Những năm học cấp hai của tôi không chỉ có tiếng còi báo động hay bom đạn, mà còn có sự tĩnh lặng đến lạ kỳ của xóm Thắng, xã Tân An, nơi tôi cùng bà đi sơ tán. Ở đó, tâm hồn một đứa trẻ thành phố bắt đầu biết rung động với văn chương qua sự dẫn dắt của thầy Chiến - người thầy chủ nhiệm hiền hậu và yêu văn học đến cháy bỏng.
Một buổi chiều nhạt nắng, thầy gọi riêng tôi lại, bí mật lấy từ trong cặp ra một cuốn sách cũ của Nhà xuất bản Thanh niên. Đó là tiểu thuyết Mùa hoa dẻ của nhà văn Văn Linh. Thầy ghé sát tai tôi thì thầm: "Cuốn này hay lắm, nhưng đang bị cấm đấy. Em mang về đọc thật nhanh rồi trả lại, tuyệt đối đừng để ai biết".
Đêm ấy, dưới ánh đèn dầu tù mù, tôi đã thức trắng. Thế giới của những người lính hiện ra đẹp đẽ, đầy chất thơ nhưng cũng thật mãnh liệt qua mối tình của đại đội trưởng Trần Chí Liêu và cô thôn nữ tên Hoa. Vì quá yêu và sợ phải trả sách, đêm hôm sau, tôi lại chong đèn miệt mài chép tay lại toàn bộ tác phẩm. Từng dòng chữ như ngấm vào máu thịt, nhen nhóm trong tôi một tình yêu kỳ lạ với hình ảnh người lính và nhà văn Văn Linh.
*
![]() |
| Nhà văn Văn Linh thời trẻ - Ảnh: Tư liệu |
Một ngày chủ nhật, mẹ tôi đạp xe từ Hà Nội lên thăm. Thấy tôi nâng niu cuốn sách chép tay, mẹ bỗng đứng lặng. Nhưng mẹ không trách tôi đọc "sách cấm", mà mẹ ngỡ ngàng vì cái tên: Văn Linh.
Hóa ra, mẹ và chú Văn Linh là những người đồng đội cùng thế hệ "xếp bút nghiên lên đường tòng quân". Mẹ tôi - nữ sinh trường Huỳnh Thúc Kháng năm xưa - là thành viên Đoàn văn công quân đội Bình Trị Thiên - Trung Lào, cùng các nghệ sĩ Đình Quang, Bửu Tiến, Cao Xuân Hạo, nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh... Chú Văn Linh khi ấy không chỉ cầm bút mà còn là một người lính thực thụ - từ quân tình nguyện đến Đồn trưởng Biên phòng Cha Lo. Người dân Lào yêu quý chú đặt cho chú cái tên thân thương: Thao Bun Lịn.
Ba năm sau, mười bảy tuổi, tôi nhập ngũ, trở thành người lính tình nguyện chiến đấu trên chính mảnh đất Lào mà chú và mẹ đã đi qua. Từ một chiến sĩ cao xạ, tôi được điều về Binh trạm 13 làm trợ lý tuyên huấn.
Trong một chuyến công tác tại Sầm Nưa, tôi đã có cuộc gặp gỡ định mệnh với chú Văn Linh tại Ngôi nhà sàn chơi vơi trên vách đá Phu Khe. Giữa mây trời đại ngàn, chú nhắc lại tên mẹ tôi với ánh mắt xa xăm: "Chú muốn viết một tiểu thuyết dành tặng mẹ cháu - người bạn nghệ thuật, người đồng đội năm xưa của chú". Lời hứa ấy sau này kết tinh thành tiểu thuyết Hai bờ một thung lũng và được chuyển thể thành kịch bản phim Đứa con và người lính (1986).
Nhiều năm sau, khi tôi đã định cư tại Thành phố Hồ Chí Minh, có một đêm chú Văn Linh gọi điện cho tôi, giọng nghẹn lại: "Chú vừa đi photo cuốn Hai bờ một thung lũng gửi cho cháu, vì chú chỉ còn đúng một bản. Còn bộ phim... chú không bao giờ mời cháu đi xem được nữa. Phim làm xong chỉ chiếu vài buổi rồi bị cất kho... Chú không biết bao giờ công chúng mới được thấy nó".
Có một tiếng nấc nơi đầu dây.
Đó là lời trăng trối cuối cùng. Chú ra đi, mang theo nỗi đau đáu về một đứa con tinh thần bị bụi thời gian che phủ.
Nhưng sự thật và cái đẹp thì không bao giờ bị lãng quên. Gần bốn mươi năm sau, vào đúng dịp kỷ niệm ngày 22/12 vừa qua, Viện Phim Việt Nam tổ chức đợt phim kỷ niệm 81 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đã phục dựng và công chiếu bộ phim Đứa con và người lính. Ngồi trong bóng tối của rạp hát, nhìn lại những thước phim được "rút ruột" từ tâm huyết của chú, tôi và những người cựu binh năm xưa đã không cầm được nước mắt.
![]() |
| Nhà văn Châu La Việt (bên phải) và đại tá Hoàng Anh Phúc - nguyên tiểu đoàn trưởng Pháo cao xa mặt trận Lào tại buổi chiếu phim "Đứa con và người lính" |
![]() |
| Nhà văn Châu La Việt và các khách mời tại buổi chiếu phim "Đứa con và người lính" |
"Gần bốn mươi năm rồi chú ạ", tôi thầm thì. Những giọt nước mắt lăn dài trên gò má của những người lính là minh chứng rõ nhất cho sự hồi sinh của một giá trị nhân văn cao cả. Di nguyện của chú Văn Linh đã thực sự được thực hiện.
Từ đáy lòng mình, chúng tôi chân thành cảm ơn Viện trưởng Lê Thị Hà và Viện Phim Việt Nam đã tận tâm thắp lại ngọn lửa từ đống tro tàn của thời gian. Những đóa hoa thắm chúng tôi tặng chị và họa sĩ Trần Thạch Linh (con trai chú Văn Linh), chính là niềm hàm ơn thơm ngát của những người lính chúng tôi gửi đến Viện Phim Việt Nam và đến "Thao Bun Lịn" - chú Văn Linh yêu quý của tôi, người lính, người nghệ sĩ tài hoa đã dành trọn đời mình để viết nên khúc tráng ca về tình hữu nghị và nhân bản.
Tôi viết những dòng này bằng bàn tay vẫn còn run rẩy vì xúc động, như một lời cảm tạ chân thành nhất từ trái tim của một người lính.