| Nước là nơi biểu thị sâu sắc sự suy kiệt của môi trường sinh thái, vừa bị tác động sâu sắc bởi hành vi của con người vừa tác động trở lại và buộc con người phải đối diện với những đứt gãy trong mối quan hệ với tự nhiên. |
Trong ký ức văn học Nam bộ, nước vốn là biểu tượng của sự sống và hành trình mở cõi. Từ Đất rừng phương Nam (1957) của Đoàn Giỏi đến các trang viết của Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc, sông nước luôn hiện lên như một không gian văn hóa, nơi lưu giữ ký ức khai phá và nuôi dưỡng đời sống cư dân miền Tây. Dẫu đôi khi dữ dằn, khắc nghiệt, dòng nước nhìn chung vẫn hiện lên như một nguồn sống bền bỉ, đóng vai trò như một người Mẹ dung dưỡng và chở che con người. Bước sang thế giới nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư, tiêu biểu qua truyện ngắn Nước như nước mắt (2009) và tiểu thuyết Sông (2012), hình tượng nước không còn là cảnh quan thiên nhiên hiền hòa nâng đỡ đời sống con người. Nước là nơi biểu thị sâu sắc sự suy kiệt của môi trường sinh thái, vừa bị tác động sâu sắc bởi hành vi của con người vừa tác động trở lại và buộc con người phải đối diện với những đứt gãy trong mối quan hệ với tự nhiên. Từ góc nhìn phê bình sinh thái, bài viết cho rằng thông qua hình tượng nước được thể hiện qua hai tác phẩm trên, Nguyễn Ngọc Tư đã phản ánh mối liên hệ không tách rời giữa khủng hoảng sinh thái và khủng hoảng nhân sinh, từ đó đặt lại vị thế con người - tự nhiên và đề xuất thái độ tôn trọng tự nhiên.
Đúng như tiêu đề, tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư gợi ra môi trường sông nước Nam bộ quen thuộc, song, điều đáng chú ý, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên được đặt trong thế đối nghịch. Thay vì chung sống hài hòa như trước, con người không ngừng lấn chiếm, khai thác và hủy hoại, đẩy sông đến trạng thái suy kiệt. Dòng sông hiện lên trong tiểu thuyết với một cơ thể đầy thương tích, lặng lẽ mang trên mình những dấu vết của khủng hoảng sinh thái, phơi bày sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường tự nhiên.
Dưới những nét vẽ của Nguyễn Ngọc Tư, dòng sông Di hiện ra như một thực thể tự nhiên đang bị hủy hoại sức sống, dần tàn lụi từ bên trong. Nhà văn không miêu tả sự hủy hoại ấy bằng những biến cố hay thảm họa tức thì mà diễn tả cái chết của dòng sông một cách chậm rãi, âm ỉ, một biểu hiện điển hình của “bạo lực chậm” (slow violence)[1] đối với tự nhiên. Giữa những dãy nhà tẹp nhẹp ở chợ Bình Khê, dòng sông như bị “kẹp cổ”, bị rác thải chìm nổi bủa vây đến mức “ngờ nghệch, không thể nhận ra là nước đang chảy nếu không có những váng rêu nhớt phập phều.”[2] Lòng sông cũng dần bị con người lấn chiếm, thu hẹp đến mức “chỗ hẹp nhất sông Di, có thể ước chừng lòng sông bằng mắt thường. Không quá bốn thước tây.”[3] Chưa dừng ở đó, sông Di còn phải đối mặt với sự xâm nhập của nước biển: “Nước sông mặn quắt, nắng càng lâu thì nước biển sẽ thè cái lưỡi dài nhằng của nó liếm vào sông hàng mấy chục cây số.”[4] Pháp nhân hóa qua hình ảnh biển “thè cái lưỡi dài nhằng” đã hữu hình hóa quá trình xâm nhập mặn dữ dội, từng bước gặm nhấm sự sống của dòng sông. Từ một dòng nước ngọt nuôi dưỡng xóm làng, sông Di dần trở nên mặn chát, ô nhiễm và chất chứa bao mầm bệnh. Những biến đổi ấy không phải hệ quả của một biến cố đơn lẻ mà là kết tinh của quá trình hủy hoại kéo dài, khi dòng sông liên tục bị lấn chiếm, đầu độc và tước đoạt không gian sinh tồn. Chính những thương tổn tích tụ ấy là tiền đề để dòng sông không còn chỉ hiện diện như một sinh thể bị tổn thương, mà dần bộc lộ khả năng phản ứng trước những xâm phạm của con người.
![]() |
| Bìa cuốn sách "Sông" của Nguyễn Ngọc Tư (bản in lần thứ 16, năm 2020) - Ảnh: NXB Trẻ |
Sông Di được cư dân bản địa gọi bằng “bà”, một danh xưng mang tính nữ, vừa gần gũi vừa chất chứa sự bí ẩn: “Nín nhịn và dịu dàng, khéo léo và có vẻ vô hại, nhưng đầy thù hận và hung hiểm.”[5] Cách gọi ấy cho thấy dòng sông từ lâu đã được cảm nhận như một thực thể có đời sống và tính cách riêng. Vì thế, sự nín nhịn của dòng sông không đồng nghĩa với sự khuất phục. Sau những tổn thương kéo dài, sông Di “dào dạt theo cách riêng của mình, bằng cách luồn sâu vào lòng đất. Không ai hay sông Di trả đũa cho đến khi những ngôi nhà lần lượt đổ vào sông, sau những trận mưa dầm.”[6] Những trận sụt lở liên tiếp không chỉ phản ánh một hệ sinh thái đã mất cân bằng mà còn là biểu hiện cho năng lực phản ứng của tự nhiên khi không gian sinh tồn liên tục bị tước đoạt. Qua đó, dòng sông không còn là đối tượng bị chi phối mà đã trở thành một thực thể tự nhiên có khả năng tác động trực tiếp đến đời sống con người.
Khủng hoảng sinh thái được Nguyễn Ngọc Tư đẩy lên một chiều kích dữ dội hơn qua truyện ngắn Nước như nước mắt. Tác phẩm xoay quanh bi kịch của gia đình Sáo cùng những cư dân xóm Rẫy khi nguồn sống gắn liền với đất đai, cây trái bị dòng nước mặn xâm lấn, tước đoạt, buộc họ phải rời bỏ quê nhà lênh đênh trên những chiếc ghe bé nhỏ. Trong truyện, nhà văn đã thay thế cách gọi quen thuộc “mùa nước nổi” bằng “mùa nước đuổi”. Có thể xem đây không chỉ là lựa chọn ngôn ngữ thông thường mà báo hiệu sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận hình tượng nước. Động từ “đuổi” khiến dòng nước xuất hiện ở vị thế chủ động, có khả năng truy bức, dồn ép và không ngừng mở rộng phạm vi hiện diện. Ẩn sau tên gọi ấy là sự phẫn nộ, nổi giận âm thầm của tự nhiên. Nước không còn dáng vẻ hiền hòa, bao dung mà như một thực thể hung dữ, đe dọa cuộc sống con người. Chỉ với một cách gọi, Nguyễn Ngọc Tư đã đảo chiều mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Con người không còn dễ dàng nương theo mùa nước nổi để thu về tôm cá mà phải sống theo những biến động khó lường mà dòng nước tạo ra. Sự chủ động của nước được cụ thể hóa qua những biến đổi bất thường “cứ mỗi năm nước đuổi lại tới sớm hơn, mùa mỗi năm mỗi dài hơn.”[7] Chính sự thay đổi tưởng như âm thầm, từng chút một (“tới sớm hơn” và “dài hơn”) trong nhịp điệu của mùa nước lại làm đảo lộn toàn bộ trật tự sống vốn được xây dựng trên kinh nghiệm lâu đời của cư dân vùng sông nước. Đó không còn là dòng nước vận động theo quy luật “tới rồi rút”, để con người có thể tính toán mùa vụ, dựng nhà hay tổ chức sinh kế, mà là một thực thể dịch chuyển theo logic riêng, vượt qua mọi kinh nghiệm tích lũy của con người: “Năm sau nước đuổi tới nơi, cứ nghĩ nước tràn quanh quẩn những vùng gần biển thôi, nhưng nước theo sông ngày càng vào sâu hơn”[8]. Người dân vẫn đắp bờ, cơi nhà, nâng nền như một phản xạ sinh tồn quen thuộc, nhưng mọi nỗ lực ấy đều bị dòng nước chặn đứng: “đắp tới đâu nước theo tới đó, cơi nhà tới đâu nước ngập tới đó, không lẽ ở trên mái nhà, thôi kéo nhau lên ghe ở cho rồi.”[9] Nước và người như trong một cuộc rượt đuổi không có điểm dừng, ở đó, con người hiện lên trong tư cách kẻ đối phó, còn dòng nước liên tục mở rộng phạm vi xâm lấn của mình. Cuối cùng, những ngôi nhà từng cắm rễ trên đất buộc phải nhường chỗ cho những chiếc ghe lênh đênh. Lúc này quyền năng của dòng nước đã làm biến đổi không gian cư trú của con người; nước không chỉ làm thay đổi cảnh quan mà còn buộc con người phải thay đổi cách tồn tại.
Trong các tác phẩm về sông nước đã kể trên, Nguyễn Ngọc Tư đưa ra một cảnh báo: Trạng thái suy kiệt của dòng sông kéo theo sự suy kiệt của đời sống con người. Những tổn thương ấy không chỉ phản ánh sự xuống cấp của môi trường tự nhiên mà còn phơi bày sự xói mòn trong nhận thức, đạo đức và cách con người ứng xử với thế giới mà mình đang sống.
| Khi dòng sông không còn giữ được thiên chức nuôi dưỡng và thanh tẩy sự sống, nó cũng không còn là không gian có thể nâng đỡ hay chữa lành con người; trái lại, nó trở thành nơi phơi bày và khuếch đại những vết nứt trong nhân tính. |
Trong tiểu thuyết Sông, các nhân vật như Ân, Xu lầm lũi trôi dạt dọc dòng sông Di như những thân phận bệ rạc, vô định. Họ sống giữa dòng nước đen ngòm, hít thở mùi xú uế mỗi ngày, ngủ vùi bên những bãi rác ven bờ và dần coi tất cả như một phần tất yếu của đời sống. Điều đáng sợ không chỉ là sự ô nhiễm của dòng sông, mà còn là sự chai sạn của con người trước chính thực trạng ấy. Khi cái bẩn trở thành điều quen thuộc, con người cũng dần đánh mất khả năng phản kháng, chấp nhận thỏa hiệp với sự xuống cấp của cả môi trường lẫn chính bản thân mình. Sự tha hóa còn hiện lên rõ nét ngay trong cách con người sử dụng nguồn nước đã bị ô nhiễm. Nguyễn Ngọc Tư miêu tả cảnh chị Bế trên chiếc ghe chợ trôi “lom khom rửa chén, thứ nước sông mà khi nãy cậu thấy chị dùng để nấu cơm, kho cá, thứ nước cậu đã tè vào và đang tắm táp...”[10]. Dòng nước vốn gắn với sự thanh sạch và nuôi dưỡng sự sống giờ đây trở thành nơi dung chứa mọi chất thải của đời sống thường nhật, khiến ranh giới giữa sạch và bẩn, giữa vệ sinh và ô uế dần bị xóa nhòa. Ngay cả khi được cất thành rượu ngấm lá mục mùa thu, nước sông Di cũng không còn mang ý nghĩa của một thức uống gắn kết cộng đồng mà đã trở thành thứ rượu biến chất, được cảnh báo “quá ba chén sẽ tuyệt tình”[11] có thể khiến “bà mẹ đem bầu sữa của con mình cho thằng nhân tình uống”[12]. Sự biến chất của dòng nước vì thế cũng là ẩn dụ cho sự biến chất của các giá trị đạo đức và những nền tảng nhân tính trong đời sống con người.
Bị bao vây bởi môi trường nước đang hoại tử, con người ven sông đánh mất khả năng phản kháng và trượt dài trong sự chai sạn. Ở rốn Túi, những xóm làng nổi tồn tại trong bế tắc với hàng loạt “cái không”: “Không đất. Không tiền. Không chữ. Không biết đi về đâu. Không biết chôn ở đâu...”[13], nơi những đứa trẻ trôi dạt bị đồng hóa đến mức “ruồi bâu lên khóe miệng cũng không thèm đuổi, im lìm như trong một màn trình diễn nghệ thuật sắp đặt đông người”[14]. Sự cạn kiệt của đại ngàn và sông suối đẩy cư dân bản địa vào bi kịch tàn rụi nhân tính, khi con người sẵn sàng bán cả thân thể và con cái; “Cậu nghe đắng họng khi biết được đứa nhỏ đen đủi đang mút tay mà cậu thử ẵm trên tay có giá hai mươi hai triệu bảy. Tiền đã được đặt cọc một nửa khi bé còn nằm trong bụng mẹ nó - một đứa con gái chưa qua mười lăm tuổi.”[15] Khi dòng sông không còn giữ được thiên chức nuôi dưỡng và thanh tẩy sự sống, nó cũng không còn là không gian có thể nâng đỡ hay chữa lành con người; trái lại, nó trở thành nơi phơi bày và khuếch đại những vết nứt trong nhân tính.
![]() |
| Khi những cánh đồng và khu vườn không còn nữa, dòng nước không chỉ cuốn đi mùa màng mà còn xóa nhòa ký ức về một vùng đất từng gắn bó với bao thế hệ cư dân (Hình ảnh trong phim "Nước 2030" của đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh được chuyển thể từ truyện ngắn "Nước như nước mắt" của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư - Nguồn: ĐPCC) |
Sang đến Nước như nước mắt, bi kịch khủng hoảng nhân sinh thể hiện trước hết qua sự đổ vỡ của sinh kế. Trước khi nước mặn tràn đến, gia đình Sáo đã nhiều phen lao đao vì thời tiết, ám ảnh nhất là “mùa dưa cuối cùng trên đất nhà Sáo”[16]. Chỉ một trận mưa trái mùa cũng đủ cuốn sạch thành quả của bao tháng ngày vun trồng: “trời trở mưa một trận, không kịp cắt dây dưa nổ lụp bụp như pháo, nứt vỏ hết. Trắng tay.”[17] Đến khi nước mặn theo sông lấn sâu vào ruộng đồng, cây trái lần lượt “tàn rụi”, chỉ còn cỏ Đuôi Mèo chịu được nước mặn nhưng cũng chỉ bán được “chẳng bao nhiêu tiền”. Những loài cây từng nuôi sống con người dần biến mất, nhường chỗ cho thứ cỏ dại chỉ đủ giúp họ cầm cự qua ngày. Như vậy, nước vừa là nguyên nhân trực tiếp làm hư mùa màng, vừa góp phần biến mảnh đất vốn là tài sản bảo chứng “thứ mà vì nó mà Sáo lấy chồng - trở nên vô nghĩa”[18]. Sau cùng, sự trớ trêu được Nguyễn Ngọc Tư cô đọng trong một chi tiết giàu sức ám ảnh “như cái tên xóm Rẫy mà còn cái rẫy nào đâu”[19]. Khi những cánh đồng và khu vườn không còn nữa, dòng nước không chỉ cuốn đi mùa màng mà còn xóa nhòa ký ức về một vùng đất từng gắn bó với bao thế hệ cư dân.
Khi nước chiếm lĩnh đất đai, con người không chỉ mất nơi sinh sống hay sản xuất mà còn phải mang theo những gì còn sót lại của cuộc sống cũ lên những chiếc ghe nhỏ bé. Hình ảnh chồng Sáo “còn muốn bứng cả cây cỏ quanh nhà theo, nếu có thể. Nên trên ghe lủ khủ những bụi hành hẹ, sả, vài cây ớt, ít hẹ, ngò om...”[20] là một chi tiết giàu sức gợi. Đó không đơn thuần là hành động di chuyển vài khóm cây gia vị mà là nỗ lực tuyệt vọng nhằm níu giữ phần ký ức cuối cùng của một đời sống gắn với đất. Từ những khu vườn, ruộng rẫy rộng lớn, sinh kế giờ đây bị co hẹp vào vài bụi cây lủ khủ trên một chiếc ghe lênh đênh giữa bốn bề nước mặn. Bi kịch ấy càng trở nên xót xa qua lời than của chồng Sáo: “Sống giữa trời nước bao la vầy mà không có nước để tắm cho đúng điệu, nghĩ mà tức”[21]. Giữa một không gian tưởng chừng ngập tràn nước, con người lại rơi vào tình trạng thiếu nước sinh hoạt. Bao quanh họ là nước mặn, nước ô nhiễm, thứ nước chỉ mang đến khát cháy và bệnh tật chứ không còn là nguồn sống. Khi “đã quá hai tháng rồi, đến con người cũng phờ phạc bạc đi”[22], sự xâm lấn của nước không còn dừng lại ở bình diện cảnh quan mà đã in hằn lên chính thân thể con người, bào mòn sức lực, ý chí và cả khả năng chống cự.
![]() |
| Đất không còn là nơi tiếp nhận người đã khuất bởi chính nó cũng đã bị nước chiếm lĩnh... (Hình ảnh trong phim "Nước 2030" được chuyển thể từ truyện ngắn "Nước như nước mắt" - Nguồn: ĐPCC) |
Không dừng lại ở đó, nước còn can thiệp vào những tầng sâu thiêng liêng nhất của văn hóa cộng đồng. Cái chết của chồng Sáo đặt con người trước một nghịch cảnh chưa từng có: “không thể chôn xuống đất, người ta bày cách dìm hòm xuống nước, lấy dây buộc níu vô cột nhà, chờ nước rút mới đem âm thổ. Vị mặn của nước ngấm vào sẽ làm chồng Sáo lâu tàn rữa, họ nói vậy”[23]. Đất không còn là nơi tiếp nhận người đã khuất bởi chính nó cũng đã bị nước chiếm lĩnh. Thi hài người đã khuất phải tạm “gửi” trong lòng nước, chờ đến khi dòng nước rút mới có thể trở về với đất mẹ. Nghi lễ ấy cho thấy sự đảo lộn của một nền tảng văn hóa lâu đời, nơi “âm thổ” luôn được xem là điểm kết thúc trọn vẹn của đời người. Khi cả hành trình cuối cùng của con người cũng bị dòng nước chi phối, tác động của nó đã vượt ra ngoài đời sống mưu sinh để chạm đến những giá trị văn hóa và tín ngưỡng của cộng đồng. Bên cạnh quyền năng định đoạt hiện tại, nước còn trở thành lực lượng làm đứt gãy ký ức lịch sử. Nguyễn Ngọc Tư để cuốn Bi ký - cuốn sách mà “ba chồng Sáo quý... như một gia tài” biến mất cùng dòng nước. Trong Bi ký lưu giữ câu chuyện về ngôi làng chài từng bị tàn sát vì loài cá Bạc Đầu, nơi “một trăm ba mươi bốn người trong làng đã chết”[24]. Cuốn sách không chỉ là vật gia truyền mà còn là nơi kết tinh ký ức cộng đồng, những kinh nghiệm sinh tồn và cả lịch sử đau thương của cư dân vùng nước. Việc dòng nước bất ngờ cuốn trôi Bi ký vì thế mang ý nghĩa vượt xa sự mất mát của một vật thể. Nó làm đứt gãy sợi dây kết nối giữa hiện tại với quá khứ, giữa con người với lịch sử của chính vùng đất mình đang sống. Đọc Nước như nước mắt từ góc nhìn sinh thái, có thể thấy nước không còn là bối cảnh thụ động mà đã trở thành một chủ thể tham dự trực tiếp vào đời sống con người. Những biến động của dòng nước không chỉ đảo lộn sinh kế mà còn làm lung lay ký ức và căn tính của cộng đồng cư dân vùng sông nước. Tựu trung lại, có thể thấy khủng hoảng sinh thái không còn là câu chuyện riêng của thiên nhiên, mà đã trực tiếp đẩy con người vào chuỗi bi kịch nhân sinh toàn diện, từ suy kiệt sinh kế, đảo lộn văn hóa cho đến sự tha hóa và tàn rụi nhân tính.
| Hình tượng nước không chỉ phản chiếu những khủng hoảng của hệ sinh thái vùng châu thổ mà còn chất vấn vị trí của con người trong thế giới tự nhiên, đồng thời gửi gắm lời cảnh báo: khi con người phá vỡ sự cân bằng của tự nhiên, những tổn thương ấy cuối cùng sẽ quay trở lại làm tổn thương chính đời sống và nhân tính của con người. |
Như vậy, chỉ qua hai tác phẩm Nước như nước mắt và Sông, Nguyễn Ngọc Tư đã mở rộng biên độ biểu đạt của hình tượng nước theo một hướng khác hẳn truyền thống. Từ biểu tượng của sự sống, sự bồi đắp và thanh tẩy trong cảm thức văn học Nam bộ, nước trở thành nơi tích tụ những chấn thương sinh thái khi nó vừa là nạn nhân của quá trình khai thác và hủy hoại của con người, vừa là một thực thể tự nhiên có khả năng phản ứng và tác động trở lại đời sống con người. Thông qua việc tái kiến tạo hình tượng nước, Nguyễn Ngọc Tư cho thấy khủng hoảng sinh thái và khủng hoảng nhân sinh không tồn tại tách biệt mà luôn ràng buộc mật thiết với nhau. Nhờ thế, nhà văn đã chất vấn lại những “đặc quyền mang tính hệ thống của loài người với chủng loại khác”[25], đưa tự nhiên ra khỏi vị thế của một đối tượng bị quan sát để trở thành một chủ thể có tiếng nói trong thế giới nghệ thuật. Từ đó, hình tượng nước không chỉ phản chiếu những khủng hoảng của hệ sinh thái vùng châu thổ mà còn chất vấn vị trí của con người trong thế giới tự nhiên, đồng thời gửi gắm lời cảnh báo: khi con người phá vỡ sự cân bằng của tự nhiên, những tổn thương ấy cuối cùng sẽ quay trở lại làm tổn thương chính đời sống và nhân tính của con người. Theo đó, con người buộc phải từ bỏ tư duy thống trị để học cách chung sống trong tinh thần cộng tồn và tôn trọng lẫn nhau với tự nhiên.
1. Rob Nixon, Slow Violence and the Environmentalism of the Poor, Harvard University Press, 2011.
2. Nguyễn Ngọc Tư. Sông, Nxb Trẻ, 2012, tr.69.
3. Nguyễn Ngọc Tư. Sông, tr.28.
4. Nguyễn Ngọc Tư. Sông, tr.15.
5. Nguyễn Ngọc Tư. Sông, Nxb Trẻ, 2012, tr.33.
6. Nguyễn Ngọc Tư. Sông, tr.28.
7. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, Nxb Trẻ, 2024, tr.10.
8. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, tr.12.
9. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, tr.12.
10. Nguyễn Ngọc Tư. Sông, tr.42.
11. Nguyễn Ngọc Tư. Sông, Nxb Trẻ, 2012, tr.139.
12. Nguyễn Ngọc Tư. Sông, tr.140.
13. Nguyễn Ngọc Tư. Sông, tr.224.
14. Nguyễn Ngọc Tư. Sông, tr.223.
15. Nguyễn Ngọc Tư. Sông, tr.182.
16. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, tr.12.
17. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, tr.11.
18. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, Nxb Trẻ, 2024, tr.16.
19. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, tr.16.
20. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, tr.10.
21. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, tr.11.
22. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, tr.10.
23. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, tr.13.
24. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, Nxb Trẻ, 2024, tr.9.
25. Lawrence Buell, Ursula K. Heise, Karen Thornber (2016), “Văn chương và môi trường”, trong Lý thuyết và ứng dụng lý thuyết trong nghiên cứu văn học: Tập bài giảng và tài liệu tham khảo (Nguyễn Hạnh Quyên dịch, Trần Hải Yến hiệu đính), Nxb Khoa học xã hội, tr.533.