![]() |
| Ông Nguyễn Bá Sạch ( bên trái ) kể về những địa danh làng Việt Plei ku xưa. Ảnh: Ngọc Tấn |
Ông Nguyễn Bá Sạch năm nay ngót tuổi bát tuần, vẫn tự hào rằng mình là “cư dân gộc” của làng Tiên Sơn xưa, bởi cha ông, cụ Nguyễn Sanh, là một trong những người đầu tiên theo ông Nguyễn Quỹ lên khai phá đất đai, lập ra làng Tiên Sơn năm 1898 - sớm nhất trong các làng Việt ở Bắc Tây Nguyên. Như vậy nếu vùng đất phía Đông từ thế kỉ XVII đã có người Việt đến lập nghiệp thì phía Bắc Tây Nguyên muộn hơn khoảng gần 200 năm...
Ông Nguyễn Quỹ quê ở Tây Sơn (Bình Định). Ông nội Nguyễn Quỹ, vì tham gia phong trào Tây Sơn nên con cháu bị nhà Nguyễn truy bức. Đến đời ông, dù đã cải sang Thiên chúa giáo để tránh họa nhưng vẫn bị o ép. Bực chí, ông dẫn đứa con gái bị tật bỏ làng đi tìm đất sống... Bấy giờ các làng người Jrai vùng này đang xảy ra nạn dịch, cho là bị Yang phạt, họ sợ hãi bỏ đất đai, nhà cửa ra đi. Thấy thế đất “hậu sơn tiền thủy” quá đẹp, ông Quỹ bỏ ra 20 đồng bạc trắng mua lại chủ làng rồi nhờ cố Hiển (tức Linh mục Corompt) dẫn ra Pleiku gặp Công sứ Pháp xin lập làng. Viên Công sứ ra điều kiện nếu có đủ 12 hộ trở lên thì cho phép. Ông Quỹ quay về quê mộ được 15 hộ dẫn lên. Làng Tiên Sơn ra đời từ đó...
“Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá” - câu ca của cha ông đúc kết ấy đủ nói lên sự vất vả, cơ cực của công việc khẩn hoang. Ông Sạch kể: Cha tôi ngày còn tại thế thường vẽ nên trong tâm trí chúng tôi hình ảnh làng quê thời là xứ “ma thiêng nước độc” ấy. Bấy giờ xung quanh làng đều là rừng già vây bủa. Cọp nhiều lắm, cứ đi sâu vào rừng một chút là gặp cọp. Mặt trời vừa khuất núi là nhà nhà đóng chặt cửa, không ai dám một mình đi ra khỏi làng. Ngày đi làm ruộng hay muốn qua làng, đồng bào dân tộc có việc, cây đao ngắn bao giờ cũng phải giắt sẵn sau lưng. Chuồng trâu bò phải đóng gióng thật chắc, quây xung quanh bằng hàng rào kiên cố. Mỗi quãng lại gắn một chiếc mõ, nối dây vào trong nhà để cọp đến thì giật. Ngoài ra nhà nào cũng phải có một chiếc mõ, nếu có động thì gióng lên theo hiệu lệnh đã thống nhất để làng đến ứng cứu… Đất đai tốt nên không ai đói nhưng cuộc sống vẫn cơ cực vì đường sá không có; thóc lúa, trâu bò làm ra phải trao đổi với giá rẻ mạt. Ốm đau thì chỉ biết chữa bằng thuốc Nam. Nói “thuốc Nam”, thực ra chỉ là chỉ vài cây thuốc chữa đau bụng, cảm sốt, mang từ quê lên trồng trong vườn nhà. Sau này thực dân Pháp có lập một nhà thương ở Pleiku nhưng dân không ai dám ra, phần vì sợ Tây, phần vì sợ cọp... Cuộc sống càng khó khăn khi năm 1946 thực dân Pháp tái chiếm Pleiku. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, dân làng bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn, dắt díu nhau tản cư về Bình Định. Sau ngày đình chiến trở lại thì làng tản mác, lạc nhau mỗi người một ngả. Người tìm về được thì ruộng vườn cỏ dại mọc ngút ngàn, cọp về rình trước ngõ. Tài sản không còn gì. Để kiếm sống, dân làng phải dựa vào việc buôn bán với các làng đồng bào dân tộc, đắp đổi qua ngày. Năm 1965 Mỹ đổ quân vào miền Nam, chiến tranh bắt đầu ác liệt. Để tránh sự khủng bố, kìm kẹp của địch, dân các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi tìm lên, làng xóm đông đúc dần, tuy nhiên cuộc sống gian khó thì vẫn tiếp diễn. Trừ những gia đình lên trước có ruộng đất, phần lớn bà con sống dựa vào việc làm thuê hoặc buôn bán, đổi chác với các làng đồng bào dân tộc. Sau giải phóng, cuộc sống có khá hơn nhưng thực sự đổi thay thật sự thì phải đến quãng 1993 - 1994 khi cây cà phê và các loại cây dài ngày khác cắm rễ trên mảnh đất này…
![]() |
| Vùng đất Tiên Sơn (xã Tân Sơn, TP. Pleiku). Ảnh: HÙNG HOA LƯ |
Ở những góc độ khác nhau, 5 làng Việt phía Đông là Phú Thọ, Nguyên Lợi, Quảng Định, An Mỹ và Trà Nhá cũng đã trải qua một chương vỡ đất thấm mồ hôi và cả máu như vậy. Ông Đoàn Thế Nghè năm nay sắp vào tuổi bát tuần, một trong số ít người còn biết rõ lai lịch của làng Quảng Định xưa kể rằng: Vào quãng năm 1920, hai ông Chánh Gõ và Nguyễn Mai Luật cùng 12 hộ đã đến vùng đất này vỡ đất. Họ ghép quê của hai ông (Quảng Ngãi và Bình Định) làm tên làng. Do hầu hết là dân nghèo từ quê lên, họ phải bắt đầu cuộc sống mới vô cùng gian nan, cơ cực. Bấy giờ vùng đất này hãy còn những cánh rừng già xen đầm lầy, lau sậy ngút ngàn. Nghe thoảng hơi người, thú dữ kéo về rình rập. Đất nhiễm phèn nặng, mỗi năm chỉ làm được một vụ lúa co. Đấy là giống lúa thân cao gần mét, chịu được phèn, cơm ngon nhưng năng suất chỉ vào khoảng 2-3 tạ/ha. Đất mới, xung quanh là rừng thiêng nước độc, bệnh tật - nhất là sốt rét trỗi lên hoành hành. Những con người quần áo rách rưới, bụng ỏng đít teo, da tái xanh vì sốt rét đi đâu cũng gặp. Ngày đánh vật với ruộng đồng, tối về chỉ “ba xoa, hai đập” là chui vào ổ rơm ngủ… Năm 1946 kháng chiến toàn quốc bùng nổ, lo sợ dân theo Việt Minh, thực dân Pháp gom hết các làng về Pleiku quản chế. Năm 1954 dân mới được trở về làng cũ. Làng xóm đông đúc dần khi năm 1957 dân các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi tránh sự bố ráp, kìm kẹp của chính quyền Mỹ - Diệm di cư lên. Tuy vậy thì cuộc sống vẫn cơ cực, nhất là lớp cư dân đến sau. Để kiếm sống, họ hoặc là buôn bán, đổi chác vật dụng với các làng đồng bào dân tộc, hoặc là làm thuê cho địa chủ. Địa chủ cho những người đến sau mướn ruộng theo kiểu “phát canh thu tô” nên họ may lắm cũng chỉ đủ gạo ăn. Năm 1970 chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trưng khẩu hiệu “người cày có ruộng”, chủ trương mua lại ruộng đất của những người nhiều đất cấp cho dân. Tuy nhiên thực tế chỉ là trò chính trị, bởi vẫn có hơn một nửa dân An Phú không có ruộng… Sau năm 1975, chính quyền Cách mạng vận động hiến đất, thành lập hợp tác xã đảm bảo cho mọi nhà đều có ruộng. Tuy nhiên, do những bất cập trong cơ chế, đời sống của hầu hết người dân vẫn khó khăn. Và cũng như với mọi miền đất nước, cuộc sống chỉ thật sự sáng lên khi công cuộc đổi mới bắt đầu…
Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc vốn đã là truyền thống của người Việt từ buổi bình minh dựng nước. Đến khai phá vùng đất mới, mặc dù thực dân Pháp ra sức chia rẽ Kinh - Thượng nhằm thực hiện mưu mô thâm độc “chia để trị” nhưng chúng không thể lay chuyển được truyền thống đã ăn sâu trong huyết quản của dân ta. Ông Nguyễn Bá Sạch kể: Ngay từ khi đến vùng đất mới, mặc dù còn lạ lẫm nhưng người Kinh với đồng bào dân tộc 5 làng xung quanh đã sống rất đoàn kết, không phân biệt Kinh - Thượng, người có đạo và người không theo đạo. Trong các làng có lễ hội gì, chúng tôi vẫn đến tham gia tự nhiên. Đặc biệt đồng bào các làng đã giúp đỡ người Kinh rất nhiều trong việc trao đổi, mua bán hàng hóa, đất đai. Năm 1946 chạy giặc trở về, làng xóm hoang tàn, tài sản mất sạch, bà con các làng đã mang gạo, muối ra cho. Cuộc sống hồi phục, một phần cũng là nhờ sự giúp đỡ đó. Bởi tình thân như thế nên làng đồng bào dân tộc nào quanh đây cũng đều có người kết nghĩa cha mẹ, anh em với người Kinh...
*
Chịu sự chia rẽ, kì thị; ách áp bức, kìm kẹp của chế độ thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ, những năm 1940 các làng Việt ở Bắc Cao nguyên đã nhen nhóm phong trào Cách mạng. Từ đây cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, làng Việt luôn là những ngôi làng Cách mạng trung kiên qua suốt những chặng đường chiến tranh ác liệt nhất. Trong pho sử của những danh xưng “Làng Cách mạng”, “Gia đình Cách mạng” ấy, tôi muốn kể về hai con người đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu đậm khó quên.
Người đầu tiên tôi muốn kể là ông Trần Xi.
Lịch sử Đảng bộ Gia Lai, lịch sử Đảng bộ Thành phố Pleiku đều viết về ông. Và dù thời gian đã lùi xa hơn 70 năm, các vị cao niên ở Tiên Sơn vẫn nhớ ông với những câu chuyện được truyền tụng về một chiến sĩ Cách mạng kiên trung và vợ - bà Nguyễn Thị Khánh, một biểu tượng của tình yêu chung thủy, sắt son…
Trần Xi xuất thân trong một gia đình Công giáo nghèo ở Tiên Sơn nhưng có học qua trường dòng, giữ chức câu biện trong họ đạo. Nhờ tiếp xúc với các ông Nguyễn Bá Hòe, Nguyễn Duy Triêm ở đồn điền chè Biển Hồ, Trần Xi được giác ngộ, trở thành người Công giáo đầu tiên tham gia Cách mạng ở Gia Lai. Ông Sạch kể: Tôi tuy bấy giờ còn nhỏ nhưng đã biết bác tôi, ông Nguyễn Xay tham gia Cách mạng rồi gia nhập Vệ quốc đoàn chính là nhờ sự giác ngộ của ông Trần Xi. Cách mạng tháng Tám thành công, Trần Xi trở thành vị chủ tịch đầu tiên của xã Tiên Sơn. Thực dân Pháp trở lại tái chiếm Pleiku, ông rút vào hoạt động bí mật, xây dựng cơ sở kháng chiến. Mặc dù biết rất rõ và nhiều lần tổ chức bố ráp nhưng Pháp không thể nào bắt được ông. Trần Xi hóa trang rất tài tình. Mỗi lần đi hoạt động, ông lấy bồ hóng trộn đất bôi lên khắp người; đóng khố, đi chân đất, miệng ngậm tẩu thuốc, lưng giắt con dao. Trong bộ dạng một người Jrai “đặc sệt” như thế, nhiều lần ông ung dung đi qua trước mặt bọn lính Pháp đang lùng sục mà chúng không hay biết. Ông thoát khỏi sự truy lùng của địch tài tình đến mức dân đồn nhau là ông có phép tàng hình, làm mờ mắt lính Pháp nên chúng không thể nào bắt được. Năm 1954 Trần Xi tập kết ra Bắc, để lại người vợ - Nguyễn Thị Khánh lúc này mới gần 30 tuổi, chưa có con.
Năm 1996 tôi đã có dịp gặp bà Khánh. Bấy giờ bà đang sống trong một căn nhà nhỏ ở đường Nguyễn Du, Pleiku. Trong câu chuyện nhiều lần ngắt quãng bởi dòng nước mắt, bà đã kể cho tôi nghe nỗi chờ mong đằng đẵng người chồng yêu quý suốt một cuộc đời. Khi ông Xi đi tập kết, bà cũng như nhiều người vẫn tin rằng chỉ sau hai năm rồi đất nước sẽ thống nhất, chồng sẽ về sum họp. Nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm đã phản bội Hiệp định Genève, chia cắt đất nước. Những gia đình có người thân đi tập kết như bà buộc phải “tố Cộng”, thậm chí còn bị cưỡng bức lấy người “Quốc gia”. Để tránh sự o ép của địch, bà bỏ làng ra Pleiku buôn bán, đắp đổi qua ngày. Dù không nhận được chút tin tức gì về chồng, bà vẫn một niềm thủy chung chờ đợi, tin chắc sẽ có ngày đất nước thống nhất, chồng bà sẽ trở về. Nhưng rồi ông mãi không về. Bà đã ra đi với một mối tình chung thủy, không gợn chút bụi trần gian…
Ở An Phú nói đến bà Võ Thị Huệ (Chiến) thì ai cũng biết. Suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, bà là cơ sở Cách mạng trung kiên nhất ở xã này. Tuy nhiên, điều khiến người ta phải biết đến nhiều hơn là người phụ nữ này đã dám chấp nhận mọi sự hi sinh, mọi đắng cay của cuộc đời vì lí tưởng Cách mạng…
Cách mạng tháng Tám nổ ra lúc cô thôn nữ Võ Thị Huệ vừa tròn 16 tuổi. Vùng quê nghèo Cát Hanh (Phù Cát, Bình Định cũ) của cô bao năm cam chịu ách áp bức của chính quyền thực dân, bỗng vỡ òa với bao ngôn từ mới lạ: Cách mạng, Việt Minh, cướp chính quyền... Sau những bỡ ngỡ ban đầu, Võ Thị Huệ cuốn mình vào phong trào Cách mạng lúc nào không hay. Giữa những ngày sôi nổi đó, cô đã gặp rồi nên duyên với Diệp Thỏa, một chiến sĩ Vệ quốc đoàn… Kháng chiến chống Pháp kết thúc, Diệp Thỏa đi tập kết, để lại cho Huệ đứa con trai chưa đầy tuổi là anh Võ Thế Công bây giờ...
Những năm 1955 - 1957 vòm trời miền Nam ngỡ chỉ một màu mây đen vần vũ. Từ phố huyện đến thôn quê, đâu đâu cũng ngột ngạt vì những chiến dịch “tố Cộng” liên miên của Mỹ - Diệm. Cát Hanh, vùng đất Cách mạng lại càng bị chúng siết bóp dữ dội hơn. Dù vậy thì sự đàn áp khốc liệt của chúng vẫn không thể dập tắt được ý chí Cách mạng và niềm tin thống nhất của những người như Võ Thị Huệ. Cô vẫn bí mật tiếp tế lương thực, cung cấp tin tức cho những cán bộ “nằm vùng”. Để đánh lạc hướng tâm điểm theo dõi của chúng, Võ Thị Huệ phao tin mình chửa hoang và lấy họ mình khai sinh cho con. Dù vậy thì cũng không qua được cặp mắt cú vọ của bọn chỉ điểm. Cô bị bắt và tra tấn dã man... Ra tù, thấy sự siết bóp địch với mình càng chặt, để tiếp tục hoạt động và bảo vệ giọt máu của chồng, sau rất nhiều dằn vặt, cô quyết định lấy Nguyễn Tục, một người lính “Địa phương quân”. Tuy nhiên thì dù chồng có là “lính Quốc gia”, nhất cứ nhất động của cô vẫn bị bọn mật vụ bám riết. Thấy cứ trụ lại ở quê thì khó lòng tiếp tục hoạt động, được tổ chức móc nối, năm 1970 Võ Thị Huệ quyết định đưa con lên An Phú...
Nằm giữa Quốc lộ 19, kế ngay đầu thị xã Pleiku (Gia Lai) An Phú bị địch kìm kẹp, đàn áp khốc liệt. Cơ sở Cách mạng tại chỗ tan rã hết. Để kiếm sống và có nguồn tiếp tế cho Cách mạng, Võ Thị Huệ chọn nghề đi “buôn Thượng”. “Buôn Thượng tức là mang hàng từ thị xã vào các làng đồng bào dân tộc trao đổi. Tưởng đã che được mắt địch và cắt được “cái đuôi” người chồng bất đắc dĩ, nào ngờ chỉ một thời gian địch đã dò biết được. Chúng điều ông Tục lên An Phú với cái cớ để “sum họp gia đình” mà thực ra là để theo dõi, giám sát mọi việc làm của bà...
- Đây thực sự là quãng thời gian thấm đẫm nước mắt của má tôi - anh Công kể. Công bằng mà nói, ông Tục không phải là thành phần “chống Cộng” đến mức ác ôn nhưng ông tin vào “Lý tưởng Quốc gia”. Vả chăng đã ăn đồng lương của địch, vợ lại là thành phần “Việt cộng ngoan cố” nằm trong sổ đen, ông sao không thể không làm theo lệnh chúng. Thế nên tiếng là vợ chồng và có với nhau tới ba mặt con, hai người vẫn là hai chiến tuyến không thể dung hòa. Ông Tục thì khăng khăng yêu cầu má tôi phải từ bỏ niềm tin hão huyền Cách mạng sẽ thắng; chấm dứt ngay việc ngấm ngầm tiếp tế cho Cách mạng. Còn má tôi thì yêu cầu ông Tục tỉnh ngộ, chấm dứt ngay việc kìm kẹp, đàn áp đồng bào. Người nào cũng dùng lí lẽ của mình để mong cảm hóa người kia, vậy là xung đột xảy ra luôn. Gần như không ngày nào mà má tôi và ông Tục không cãi lộn; còn xô xát thì mỗi tháng ít ra cũng cả chục lần. Tôi và ba đứa em cùng mẹ khác cha như sống trong ngôi nhà địa ngục. Ngay cả trong bữa ăn chúng tôi cũng không được yên vì hai người cãi vã. Thậm chí không ít lần phải nuốt nước mắt bỏ bữa vì chén bát, nồi niêu bay hết ra sân... Thấy khó lòng bắt má tôi từ bỏ con đường của mình, ông Tục o bế ráo riết để mong vô hiệu hóa má tôi. Nhưng dù “địch” làm dữ, dù nhất cử nhất động bị mật báo, không gì có thể làm má tôi chùn bước. Có những thời điểm bị ông Tục làm gắt, má tôi phải giả điên, cởi cả quần áo đi lang thang để đánh lạc hướng. Dù vậy thì cũng không qua được mắt ông Tục. Việc má tôi giả điên còn bị ông ta mật báo. Vậy là năm 1972 má tôi lại bị địch bắt, đưa lên giam ở nhà lao Pleiku. Bị giam cầm, tra tấn dã man suốt một năm ròng, ra tù bà bị ảnh hưởng thần kinh nặng. Đến đây thấy sự cảm hóa của mình đã vô vọng, má tôi đề nghị tổ chức bắt ông Tục đưa ra rừng giáo dục. Sau đận này, sự mẫn cán của ông Tục có bớt nhưng vẫn cầm súng, vẫn nhận tiền của địch, ông đâu thể làm ngơ được hoạt động của bà. Thấy vậy tổ chức đành đưa má con tôi ra căn cứ.
Ngày giải phóng, má tôi như được sinh lại lần thứ hai. Thế nhưng niềm vui chẳng bao lâu đã dần nguội tắt bởi trong ngôi nhà chúng tôi, “hai chiến tuyến” vẫn hiện hữu từng ngày. Ông Tục và má tôi giờ như hai chiếc bóng. Chỉ những lúc thật cần thiết hai người mới trao đổi vài tiếng cụt lủn. Ngay cả trong bữa ăn hai người cũng cố tránh nhìn mặt nhau... Cho đến một hôm dường như quá sức chịu đựng, má tôi nói với ông Tục:
- Tôi với ông chịu đựng nhau đã quá lâu rồi. Đất nước giờ đã hòa bình thống nhất, để xóa đi tâm lí người thắng kẻ thua, xóa đi sự mặc cảm về những gì ông đã đối xử với tôi, liều thuốc hiệu nghiệm nhất là chúng ta hãy li thân
Lời má tôi như cởi lòng cho ông Tục. Ông làm nhà ở riêng và đề nghị được nuôi 3 đứa con chung với má tôi bởi lúc này sức khỏe bả đã yếu...
Một buổi chiều đâu khoảng năm 1995, có một người đàn ông cao gầy, tóc bạc trắng tìm đến nhà má con tôi. Má tôi nhìn ông trân trối, nửa tin nửa ngờ. Mãi đến khi ông thốt lên “Anh là Diệp Thỏa đây!” thì như có luồng điện chạm vào, má tôi lao đến ôm chầm lấy ông. Từng dòng nước mắt buồn tủi, đắng cay lăn dài trên đôi má hóp. Một lúc thật lâu, má tôi mới thốt lên nghẹn ngào: “Sao bây giờ anh mới chịu về?”
Diệp Thỏa - cha tôi đó, ngày ông đi tập kết tôi mới đầy tuổi, bây giờ đã là một ông già cao tuổi. Tiếng “ba” tôi gọi phải lâu lâu mới hết ngượng... Ông kể: Tập kết ra Bắc được một thời gian thì có phong trào đi B, ông xin trở về quê chiến đấu để mong có dịp gặp má tôi. Tuy nhiên vì sức khỏe yếu, ông bị loại, đành phải chuyển sang làm công nhân. Thấy chiến tranh chưa biết bao giờ mới kết thúc, ông đành lấy vợ và đã có 3 con. Cứ nghĩ má tôi chắc đã bị địch giết hại, ông lần khân mấy lần mới quyết định đi một chuyến cầu may...
Má tôi làm một bữa liên hoan mời cả xóm đến chia sẻ niềm vui sum họp. Mời mấy lần ông Tục mới chịu đến. Ông nhìn cha tôi với ánh mắt rụt rè pha chút sợ hãi. Hiểu được tâm trạng của ông, cha tôi chủ động cầm tay ông nói như an ủi:
- Đừng mặc cảm nữa anh Tục. Mọi chuyện giờ đã qua rồi. Tình cảnh của chúng ta chung quy cũng do bọn đế quốc xâm lược mà ra cả thôi!
Ông Tục siết chặt tay cha tôi, đôi mắt sáng lên vẻ biết ơn...
Cũng như ông Trần Xi, bà Võ Thị Huệ được Lịch sử Đảng bộ Pleiku dành cho những dòng trang trọng. Giờ thì tên tuổi của bà cùng bao lớp người từng đổ mồ hôi và máu trên đất này đã hóa trầm tích để có hôm nay những xóm làng trù phú, yên bình… Cầm trên tay chiếc lá của cây bàng trăm tuổi trồng trước đình An Mỹ, tôi như nghe tiếng vọng của núi nước, tiếng hồn người xưa bất khuất vọng về…