Diễn đàn lý luận

Ký ức người lính về nhà thơ của đất và nước

Châu La Việt
Chuyện văn chuyện đời 08:45 | 12/02/2026
Baovannghe.vn - Đọc thơ Lâm Xuân Vi, tôi gặp lại miền quê từng cưu mang người lính ra trận, gặp lại đất và nước đã nuôi người, nuôi làng và nuôi cả một đời thơ bền bỉ, lặng lẽ mà sâu xa.
aa
Ký ức người lính về nhà thơ của đất và nước
Nhà thơ Lâm Xuân Vi - Ảnh: Tư liệu

Tôi nhớ rất rõ làng Tùy Hối, xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình - quê hương của nhà thơ Lâm Xuân Vi. Nhớ không phải vì bản đồ hay lý lịch văn học, mà vì đó là nơi những năm chiến tranh ác liệt, tôi từ Hà Nội lên đường nhập ngũ, được biên chế về Sư đoàn 320B, luyện quân chuẩn bị vượt Trường Sơn vào Tây Nguyên. Đơn vị tôi đóng quân chính tại các xã Gia Tân, Gia Lâm - gió nồm thổi hun hút, nhưng ân tình thì dày và ấm lạ thường.

Làng Tùy Hối - Gia Tân - Gia Viễn là một vùng quê với tôi là ân nghĩa và đẹp nhất cuộc đời này. Mùa nắng, đất nẻ ra từng vết chân chim, mùi bùn non và rơm rạ quyện vào gió, ngai ngái mà thân thuộc đến nao lòng. Những con đường làng nhỏ, mùa khô bụi phấn trắng bám kín gấu quần, mùa mưa thì nhão nhoẹt, bước chân người đi trước còn in rõ dấu nước cho người sau lần theo.

Con người ở đây ít nói, làm nhiều. Mặt ai cũng sạm nắng, bàn tay thô ráp vì bùn đất, nhưng ánh mắt thì hiền và ấm. Làng nghèo, nhưng chưa bao giờ thiếu nghĩa tình. Những năm chiến tranh, làng gồng mình nuôi bộ đội, thóc gạo chắt chiu từng bữa, rau cỏ hái ven bờ, cá tôm bắt dưới mương. Làng lặng lẽ mà kiên cường, như đất dưới chân mình: không phô trương, không kêu gọi, chỉ âm thầm chịu đựng và dâng hiến.

Chính từ mảnh đất ấy, từ đất thấp - nước nhiều - người bền gan, đã sinh ra những con người như Lâm Xuân Vi. Đất dạy người ta biết nhẫn nại. Nước dạy người ta biết bao dung. Và làng quê ấy, bằng cách rất tự nhiên, đã nuôi dưỡng một hồn thơ lặng lẽ, bền bỉ, đi suốt đời cùng Đất và Nước.

Những ngày đầu đời lính, súng còn mới, ba lô còn nặng, lòng người thì chưa hết bỡ ngỡ, chính mảnh đất ấy đã cưu mang chúng tôi. Và cũng chính từ đó, tôi gặp thơ Lâm Xuân Vi - gặp rất tự nhiên, như gặp một người quen trong làng.

Khi ấy, ông chưa phải là “nhà thơ” theo nghĩa danh xưng. Ông là một kỹ sư thủy lợi, ngày ngày lội đồng, lo đê điều, kênh mương, chăm chút cho từng thửa ruộng. Trong khói lửa chiến tranh, ông cùng quê hương mình thực hiện một mệnh lệnh thầm lặng mà kiên cường:

Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người.

Chính cái đời sống đất - nước ấy đã thấm vào thơ ông từ rất sớm. Thơ đến như một phần máu thịt, không ồn ào, không phô trương, mà lặng lẽ, bền bỉ như dòng sông quê. Công việc của Lâm Xuân Vi gắn với ruộng đồng, đê điều, kênh mương - ngày ngày đối diện với đất và nước. Có lẽ cũng từ đó mà văn chương tìm đến ông một cách tự nhiên, không hẹn trước. Đất và nước nuôi sống con người, chở che làng mạc, giữ gìn quê hương; và trong ông, chúng dần trở thành nguồn cảm hứng âm thầm nhưng bền bỉ.

Người ta gọi một quốc gia là đất nước, không phải ngẫu nhiên. Với Lâm Xuân Vi, hai chữ ấy không trừu tượng. Nó hiện lên trong từng bờ ruộng, con sông, trong phận người lam lũ, trong tình yêu, nghĩa xóm làng, trong những được - mất của kiếp người. Cảm hứng đất nước trong thơ ông vì thế không ồn ào, mà lặng lẽ ôm trọn mọi buồn vui, nhân tình thế thái của đời sống thường ngày.

Ít người biết rằng, trước khi toàn tâm cho thơ, Lâm Xuân Vi từng say mê sân khấu. Ông viết kịch bản ngày đêm, nhiều vở được dàn dựng, đoạt huy chương trong các hội diễn. Nhưng rồi, đến một lúc, ông dừng lại, rẽ hẳn sang thơ - như thể sau bao nhiêu vòng vèo, con người ta cũng phải trở về với tiếng nói sâu kín nhất của mình.

Từ cuối những năm 1980, khi đang giữ trọng trách Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp tỉnh Ninh Bình, ông liên tiếp cho ra đời các tập thơ. Viết đều, viết bền, viết không nương tay với chính mình. Đến nay, ông đã có 10 tập thơ, một gia tài không ồn ào nhưng chắc nịch, như chính con người ông.

Ký ức người lính về nhà thơ của đất và nước
Thơ Lâm Xuân Vi là thứ thơ được bứt ra từ đời sống, từ ruộng đồng, từ phận người, từ những trăn trở rất người... - Ảnh minh họa: Tranh "Ngày mùa 2" của họa sĩ Nguyễn Văn Cường

Thơ Lâm Xuân Vi không làm dáng. Đó là thứ thơ được bứt ra từ đời sống, từ ruộng đồng, từ phận người, từ những trăn trở rất người: yêu - nhớ - mất mát - cô đơn - tuổi già - niềm tin. Có lúc là tiếng thở dài của một người đàn ông từng trải; có lúc lại là giọng thủ thỉ của một người cha, người ông; và có khi là sự trầm mặc của kẻ đã đi qua quá nhiều được - mất.

Ông từng viết:

Hồn thơ giản dị khiêm nhường

Bứt từ gan ruột máu xương từng lời...

Đó không phải là tuyên ngôn, mà là cách ông sống và viết. Với ông, thơ không phải trò chơi chữ nghĩa, càng không phải phương tiện trang trí đời sống tinh thần. Thơ là cái nghiệp, là định mệnh theo người ta đến tận cuối đời.

Tôi từng gặp nhiều nhà thơ, nhưng ở Lâm Xuân Vi có một điều khiến tôi tin cậy: sự lặng lẽ và thủy chung. Thủy chung với quê hương. Thủy chung với đất và nước. Thủy chung với những gì đã nuôi mình lớn lên.

Có lẽ cũng vì thế mà trong thơ ông, cảm hứng Đất Nước không phải là khẩu hiệu lớn, mà là những gì rất gần: một bờ đê, một con sông, một mái nhà thấp, một kiếp người cặm cụi. Đất nước, với ông, không ở đâu xa - nó nằm ngay trong từng phận người lam lũ.

Hồn thơ giản dị khiêm nhường

Bứt từ gan ruột máu xương từng lời...

Nhiều năm qua, dù đã ở tuổi "xưa nay hiếm", ông vẫn đều đặn viết, đều đặn gặp gỡ anh em văn nghệ, nói chuyện thơ, bình thơ, đi trại sáng tác. Không vội vàng, không khoa trương, như một người nông dân quen việc, đến mùa thì gieo, đến vụ thì gặt.

Với riêng tôi - một người lính từng lớn lên trên mảnh đất quê hương ông - tôi mang một tình cảm rất riêng dành cho con người và thơ ca Lâm Xuân Vi. Tôi trân trọng một đời thơ bền bỉ, tận tụy, không chạy theo thời thượng; trân trọng cả những chân dung thi ca ông viết về bè bạn, đồng đội - những người đã cùng chúng tôi đi qua một thời gió lửa.

Đọc thơ ông, tôi không chỉ gặp một nhà thơ, mà gặp lại một miền ký ức - nơi đất và nước từng chở che những người lính trẻ như chúng tôi, để rồi từ đó, thơ ra đời, lặng lẽ mà bền lâu.

Một nhà thơ của Đất và Nước - theo nghĩa giản dị và sâu xa nhất.

Và ký ức trong tôi không bao giờ quên quê hương của ông. Nhớ mãi những ngày ấy, chúng tôi đóng quân ngay trong làng. Không doanh trại kiên cố, không hàng rào, chỉ là những dãy nhà dân thấp lợp rạ, những vườn chuối, hàng tre, bờ ao. Ban ngày huấn luyện, ban đêm mắc võng ngủ nhờ hiên nhà, bếp rơm, chuồng trâu. Súng đặt đầu võng, ba lô làm gối, mùi mồ hôi người lính quyện với mùi bùn đất, khói bếp, rơm khô - một thứ mùi rất chiến tranh, rất quê, đến giờ nghĩ lại vẫn còn nguyên trong ký ức.

Nhớ bếp lửa hồng những người mẹ lặng lẽ nhóm bếp, nấu nồi khoai, nồi ngô, chia cho bộ đội từng bát nước nóng, từng củ sắn luộc còn dính đất.

Ban ngày, ruộng là thao trường. Chúng tôi bò qua bùn, qua nước, tập đánh chiếm mục tiêu giữa những thửa lúa còn non. Nhiều hôm tập xong, cả người bê bết bùn non, bà con chỉ cười hiền: "Bộ đội vất vả quá". Rồi họ lại múc nước giếng, đun nồi nước lớn cho chúng tôi rửa chân tay, giặt áo. Không ai nói nhiều, nhưng cái cách họ chăm lính như chăm con trong nhà thì không thể quên.

Có những tối mất điện, cả làng tối om. Chúng tôi ngồi quanh bếp rơm, lau súng, vá áo, nghe các cụ kể chuyện làng, chuyện lụt, chuyện đói, chuyện con em đi bộ đội chưa có tin về. Những câu chuyện không bi lụy, chỉ đều đều, như cách làng này quen sống với gian khó. Trong ánh lửa bập bùng, gương mặt ai cũng sạm lại, nhưng ánh mắt thì rất sáng.

Chính trong những ngày như thế, tôi hiểu vì sao từ mảnh đất chiêm trũng, nước nhiều, đời sống nhọc nhằn này lại có thể sinh ra những con người bền bỉ đến vậy. Đất dạy người ta biết chịu đựng. Nước dạy người ta biết thích nghi. Và làng quê ấy đã âm thầm nuôi cả người lính lẫn nhà thơ.

Đất dạy người ta biết chịu đựng. Nước dạy người ta biết thích nghi. Và làng quê ấy đã âm thầm nuôi cả người lính lẫn nhà thơ.

Sau này, khi đọc thơ Lâm Xuân Vi, tôi nhận ra rất rõ: trong thơ ông có mùi bùn non, có hơi nước ruộng đồng, có đêm mưa làng quê và cả cái lặng lẽ của những bếp rơm nuôi quân năm ấy. Thơ không cần kể chuyện chiến tranh, nhưng chiến tranh vẫn ở đó - trong nếp nghĩ, trong độ trầm của câu chữ, trong sự thủy chung với đất và người.

Với tôi, Gia Tân - Gia Viễn không chỉ là quê hương của một nhà thơ. Đó còn là nơi một người lính trẻ đã được chở che, để lớn lên, để hiểu thế nào là đất nước, và để sau này, khi đọc thơ ông, thấy như mình đang đọc lại một phần đời mình.

Rồi đến một đêm, lệnh hành quân về. Không kèn, không trống. Làng tắt đèn sớm hơn mọi ngày. Trăng mỏng như lưỡi liềm, ánh sáng đủ soi con đường làng loang nước. Chúng tôi xếp hàng dọc, ba lô đã gọn, súng khoác vai, mỗi người mang theo phần cơm nắm, muối vừng gói trong lá chuối.

Dân làng ra tiễn từ lúc nào không ai rõ. Không đông, không ồn. Mấy bà mẹ đứng nép sau hàng tre, mấy ông già chống gậy, trẻ con ngủ gục trên lưng mẹ. Không ai khóc. Chỉ có những cái nắm tay rất chặt, những bàn tay sần sùi nắm lấy bàn tay người lính còn trẻ, nóng và run.

Có bà cụ dúi vội vào tay chúng tôi củ khoai luộc còn ấm, có người tháo chiếc khăn cũ quàng thêm vào cổ lính. Chẳng ai dặn dò dài lời. Chỉ nói nhỏ: "Đi chân cứng đá mếm".

Những câu nói ngắn, nhưng theo chúng tôi suốt dọc đường hành quân.

Khi đội hình chuyển bánh, tiếng dép cao su chạm mặt đường bùn nghe rất khẽ. Làng lùi dần phía sau. Hàng tre đen lại, mái nhà thấp chìm trong sương. Có người lính quay đầu nhìn lại, rồi vội quay đi. Chúng tôi hiểu: đã rời làng là rời cả một phần đời.

Ra khỏi lũy tre, đường tối hơn. Phía trước là rừng, là núi, là Trường Sơn hun hút. Phía sau, làng quê lặng im, nhưng tôi biết, trong những căn nhà tối ấy, có nhiều người thức trắng. Họ không tiễn chúng tôi bằng lời, mà bằng niềm tin lặng lẽ - thứ hành trang vô hình nhưng nặng hơn cả ba lô trên vai.

Ký ức người lính về nhà thơ của đất và nước
Có những miền đất, người ta chỉ đi qua một lần trong đời, nhưng lại ở lại mãi trong ký ức - Ảnh minh họa: Tranh "Đồng lúa Ninh Bình" của họa sĩ Trần Năm

Nhiều năm sau, mỗi lần nhớ lại đêm hành quân ấy, tôi vẫn thấy bàn tay dân làng còn ấm trong tay mình. Và tôi hiểu: chúng tôi ra mặt trận không chỉ mang theo súng đạn, mà mang theo cả đất, nước và ân tình của một làng quê.

Sau này, tôi không còn dịp trở lại Gia Tân - Gia Viễn nữa. Con đường làng năm xưa, bờ ao, hàng tre, những mái nhà thấp nơi chúng tôi từng mắc võng ngủ nhờ... tất cả đã lùi xa theo năm tháng. Nhưng tôi biết, mình chưa bao giờ rời khỏi ngôi làng ấy. Bởi tôi đã gặp lại nó trong thơ Lâm Xuân Vi.

Trong thơ ông, làng quê hiện lên vẫn thấp thoáng bùn non, hơi nước ruộng đồng, vẫn có những phận người lặng lẽ mà bền gan, vẫn giữ nguyên cái nghĩa tình âm thầm của những năm tháng nuôi quân. Đọc thơ ông, tôi nhận ra lại con đường làng từng in dấu dép cao su, những đêm mưa nước dâng sát thềm, những bếp rơm đỏ lửa chờ bộ đội trở về. Tất cả không cần gọi tên, nhưng tôi biết rất rõ: đó chính là Gia Tân - Gia Viễn của chúng tôi ngày ấy.

Có những miền đất, người ta chỉ đi qua một lần trong đời, nhưng lại ở lại mãi trong ký ức. Với tôi, Gia Tân - Gia Viễn là một miền đất như thế. Và nhà thơ Lâm Xuân Vi, tôi được trở về nơi ấy, không phải bằng bước chân, mà bằng ký ức và ân tình, bằng một tình yêu vô cùng với mảnh đất này và với thơ của nhà thơ của đất và nước Lâm Xuân Vi.

Càng bung nở sắc hương - Thơ Nam Thanh

Càng bung nở sắc hương - Thơ Nam Thanh

Baovannghe.vn- Khi đông vui anh uống trà cùng bạn bè/ Khi buồn bã cô đơn anh uống trà một mình
Nghệ thuật và kinh doanh nghệ thuật

Nghệ thuật và kinh doanh nghệ thuật

Baovannghe.vn - Mới đây, chia sẻ của ca nhạc sĩ Em Ellata (Nguyễn Tấn Dũng) về vấn đề tài chính trong sáng tạo nghệ thuật đã khiến dư luận xôn xao.
Khai mạc triển lãm tranh, tượng “Mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026”

Khai mạc triển lãm tranh, tượng “Mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026”

Baovannghe.vn - Nhân kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026) và chào đón năm mới Bính Ngọ, ngày 11/2, tại Nhà triển lãm 16 Ngô Quyền (phường Hoàn Kiếm, Hà Nội), Hội Mỹ thuật Việt Nam khai mạc triển lãm tranh, tượng Mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026.
Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026  lan tỏa tinh thần "Quốc học"

Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026 lan tỏa tinh thần "Quốc học"

Baovannghe.vn - Lễ khai mạc Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026 đã diễn ra chiều 11/2 (tức 24 tháng Chạp năm Ất Tỵ), với chủ đề “Quốc học”, mang ý nghĩa tôn vinh truyền thống hiếu học, khuyến khích sự nghiệp mở mang trí tuệ, vun bồi nhân cách con người, đúng với truyền thống và giá trị cốt lõi của người Việt.
Lan tỏa giá trị truyền thống qua Cuộc thi thơ “Chữ Hiếu của người Việt Nam” năm 2026

Lan tỏa giá trị truyền thống qua Cuộc thi thơ “Chữ Hiếu của người Việt Nam” năm 2026

Baovannghe.vn - Vừa qua, Ban Tổ chức Lễ hội “Bách thiện hiếu vi tiên” đã chính thức phát động Cuộc thi sáng tác thơ với chủ đề “Chữ Hiếu của người Việt Nam”, một hoạt động văn hóa - nghệ thuật nhằm thắp lửa giá trị đạo Hiếu truyền thống trong đời sống hiện đại.