóc, nhớ nhau là quý, nhưng đừng chờ anh, lỡ đời con gái.
Huệ nhìn Tất Thành và nói như khẳng định:
- Không!
Sau những khoảng lặng vì xúc động, hai người đứng dậy, sánh vai đi ra trạm tàu hơi Jardin Botanique nằm ngay xế cửa vườn Bách Thảo. Thành nói:
- Chú Hai Hưng hẹn anh chiều nay về nhà em ăn cơm.
- Hèn chi, cha biết anh đi, mà kín như bưng, chỉ dặn em chuẩn bị món gì đãi anh.
- Giờ anh về Chợ Lớn lấy tư trang, chào các chú, các anh ở Liên Thành, rồi về nhà em. Tối nay, cha em bảo anh ở lại để tâm tình.
- Thế chứ.
- Rứa là răng? (thế là sao?).
- Thì chí ít nhà em cũng giữ được anh đêm cuối cùng.
Huệ nói và nhìn Thành với đôi mắt long lanh mừng rỡ, thể hiện một tình cảm sâu sắc. Nhưng ngay sau đó, như nhận ra điều thiêng liêng hơn, cô nói bằng âm Hán Nôm:
- Đắc giao như quân, vinh hạnh chi chí (được có anh là niềm vinh dự). Cô nói thêm: “Dư chi sơ vinh, duy quân dã” (Em lấy làm vinh hạnh khi có anh, và chỉ có anh mà thôi).
Thành vỗ nhẹ vào vai Huệ nói nhỏ:
- Ngày mai hành khử, anh sẽ luôn dặn lòng thương ký5 của em (ý: mai anh đi xa, lời em nói ghi sâu trong lòng anh). Như sợ nói âm Hán Nôm chưa hết ý, Thành nói thêm: Câu nói vừa rồi của em là một động lực theo anh suốt đời.
*
Sáng thứ hai, ngày 5 tháng 6 năm 1911, tức mồng 9 tháng 5 Tân Hợi. Sài Gòn trời tạnh, không mưa. Mặt trời chiếu sáng rực rỡ. Chú Hai Hưng hỏi Thành:
- Cháu coi hành trang đủ chưa?
- Dạ, đủ rồi, đơn giản mà chú.
- Huệ xách một túi cói nhỏ từ dưới bếp lên.
- Em chuẩn bị cho anh mấy thứ này:
- Khoai lang! Thứ này sẽ chống say sóng rất tốt, anh ăn nhớ rửa sạch. Còn đây là gói rim gừng, em đưa cho anh luôn củ gừng già nữa và chai dầu Nhị thiên đường, anh bỏ trong người để phòng khi gió máy.
- Em chu đáo quá, thế này làm sao anh quên được. - Nguyễn Tất Thành nói.
- Anh không được dùng chữ quên nghe.
- Thế em muốn dùng chữ chi?
- Em muốn bỏ chữ quên, lấy chữ nhớ nè.
Nguyễn Tất Thành “à” lên một tiếng và cười nói:
- Học trò của ông Phó bảng dùng từ chuẩn quá.
Huệ cắn môi, liếc nhẹ Nguyễn Tất Thành:
- Ghét cái anh này!
Ông Hai Hưng đưa Thành một đoạn rồi nói:
- Thôi, cháu đi. Nhớ bảo trọng và nhớ rằng: Tư trị thông giám (ý nói thành công không phải một sớm một chiều, phải kiên nhẫn).
- Dạ, cháu hiểu. Cháu xin cảm ơn chú.
- Huệ đưa anh con ra bến tàu.
Ông Hai Hưng nói xong quay lại để giấu đi sự xúc động và không muốn nặng lòng bịn rịn.
Nguyễn Tất Thành và Lê Thị Huệ dừng lại bên hiên Hotel d’AnNam6. Huệ đưa một gói nhỏ xíu bọc bằng giấy nhật trình7 và nói:
- Đây là 5 bông hoa Huệ, em lặt tỉa từ bình hoa Huệ anh cúng mẹ tối qua, tượng trưng cho ngũ hành, cho sự phù trợ để anh đi xa.
- Ôi!
Tất Thành nín lặng mấy giây, đè nén cảm xúc, rồi nói:
- Cảm ơn em. Em ở lại mạnh khỏe và luôn như ý nhá.
- Như ý của em là anh mau trở về.
- Ừ, chưa biết khi nào về, nhưng anh nhất định sẽ về.
- Về phải tìm nhau.
Huệ vừa nói, vừa tháo chiếc khăn rằn đang quàng trên cổ và choàng vào cổ Tất Thành:
- Trời Tây lạnh lắm. Anh nhớ giữ ấm.
Nhìn Thành với tất cả sự thương yêu, Huệ nói:
- Anh hứa đi.
- Em bảo anh hứa gì?
- Hứa… mau về.
Một lần nữa, Huệ tức tưởi. Thành một tay giữ giải khăn rằn, một tay nắm chặt bàn tay mềm mại ấm áp của Huệ.
- Em hãy nín đi, nhất định anh sẽ về. Em cười lên để tiễn anh chứ.
- Dạ!... Anh phải nhớ rằng… anh là muối của đời em.
Huệ nhìn khuôn mặt đầy cương nghị với đôi mắt hiền dịu yêu thương của Thành và nở nụ cười trong nước mắt:
- Anh đi… mau về.
Nguyễn Tất Thành buông tay Huệ, dằn lòng, bước nhanh về phía cầu tàu của Thương cảng Sài Gòn, nơi ấy có con tàu Năm Sao sẽ đưa anh rời Sài Gòn, rời đất nước Việt Nam, để băng qua sóng to, biển lớn, tìm đường tháo xiềng gông nô lệ cho dân tộc thân yêu của mình.
------------------
1. Cánh chim bằng: là hình ảnh ẩn dụ trong văn học và triết học Phương Đông, tượng trưng cho sức mạnh, vóc dáng phi thường, bay xa vạn dặm, tượng trưng cho vươn tới trời cao, mang hoài⁹ bão lớn, vượt qua giông bão khó khăn để bay đến đất.
2. Miếu Linh Sơn mấy năm sau được tu sửa thành chùa Linh Sơn nằm trên đường Cô Giang, Quận 1.
3. Vườn Bách thảo Sài Gòn, thành lập năm 1865, sau được đổi tên là Thảo cầm viên Sài Gòn.
4. Chữ Nôm có nghĩa vật kỷ niệm cho lời hẹn ước.
5. Âm Nôm Hành khử: có nghĩa lên đường đi xa. Thương ký: có nghĩa ghi khắc trong lòng.
6. Nay là khách sạn Majestic.
7. Giấy nhật trình tức là giấy báo in.