| Từ Châu Sơn giữa miền đồi Nho Quan, Phát Diệm ở Kim Sơn, Sở Kiện trên vùng Hà Nam cũ đến Bùi Chu, Phú Nhai và những giáo đường miền duyên hải Nam Định cũ, những tháp chuông đã trở thành một phần của cảnh quan, lịch sử và đời sống làng quê. |
![]() |
| Đan viện Châu Sơn |
Đi trên những con đường đồng bằng Ninh Bình, có những nơi từ rất xa đã nhìn thấy tháp chuông.
Chúng hiện lên sau ruộng lúa, trên những hàng cây, giữa những mái nhà thấp. Đặc biệt ở vùng Nam Định cũ, mật độ nhà thờ khá dày. Có những đoạn đường chỉ qua vài làng lại gặp một giáo đường, nhỏ có, lớn có, cổ kính có, bề thế có. Qua nhiều thế hệ, nhà thờ đã đứng vào cảnh quan làng xóm tự nhiên như cây đa, mái đình hay ngôi chùa ở nhiều vùng quê Bắc Bộ khác.
Nhưng nếu tìm một nơi để bắt đầu hành trình ấy, có thể đi về phía tây, tới vùng đồi Nho Quan.
Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn nằm giữa một khuôn viên rộng, nhiều cây xanh. Cộng đoàn Châu Sơn hình thành từ năm 1936; năm 1939 đặt viên đá đầu tiên xây dựng thánh đường. Công trình do linh mục Placiđô Trương Minh Trạch thiết kế và điều hành xây dựng. Các đan sĩ tự chẻ đá, nung vôi, làm gạch để dựng nên tu viện.
Thánh đường Châu Sơn không đồ sộ nhưng có một vẻ đẹp riêng. Những bức tường gạch đỏ để trần, cửa vòm cao, những mảng tường dày và nhịp kiến trúc phương Tây nằm giữa cây cối vùng Nho Quan. Buổi sớm hoặc cuối chiều, ánh sáng đi qua những cửa vòm, đổ xuống hành lang và các khoảng sân. Sự tĩnh lặng vốn có của một đan viện khiến nơi đây khác với nhiều điểm tham quan đông đúc của Ninh Bình.
![]() |
| Nhà thờ đá Phát Diệm |
Từ Nho Quan xuống Kim Sơn là một thế giới kiến trúc khác.
Quần thể nhà thờ đá Phát Diệm được xây dựng chủ yếu từ năm 1875 đến 1898 dưới sự tổ chức của linh mục Phêrô Trần Lục. Hơn một thế kỷ qua, Phát Diệm vẫn khiến người mới đến lần đầu ngạc nhiên bởi một giáo đường Công giáo nhưng lại mang nhiều dáng nét của kiến trúc truyền thống Việt Nam.
Phương Đình nặng và vững như một cổng lớn. Nhà thờ chính có sáu hàng với 52 cột gỗ lim. Những mái cong, sân, hàng cột, phù điêu đá khiến người ta đôi khi liên tưởng tới đình, chùa Bắc Bộ. Riêng nhà nguyện Trái tim Đức Mẹ gần như được dựng hoàn toàn bằng đá. Đông và Tây gặp nhau ở Phát Diệm không phải bằng cách đặt hai kiểu kiến trúc cạnh nhau, mà đã hòa vào cùng một công trình.
Điều ấy cũng gắn với lịch sử Kim Sơn. Đây là vùng đất mở từ công cuộc khẩn hoang thế kỷ XIX, nơi những xóm làng, đường sá, kênh mương dần hình thành trên vùng đất mới. Nhà thờ Phát Diệm đứng giữa không gian ấy và qua thời gian trở thành một phần không thể tách rời của vùng đất.
Đi lên phía vùng Hà Nam cũ, Sở Kiện lại mang một câu chuyện khác.
Vương cung thánh đường Sở Kiện từng là một trung tâm quan trọng của Công giáo miền Bắc. Khu nhà thờ cùng những công trình liên quan còn lưu giữ nhiều dấu tích của đời sống Công giáo qua các thời kỳ. Khác với Châu Sơn nằm giữa vùng đồi hay Phát Diệm với đá và gỗ, Sở Kiện gây ấn tượng bởi dáng dấp của một thánh đường phương Tây hiện diện giữa làng quê đồng bằng.
Nhưng phải sang vùng Nam Định cũ mới thấy hết một “miền nhà thờ” của Bắc Bộ.
Bùi Chu là một trong những trung tâm Công giáo lâu đời của vùng này. Nhà thờ Bùi Chu được xây dựng năm 1885. Chung quanh nhà thờ là tòa giám mục, các dòng tu, nguyện đường và nhiều công trình tôn giáo khác. Ở đây, nhà thờ không tồn tại như một di tích riêng biệt. Nó nằm giữa một cộng đồng đã duy trì đời sống tôn giáo qua nhiều thế hệ.
Từ Bùi Chu đi Phú Nhai không xa. Tiểu Vương cung Thánh đường Phú Nhai nổi bật trên cánh đồng với hai tháp chuông cao, mặt tiền rộng và những đường nét kiến trúc Gothic. Từ xa đã có thể nhận ra nhà thờ trước khi nhìn thấy cả làng.
Đi sâu về Xuân Trường, Hải Hậu, cảnh tượng ấy còn lặp lại nhiều lần. Những nhà thờ như Hưng Nghĩa, Kiên Lao cùng hàng trăm giáo đường lớn nhỏ tạo nên một nét rất riêng của vùng đồng bằng ven biển. Có nơi, từ một tháp chuông nhìn sang đã thấy tháp chuông của giáo xứ khác phía cuối cánh đồng.
Nhà thờ vì vậy không chỉ là nơi hành lễ. Qua thời gian, nó trở thành một phần cấu trúc của làng: phía trước là quảng trường nhỏ, chung quanh là nhà dân, nghĩa trang, đường xóm; tiếng chuông chia những khoảng thời gian quen thuộc trong ngày.
Theo con đường ấy ra đến biển Hải Hậu, người đi gặp một nhà thờ không còn nguyên vẹn.
Phế tích nhà thờ ở Hải Lý, thường được gọi là “nhà thờ đổ”, đã trở thành một hình ảnh quen thuộc của vùng biển này. Sóng và quá trình biển xâm thực đã làm thay đổi khu vực dân cư ven bờ; công trình cũ chỉ còn lại một phần kiến trúc đứng trước biển.
Nếu những nhà thờ khác hấp dẫn bởi vẻ nguyên vẹn thì Hải Lý lại khiến người ta dừng chân bởi những gì đã mất. Tường cũ, cửa vòm và phần tháp còn lại in trên nền trời; phía trước là biển. Khi thủy triều lên, sóng tiến sát chân phế tích. Đến chiều, những bức tường sẫm xuống trong ánh sáng cuối ngày.
Từ Châu Sơn đến Phát Diệm, từ Sở Kiện xuống Bùi Chu, Phú Nhai rồi Hải Lý, những nhà thờ kể một câu chuyện dài hơn câu chuyện kiến trúc.
![]() |
| Vương cung thánh đường Phú Nhai |
Có những giáo đường mang gần như nguyên vẹn dáng dấp châu Âu; có nơi Gothic đứng giữa ruộng lúa; có nơi kiến trúc Công giáo đã hòa với mái cong, cột gỗ, nghệ thuật chạm khắc Việt Nam. Và cũng có một nhà thờ chỉ còn là phế tích trước biển.
Qua nhiều thế hệ, những công trình ấy đã đi vào đời sống của vùng đất. Người dân sinh ra dưới tiếng chuông, lớn lên giữa những mùa lễ, rồi những ngọn tháp trở thành dấu hiệu để người xa quê nhận ra làng mình từ ngoài cánh đồng.
Bởi thế, đi qua những nhà thờ Ninh Bình hôm nay không chỉ là một cuộc xem kiến trúc. Đó còn là cách đi qua những miền cư trú, từ núi xuống đồng bằng rồi ra biển, để nhận ra trên cùng một vùng đất, lịch sử đã để lại nhiều lớp văn hóa khác nhau.
Và giữa những lớp văn hóa ấy, những tháp chuông vẫn đứng trên đường chân trời.