Từ những lời hiệu triệu đầy ám ảnh “Vũ trang đâu mau lên đường” (Văn Cao - Tiến quân ca) đến tiếng kêu thét “Tiếng muôn hồn oan ức bay trong gió theo giúp đoàn ta/ Đi diệt trừ tiêu tan lũ quân thù” (Lưu Hữu Phước - Đoàn quân du kích), góp vào bầu máu nóng sục sôi của đoàn người khát khao độc lập. Sự thể hiện này diễn ra ở nhiều khía cạnh, ca ngợi truyền thống tổ tiên, một nguồn gốc Việt mang tính thần thoại; tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các gương danh nhân, liệt sĩ; động viên chiến sĩ và các lực lượng vũ trang; kiến tạo hình tượng nước Việt Nam mới. Có thể những tuyên ngôn một thuở dưới con mắt thời nay đã thuộc về lịch sử, nhưng ở đó mãi hiện diện vẻ đẹp của một thế hệ người Việt Nam đã ý thức về phẩm cách của mình.
|
Không phải đến thời điểm Tổng khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra tại Hà Nội (19/8/1945), không khí sục sôi ái quốc mới phát lộ, mà phong trào viết các bài hát chủ đề thanh niên - lịch sử từ cuối thập niên 1930 đã tạo ra một không gian đối thoại với quá khứ của dân tộc. Các bài hát của nhóm Đồng Vọng do Hoàng Quý là trưởng tràng và Ban âm nhạc Tổng hội Sinh viên Đại học Đông Dương với Lưu Hữu Phước là hạt nhân đã rất nổi bật trong đời sống sinh hoạt tập thể của học sinh, sinh viên, thanh niên và phong trào hướng đạo. Các bài hát của họ gắn liền các cuộc về nguồn như: Bóng cờ lau, Nước non Lam Sơn, Trên sông Bạch Đằng (Hoàng Quý), Ngày xưa (Hoàng Phú), Thăng Long hành khúc ca, Gò Đống Đa, Hò kéo gỗ Bạch Đằng Giang (Văn Cao) hay Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Hội nghị Diên Hồng (Lưu Hữu Phước) liên tiếp ra đời trong vài năm đã xâm nhập vào giới trẻ, đúng lúc các chính sách về thanh niên của chính quyền thuộc địa thay đổi, có những không gian cho sự trỗi dậy của tinh thần dân tộc thay vì chấp nhận ách thực dân.
Ngay từ trước cuộc Cách mạng diễn ra, những người bạn viết lời cho bài hát Tiếng gọi sinh viên của Lưu Hữu Phước đã mở đầu bằng câu hiệu triệu: “Này anh em ơi, tiến lên đến ngày giải phóng” và kết lại bằng lời nhắc nhở: “Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng”, gợi lại một cái tên để chỉ những cư dân Việt cổ ở châu thổ sông Hồng hơn hai thiên niên kỉ trước.
Người họa sĩ nghèo Văn Cao đã bắt đầu sự nghiệp sáng tác âm nhạc với những bài hát cho tráng đoàn hướng đạo và nhóm Đồng Vọng, chính từ những suy tư về trách nhiệm với quá khứ: “Tháp đây, gươm thần đâu dưới nước biếc, có chăng bao người bao lưu luyến tiếc, này phường này phố cũ, này đường về ô xưa, bóng dáng ngàn năm hồ phai khi tàn mơ” (Thăng Long hành khúc ca).
Tất cả những hình tượng này chuyển hóa trong cao trào cách mạng, thành những “Việt Nam mến yêu, ngàn ánh vinh quang, rạng chiếu sơn hà ngàn xưa. Nòi giống Lạc Hồng, nòi giống hiên ngang, khắp nơi cất cao bóng cờ” (Lưu Hữu Phước, lời Nguyễn Mỹ Ca - Khúc khải hoàn) hay “Việt Nam! Việt Nam! Ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm” (Nguyễn Đình Thi - Diệt phát xít). Ngay cả những bài ca có sắc thái trữ tình hơn như Việt Nam minh châu trời đông hay Rạng đông (đều của Hùng Lân) cũng xưng tụng một “non nước Tiên Rồng” bên Thái Bình Dương, góp vào ý niệm to lớn về đất nước. Nếu bài Tiến quân ca được đề xuất viết cho khóa quân chính kháng Nhật ở chiến khu Việt bắc, thì ngay sau khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập ngày 22/12/1944, một bài hát do một vị chỉ huy quân sự là Hoàng Văn Thái cũng ra đời với tên gọi và thông điệp cụ thể, tô đậm cảm thức về một giang sơn thống nhất:
“A, sông Mekong reo hò, miền Nam trông chờ
Nơi Trường Sơn vươn mình, quân ta mau tiến tới.
Tung cờ giải phóng, cờ giải phóng trên đất Thăng Long
Trên thành Huế, trên Sài Gòn, mũi Cà Mau”
(Phất cờ Nam tiến).
Đây cũng là thời điểm của những bài ca thời sự, điển hình là Mười chín tháng Tám (Xuân Oanh) với lời nhắc nhở về một sự kiện lịch sử: “Mười chín tháng Tám chớ quên là ngày khởi nghĩa, hạnh phúc sáng tô non sông Việt Nam.” Những bài hát khác như Bài ca cách mệnh tháng Tám (Việt Lang), Đi bắt thực dân (Nguyễn Văn Giệp và Nguyễn Hữu Hiếu) cũng bồi đắp một khẩu khí tự tin của người Việt mới.
Cuộc kêu gọi quy mô này đã dấy lên một cảm thức về nhà nước - dân tộc (nation-state) trong cuộc vận động quần chúng, khi kết nối quá khứ của các triều đại dựng nước và giữ nước với cuộc giành chính quyền hiện tại.
Nguyễn Xuân Khoát, nhạc sĩ đàn anh của tân nhạc, đã gặp một bài thơ trên báo mà không đề tên người viết, phổ nhạc thành ca khúc Uất hận: “Giở lịch sử mấy ngàn năm xưa cũ, bao anh hùng bỏ mạng với giang sơn… Lửa thiêng cháy, máu thiêng sôi bất diệt, Cách mệnh thành hạnh phúc khắp non sông”. Bài ca đã phổ biến trong Nam ngoài Bắc những năm tháng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau này còn lưu truyền ở vùng tạm chiếm sau ngày Toàn quốc kháng chiến. Tính chất bạo liệt, mạnh mẽ như những bài hịch kêu gọi, chính là thông điệp thuyết phục quần chúng.
![]() |
| Bản nhạc Hồ Chí Minh muôn năm. Ảnh do tác giả cung cấp. |
Cuộc Cách mạng tháng Tám và Lễ Tuyên ngôn Độc lập sớm khắc ghi vào không gian truyền thông hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thể nói sự đóng góp này có vai trò của các bài hát tôn vinh vị lãnh tụ. Những bài hát sớm nhất có thể kể tới Hồ Chí Minh muôn năm của nhạc sĩ Công giáo Minh Tâm (lời Phạm Văn Xung), viết ngay trong thời gian cổ động Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 6/1/1946 hay Nước Nam có Cụ Hồ Chí Minh của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, một nhạc sĩ sau này nổi tiếng với các ca khúc lãng mạn như Nỗi lòng, Chiều vàng. Nhưng phổ biến hơn cả là Biết ơn Cụ Hồ Chí Minh (Lưu Bách Thụ) với giai điệu mộc mạc, dễ nhớ: “Dân Nam ơi biết ơn Cụ Hồ đời đời. Bao nhiêu năm sống trong nguy nan điêu linh. Dân Nam ơi biết ơn Cụ Hồ đời đời. Một lòng vì dân, Người đấu tranh không ngừng.” Nhìn chung các ca khúc mang tinh thần cổ động sôi nổi, mộc mạc, với hình tượng trang nghiêm đúng như hình ảnh của vị Chủ tịch xuất hiện lúc bấy giờ: “Đuốc gươm thiêng vung cho nước nhà khiến dân Việt Nam thoát ách xưa. Hồ Chí Minh anh hùng bao năm luôn tranh đấu. Thắng xâm lăng, xây hòa bình, giải phóng cho dân tộc, lưu danh tiếng ngàn thu” (Hồ Chí Minh muôn năm); “Dân nước Nam chúng ta có Cụ Hồ Chí Minh, như ngôi sao sáng trong chiếu cả mọi nơi” (Nước Nam có Cụ Hồ Chí Minh).
Viết về những người anh hùng và gương liệt sĩ là một mảng đồ sộ khi khắc họa sự cao cả của cuộc cách mạng. Ban đầu mang tên Bài ca chiến sĩ Việt Minh, bản hành khúc của Văn Cao mau chóng giành được sự yêu mến của công chúng với tên gọi mở rộng đối tượng là Chiến sĩ Việt Nam, khắc họa hình tượng người lính tựa như tráng sĩ xung trận: “Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường. Quân xung phong, nước Nam đang chờ, mong tay người hồn sông núi, khí thiêng ghi muôn đời.” Ra đời năm 1943, bản nhạc Hát Giang trường hận của Lưu Hữu Phước (lời Phan Mai) được lấy tên mới là Hồn tử sĩ (lời Hồng Lực và Lưu Hữu Phước), cùng với Quốc ca là Tiến quân ca, trở thành một bài hát nghi thức trong các sự kiện nghi lễ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Các bài hát về người chiến sĩ trở thành tâm điểm của tân nhạc khi chúng trở nên phổ biến, thậm chí là những sản phẩm có tính thương mại khi được in tới hàng vạn bản như: Giải phóng quân (tức Vệ quốc quân), Tuyên truyền xung phong (Phan Huỳnh Điểu), Cảm tử quân (Hoàng Quý), Chiến sĩ vô danh (Phạm Duy) hay Nhắn người chiến sĩ (Doãn Mẫn). Không dừng lại ở tôn vinh người chiến sĩ chung chung, các nhạc sĩ đã tiến tới cụ thể hóa vai trò của họ ở khía cạnh quân chủng, từ Kỵ binh Việt Nam (hay Ngựa phi đường xa) (Lê Yên), Không quân Việt Nam, Chiến sĩ hải quân, Bắc Sơn (Văn Cao), Du kích ca (Đỗ Nhuận).
Chỉ chưa đầy một tháng khi cách mạng giành được chính quyền ở Sài Gòn, quân Pháp với sự yểm trợ của quân Anh quay trở lại tái chiếm Nam bộ. Phong trào Nam tiến sôi động lôi cuốn thanh niên lên đường, tạo ra một cuộc hành quân rầm rộ. Các bài ca Nam bộ kháng chiến (Tạ Thanh Sơn), Tiếng súng Nam bộ (Đỗ Nhuận), Dưới bóng cờ (Nguyễn Văn Thương), Bước chân chiến sĩ (Vân Đông), Xuất quân (Phạm Duy)… tạo ra đường dẫn tụ hội cảm xúc hăng hái của người Việt trước sự xâm lược trở lại của thực dân. Sự kiện này cũng khiến cho Văn Cao đặt lời mới cho Bến xuân, một bài hát lãng mạn với tên gọi mới là Đàn chim Việt, phần nào phản ánh sự thay đổi nhận thức của người nghệ sĩ: “Về đây khi gió mùa thơm ngát, ơi lũ chim giang hồ, bao cánh đang cùng dật dờ trên khắp cố đô… Chim đang bay qua Bắc sang Trung, người Nam còn nghe lời chim nhắn lúc xa.” Đàn chim Việt cùng với Nhớ chiến khu (Đỗ Nhuận) có những nét trữ tình, khác biệt với khẩu khí mạnh mẽ của các bài hùng ca chính cùng các tác giả, cũng nói lên tính chất lãng mạn của những người nghệ sĩ đi theo cách mạng lúc ban đầu.
![]() |
| Những cảm hứng sôi nổi và mãnh liệt nhất trong lịch sử văn hóa hiện đại Việt Nam, có lẽ những bài hát tân nhạc trong cao trào Cách mạng tháng Tám 1945 là đại diện rõ rệt nhất. |
Từ thời điểm cuộc cách mạng bùng lên cho đến những bước khởi đầu nhà nước dân chủ non trẻ, các bài ca cũng tụ hội hình tượng các thành phần trong xã hội, từ thiếu nhi đến phụ lão, như thông điệp “mau mau mau, vai kề vai, không phân già trẻ, trai hay gái” mà bài hát Diệt phát xít của cao trào Tổng khởi nghĩa đã kêu gọi. Những bài hát thiếu nhi chính là những bài ca sớm nhất gieo cấy ý niệm về sự trung thành với đất nước, chẳng hạn lời ca đầu tiên của bài Nhanh bước nhanh nhi đồng (tên gốc là Nhi đồng cứu quốc hội, sáng tác của Phong Nhã): “Ơn nước non em nguyện dám đâu sao rời, em trọn đời trung với Việt Nam.” Bài hát này cùng với Kim Đồng, Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng của tác giả trong giai đoạn 1945-1946 tạo ra vị thế khởi đầu về âm nhạc tuyên truyền cách mạng trong thiếu nhi của Phong Nhã.
Một tổ chức là Hội Khuyến nhạc cũng thường xuyên đăng tải các bài hát đa dạng, trong đó ngay số đầu tiên ra đời tháng 12/1945 đã đăng bản nhạc Chí khí tiểu anh hùng (Thẩm Oánh, lời Phạm Văn Xung), cũng diễn đạt tinh thần cống hiến: “Lừng non nước lời ca hùng tráng, giục thúc nhi đồng Việt Nam hết lòng. Lời ca vang, lời hùng hồn, như súng vang, lòng bồn chồn. Đi tiến lên! Phò nguy cứu khốn, nào đi lên, cùng một lòng, cho nức danh dòng Lạc Hồng. Ta gắng cho sau này thành công.”
Sau khi từ miền Nam ra Hà Nội tháng 5/1946, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước phụ trách Phòng Thiếu nhi Trung ương của Nha thanh niên thể dục. Cơ quan này đã tổ chức các cuộc thi âm nhạc và sáng tác bài hát cho thiếu nhi. Chính những bài hát của hướng đạo sinh hay những bài hát rất sớm cho thiếu nhi của Lưu Hữu Phước như Bài hát của thiếu sinh (1942) đã trở thành cột mốc cho nhiều bài hát thiếu nhi trong kháng chiến tiếp nối như Thiếu nhi quân (Phạm Duy), Reo vang bình minh, Thiếu nhi thế giới liên hoan (Lưu Hữu Phước), Bé đeo ba lô (La Thăng)…
Vai trò của nữ giới trong cuộc cách mạng cũng là điểm nhấn trữ tình của dòng ca khúc cổ động đương thời. Từ ca khúc Bài hát của thiếu nữ Việt Nam (1943), Lưu Hữu Phước đã viết bài hát có lời ca cách mạng hơn là Việt nữ gọi đàn. Các ca khúc đều cổ vũ sự tham gia của phụ nữ trong việc kiến tạo một xã hội mà trong đó vai trò phụ nữ hãy còn nhiều nét lãng mạn: “Này chị em khắp nước Nam, dịu dàng xinh như những đóa hoa, tô điểm thêm cho sơn hà. Sao cho cả thảy hăng hái cố gắng, luôn dù ngàn chông gai cùng nhau vui sống.”
Cuộc cách mạng dân chủ nhân dân có sự tham gia tích cực của công nhân, một bài hát về lực lượng này cũng xuất hiện từ sớm như Công nhân Việt Nam (Văn Cao). Mặc dù viết cụ thể cho công nhân hỏa xa, song tính đại diện cao của hình tượng như bút pháp sở trường của nhạc sĩ, gợi những nét của bài Quốc tế ca: “Tranh đấu cuối cùng là đời sống mới dâng xa/ Công nhân Việt Nam tiến tới/ Cùng sống tập đoàn toàn thế giới công khai/ Cùng kiến thiết xã hội ngày mai.”
Các bài hát cổ động cho một nhà nước mới như Ngày Quốc hội (Đỗ Nhuận) hay các phong trào xã hội cũng thu hút sự quan tâm của công chúng. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi thành lập đã đề ra khẩu hiệu “Diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Nạn đói năm 1945 chính là một chủ đề bao trùm, cũng như vấn đề xóa nạn mù chữ là một công việc cấp bách để các công dân biết đọc biết viết các nội dung tuyên truyền, phục vụ cho mục tiêu Tổng tuyển cử. Đáp ứng phong trào Diệt giặc đói, nhạc sĩ Thẩm Oánh có ca khúc Miếng khi đói, gói khi no: “Kìa dân đói, hỡi ai no! Mau cứu nhau qua cơn lầm than. Mau cứu nhau qua cơn cơ hàn.” Còn phong trào Bình dân học vụ, kế thừa phong trào Truyền bá quốc ngữ, đã có nhiều tác phẩm thơ ca hò vè phù hợp cho công tác tuyên truyền. Một bài ca dao đã được phổ nhạc và trở nên nổi tiếng, thậm chí vẫn được hát ở vùng tạm chiếm và miền Nam sau này là Cô Tú (Nguyễn Long Châu): “Ai về chợ huyện Thanh Vân, hỏi thăm cô Tú đánh vần được chưa?… Bình dân học vụ lập thành, cô nên tới đó học hành cho thông.”
Cuộc kiến tạo một nước Việt Nam mới đã quy tụ một loạt những bài hát đầy nồng nhiệt tiếp sức trên phương diện tuyên truyền. Từ khóa của chúng đều là những công dân trong một tập thể quốc dân, như Quốc dân hành khúc, một tên gọi mới của Tiếng gọi sinh viên hay Toàn người Việt được tự do đều của Lưu Hữu Phước, hay Quốc dân tiến (Lê Trần) được dùng làm nhạc hiệu của đài phát thanh Sài Gòn Chợ Lớn Tự do thời kháng chiến. Một bài hát xuất bản ở vùng tạm chiếm cũng có tên Quốc dân hành khúc của Văn Thanh, với thông điệp gần gũi với bài hát của Lưu Hữu Phước. Những bài hát vào giai đoạn này như Hồn Việt Nam (Bùi Công Kỳ) hay Những mầm sống mới (Doãn Mẫn) tạo ra một sự hình dung về ngày mai lạc quan: “Việt Nam mến yêu, ta xin thề/ Đem ngày mai đền ơn non nước/ Mau kiến thiết ngày một bằng người/ Trong máu nóng, màu cờ quật cường/ Nhuốm chiến thắng còn bền màu cùng gió sương.”
Đáng chú ý là chỉ vài năm trước, họ là tác giả của những bài ca lãng mạn, chẳng hạn Bùi Công Kỳ là đồng tác giả ca khúc Giọt mưa thu với Đặng Thế Phong hay Doãn Mẫn nổi tiếng với Biệt ly. Cuộc cách mạng đã đặt ra một cuộc đổi thay nơi các nhạc sĩ, và trong nhiều trường hợp, sự đổi thay mang dáng dấp cuộc lột xác mà ở vào thời điểm bình thường, khó lòng làm được.
Các nhạc sĩ viết ra những bài hát ái quốc giai đoạn cao trào Cách mạng Tháng Tám hầu hết chỉ mới ngoài đôi mươi. Nhiều người chưa biết tới chiến khu, các phương pháp vũ trang hay các chương trình hoạt động chính trị, song họ có chung một cảm thức về đất nước và lòng nhiệt thành của tuổi trẻ. Nhìn lại các bài hát này, cho dù chúng có thể là những khúc ca mang tính tuyên truyền, nhưng chắc chắn vào thời khắc sang trang của lịch sử, chúng thể hiện lòng nhiệt tâm hăng hái của những người nghệ sĩ trẻ tuổi. Đồng thời, chính cuộc cách mạng cũng mở ra cơ hội lên tới đỉnh cao của các bài hát tân nhạc, đưa chúng thành phương tiện truyền thông phổ biến nhất. Khép lại một giai đoạn lịch sử đầy biến động, những khúc ca tháng Tám không chỉ là hồi kèn xung trận hay phương tiện truyền thông của thời cuộc. Chúng bước đầu tạo ra những ý niệm về một xã hội tương lai mà người Việt đi tìm trong suốt phần còn lại của thế kỉ.