Nhà văn Xuân Thiều nhập ngũ năm 1947, khi mới mười lăm tuổi. Từ đó, cuộc đời ông gắn trọn với quân ngũ - từ một người lính chiến đấu nơi mặt trận, trở thành cán bộ đại đội, cán bộ chính trị, rồi nhà văn trong quân đội. Ngay cả khi được biệt phái làm Chánh Văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam, ông vẫn là một người lính đúng nghĩa.
Chiến tranh không chỉ là hoàn cảnh sống, mà là môi trường hình thành tư tưởng, nhân cách và bút pháp của Xuân Thiều. Bởi thế, không phải ngẫu nhiên khi suốt đời cầm bút, ông luôn tâm niệm:
| Với tôi, viết về chiến tranh cách mạng và người lính là một thiên chức. |
Năm 1959, từ Lữ đoàn bảo vệ giới tuyến, Xuân Thiều được điều về công tác tại Tổng cục Chính trị và tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhưng bàn giấy chưa bao giờ giữ chân được ông. Ông vẫn khoác ba lô trở lại chiến trường, đặc biệt là Bình Trị Thiên - miền đất lửa, miền đất người, cũng là “ngôi nhà lớn” của đời văn Xuân Thiều.
![]() |
| Nhà văn Xuân Thiều - Ảnh: Tư liệu |
Hầu như toàn bộ sáng tác của ông đều sinh ra từ mảnh đất này: những người lính vào sinh ra tử, những bà mẹ âm thầm tiễn con, những người em gái lặng lẽ giữa bom đạn. Những tháng ngày sống cùng chiến trường, theo lời ông, đã làm nên cốt lõi nhân văn trong sáng tác: “Hòa nhập vào đời sống người lính ở chiến trường, trái tim ta trở nên đa cảm hơn, lòng ta nhân hậu hơn, độ lượng hơn và bớt ích kỷ hơn... Tiếp xúc với đời sống chiến sĩ như được nghe một bản nhạc không lời... Hít thở được hương hoa ấy, cúi đầu bái phục vẻ đẹp người lính, ấy là nhà văn đã tự nâng mình lên.”
Bốn mươi năm cầm bút, từ truyện ngắn đầu tay Dưới hầm bí mật (1958) đến Mười ngày cho cuộc đời (1997), Xuân Thiều để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ: 2 tập thơ, 16 tập tiểu thuyết và truyện ngắn, cùng các tập tiểu luận - phê bình. Phần lớn các tác phẩm ấy đều lấy bối cảnh Bình Trị Thiên, mang đậm không khí sử thi, tinh thần ngợi ca và ý thức “ngòi bút cũng là vũ khí”.
Trong chiến tranh, với bút danh Nguyễn Thiều Nam, ông đã viết nên những truyện ngắn đầy máu lửa như Gieo mầm, Chuyện làng Ra-Pồng, Đêm hăm bảy - những dấu mốc cho bước tiến mới trong truyện ngắn cách mạng. Sau chiến tranh, Xuân Thiều vẫn tiếp tục viết về đề tài này, nhưng với một ý thức khác: đào sâu hiện thực, đối thoại với lịch sử, khám phá số phận con người.
Ông sớm nhận ra con đường tất yếu của văn học sau chiến tranh - không chỉ ca ngợi, mà phải suy nghiệm. Những tác phẩm như Gió từ miền cát, Truyền thuyết về Quán Tiên, Xin đừng gõ cửa… đã gây nhiều dư luận, mở ra cách nhìn mới. Gió từ miền cát, viết từ năm 1978 và in năm 1983, được xem như một trong những tác phẩm tạo tiền đề cho công cuộc đổi mới văn học trước năm 1986.
| Tư thiên là sự lắng đọng trải nghiệm chiến tranh của Xuân Thiều - một dấu hiệu vận động của tư duy nghệ thuật, nơi quá khứ được nhìn lại bằng chiều sâu suy tưởng. |
Trong mạch sáng tác dài hơi ấy, tiểu thuyết Tư thiên - Huế mùa mai đỏ là đỉnh cao kết tinh. Tác phẩm không chỉ tái hiện một mùa tổng tiến công chiến lược, mà quan trọng hơn, đã khắc họa “những con người tuyệt vời của mùa xuân lịch sử” (Nguyễn Văn Lưu).
Nhà phê bình Nguyễn Hữu Sơn xem Tư thiên là sự lắng đọng trải nghiệm chiến tranh của Xuân Thiều - một dấu hiệu vận động của tư duy nghệ thuật, nơi quá khứ được nhìn lại bằng chiều sâu suy tưởng. Bộ tiểu thuyết này cùng Truyền thuyết về Quán Tiên đã đem về cho ông Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1996.
Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu ghi nhận: “Nói về Huế mùa xuân 1968 - rất oai hùng và vô cùng quyết liệt - tôi lại nhớ đến nhà văn Xuân Thiều. Tôi rất xúc động về cuốn sách này...”
![]() |
| Bản thảo bộ tiểu thuyết "Tư thiên" của nhà văn Xuân Thiều - Ảnh: Bảo tàng Văn học Việt Nam |
Xuân Thiều từng thổ lộ, ông không trực tiếp tham gia chiến dịch Mậu Thân Huế, nhưng chính sự “đứng ngoài” ấy lại khiến ông khát khao đi tìm sự thật. Một năm trời lăn lộn giữa các đơn vị, gặp gỡ cán bộ chiến sĩ từng tham gia chiến dịch, ghi chép kín sổ tay - rồi để tất cả nằm im trong ký ức hơn mười năm. Chỉ đến cuối thập niên 1970, khi lịch sử được nhìn lại với nhiều khoảng cách, ông mới bắt tay viết Huế mùa mai đỏ.
Ông viết chậm. Rất chậm. Nhưng từng trang sách là một nén hương.
“Tôi coi Huế mùa mai đỏ là lời chào kỳ tích của quân dân ta, là nén hương tưởng niệm bạn bè, đồng chí, đồng đội đã hy sinh vì nghĩa lớn.”
![]() |
| Nhà văn Xuân Thiều coi "Huế mùa mai đỏ" là lời chào kỳ tích của quân dân ta... |
Hai mươi năm sau ngày ra mắt, Huế mùa mai đỏ vẫn còn dư ba trong lòng bạn đọc, được chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập, được đánh giá cao trong giới văn học, góp phần quan trọng đưa Xuân Thiều đến với Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2016.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận định:
| Càng khám phá, chúng ta càng tìm thấy những vẻ đẹp của Xuân Thiều. Những tác phẩm của ông rồi sẽ đi cùng năm tháng. |
Vâng, thật đáng trân trọng những trang sách được viết bằng cả một đời người - một đời tin rằng: Viết về chiến tranh cách mạng và người lính không chỉ là đề tài, mà là số phận.